Trong các vũ khúc cung đình còn lại đời Nguyễn, điệu múa cung đình “Bát tiên hiến thọ” thuộc thể loại múa chúc tụng, thường được múa vào những ngày lễ vạn thọ, thánh thọ, tiên thọ.
Đạo diễn La Thanh Hùng (con trai cố nghệ nhân La Cháu, nghệ nhân tuồng cung đình cuối cùng của triều Nguyễn) cho rằng, điệu múa cung đình “Bát tiên hiến thọ” được các nghệ nhân cung đình lấy tích truyện từ Trung Quốc để xây dựng thành điệu múa phù hợp với văn hóa Việt Nam và tám vị tiên trong điệu múa xuất hiện nghĩa là họ đem điềm lành đến cho đối tượng thưởng thức.
Theo các nghệ nhân từng được học và trình diễn điệu múa này, các nhân vật trong điệu múa cung đình “Bát tiên hiến thọ” được quy định xuất hiện theo tám hướng khác nhau, đó là các nhân vật: Hán Chung Ly xuất hiện từ hướng Đông; Trương Quả Lão xuất hiện từ hướng Bắc; Lữ Đồng Tân xuất hiện từ hướng Tây Bắc; Tào Quốc Cữu xuất hiện từ hướng Đông Bắc; Lý Thiết Quày xuất hiện từ hướng Nam; Hàn Tương Tử xuất hiện từ hướng Đông Nam; Lam Thái Hòa xuất hiện từ hướng Tây và Hà Tiên Cô xuất hiện từ hướng Tây Nam.
Khi xuất hiện, các vị tiên thể hiện thông qua hai bài hát “bạch” (mỗi bài có 4 câu, mỗi câu có 2 vế) với nội dung giới thiệu về nơi chốn họ đang tu luyện. Sau đó, mới nói đến lời chúc. Và khi trình diễn điệu múa cung đình “Bát tiên hiến thọ”, các nghệ nhân múa bằng cách kết hợp vũ đạo cũng như cách sắp xếp đội hình chính theo các tuyến hàng ngang, vòng cung. Tất cả đều hướng về đối tượng thưởng thức (nhà vua) để nhằm chuyển tải nội dung cần thể hiện (chúc tụng).
Trong điệu múa cung đình “Bát tiên hiến thọ”, ngôn ngữ thể hiện là ca từ đi kèm với bộ điệu được diễn viên chuyển tải đến người xem bằng cách vừa múa, vừa hát nhưng so với các điệu múa cung đình khác nó vẫn mang một nét chung, bởi trình thức của nó cũng áp đặt từ chính thực tế cuộc sống của các ông hoàng, bà chúa trong chốn cung đình.
Trong điệu múa cung đình “Bát tiên hiến thọ”, diễn viên sử dụng nhuần nhuyễn vũ đạo tuồng, như: bộ khai, bộ lĩa, bộ khán, bộ chao, bộ ký, bộ cầu, xoan, xỏ, vuốt râu, gói râu… kết hợp với sự di chuyển đội hình theo các tuyến, ngang, dọc, xéo… đã làm nên nét đặc trưng. Ngoài ra, để điệu múa cung đình này đạt đến độ tinh tế của nghệ thuật, các nghệ nhân cung đình đã sử dụng âm nhạc múa được nhào nặn dựa trên cơ sở các bài bản nhã nhạc, các bài bản tán, tụng của Phật giáo và một số bài bản, làn điệu của tuồng cung đình triều Nguyễn. Đây là một sự tinh tế, tài tình của các bậc tiền nhân khi chọn lọc các bài bản âm nhạc trong hàng trăm bài bản âm nhạc có yếu tố “nghi lễ và chúc tụng” để làm thước đo “xúc cảm” trong sáng tạo. Chính những đặc điểm này nên điệu múa cung đình “Bát tiên hiến thọ” cũng có một trình thức thể hiện phù hợp với nội dung của nó.
Sau một thời gian dài nghiên cứu, phân tích, điền dã để thu thập cứ liệu lịch sử… những người làm nghiên cứu ở Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế đã hoàn thành việc lập hồ sơ khoa học về điệu múa cung đình “Bát tiên hiến thọ” với đầy đủ thông tin về âm nhạc, ca từ, vũ đạo, trang phục… và nguồn gốc xuất xứ điệu múa. Tuy nhiên, vấn đề phục hồi và phát huy điệu múa này vẫn còn là một chặng đường gian nan, đòi hỏi những người làm công tác chuyên môn phải có tâm và có tầm đối với loại hình nghệ thuật này.
Nguồn: Trọng Bình - TTH
PHAN THANH HẢI
Bình phong là một công trình không thể tách rời với các kiến trúc truyền thống ở Huế. Dù xuất hiện ở nhiều nơi như phủ đệ, am miếu, đình làng, nhà ở… nhưng bình phong trong kiến trúc cung đình vẫn đặc sắc, cầu kỳ hơn hẳn.
MAI KHẮC ỨNG
Trong khung cảnh một công viên rất mơ và rất thơ bởi những bàn tay của những con người Việt Nam đầu thế kỷ XIX làm nên hồ, suối, núi, đồi, hoa, trái, lầu, tạ, đình, quán... Và, trong một khoảng không gian có giới hạn được tạo nhập rất tự nhiên vào cõi vô cùng, lăng của hoàng đế Minh Mạng quả là một khoảng trời thơ.
NGUYỄN PHƯỚC QUÝ KHANH
Musée Khải Định (nay là Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế) được thành lập vào năm 1923 dưới thời vua Khải Định với nhiệm vụ “tập hợp các tác phẩm nghệ thuật biểu hiện đời sống xã hội, nghi lễ và chính trị của nước Đại Nam”1.
NGUYỄN KHOA ĐIỀM
Chữ di sản ở đây xin đọc với nghĩa rộng, bao gồm di sản vật thể, phi vật thể, thiên nhiên, tôn giáo tín ngưỡng… Di sản luôn hiện lên với vẻ ngoài dễ xác định, cho dù có bị hư hoại đi nhiều qua thời gian.
PHAN THANH HẢI
THƠM QUANG - NGUYỄN DUYÊN
NGUYỄN THẾ
Bút ký dự thi
Trước năm 1975, tôi học ở Trường Quốc Học Huế. Khi chuyển từ lớp đệ tứ (đệ nhất cấp) lên lớp đệ tam (đệ nhị cấp), tôi đăng ký vào học ban C (phân ban văn chương và ngoại ngữ).
PHẠM XUÂN PHỤNG
Bút ký dự thi
Huyện Phú Vang có tên chính thức từ sau năm 1558, thời điểm Chúa Tiên - Đoan Quốc công Nguyễn Hoàng vào trấn nhậm Thuận Hóa.
NGUYỄN PHƯỚC HẢI TRUNG
Sống giao thời giữa hai thế kỷ, từ sáng tác thơ ca bằng chữ Hán chuyển sang chữ Quốc ngữ, thi ca của Á Nam Trần Tuấn Khải thuộc một hệ hình thẩm mỹ đặc biệt, có phần “lưu luyến” với trường thẩm mỹ cổ điển, lại có phần bắt nhịp với hơi thở của những không gian thẩm mỹ mới.
VĨNH PHÚC
Hát Ả đào, còn gọi là Ca trù, dùng để chỉ một lối hát cổ truyền của người Việt. Theo các thư tịch thì khái niệm hát Ả đào sớm nhất so với các khái niệm ca trù, nhà trò, cô đầu,...
LÊ VĂN THUYÊN
Trường Quốc Học Huế (QH Huế) là một trong những trường trung học ra đời sớm nhất ở Việt Nam, chỉ sau Collège Chasseloup-Laubat thành lập năm 1877 (nay là trường trung học Lê Quý Đôn, TP HCM) và Collège de My Tho thành lập năm 1879 (nay là trường trung học Nguyễn Đình Chiểu, TP Mỹ Tho).
TRẦN VĂN DŨNG
Trong dòng chảy lịch sử, Ca Huế đã tiếp thu, kế thừa và ảnh hưởng nhiều sắc thái, tinh hoa của nhiều vùng miền để trở thành một loại hình âm nhạc truyền thống độc đáo của Việt Nam.
VŨ HÙNG
Hiện nay, tại nhà thờ tộc Chế làng Vân Thê, xã Thủy Thanh, thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế, lưu giữ một thanh đá dài khoảng 1,2 m, khá vuông, mỗi cạnh khoảng trên 20 cm, trong đó có một cạnh khắc kín chữ còn khá rõ nét.
THƠM QUANG
Xưa kia các vị hoàng đế thường chỉ sống trong kinh thành, thỉnh thoảng mới đi tuần thú địa phương, còn việc công du thăm nước ngoài là chuyện hiếm. Vậy mà cuối triều Nguyễn vua Khải Định đã thực hiện được điều này; sự kiện được ghi chép một cách khá rõ trong khối Mộc bản triều Nguyễn - Di sản tư liệu thế giới.