Những người đàn ông Nhật vô hình

16:21 15/05/2009
GRAHAM GREENE (Anh)Có tám người đàn ông Nhật đang ăn bữa tối ở nhà hàng cá nổi tiếng Bentley's. Họ chỉ trao đổi với nhau dăm ba câu bằng thứ tiếng mẹ đẻ khó hiểu của họ, nhưng luôn có nụ cười nhã nhặn và thường mỗi câu lại kèm một cử chỉ cúi đầu lịch thiệp. Tất cả tám người, trừ có một, đều đeo kính. Thỉnh thoảng cô gái xinh đẹp ngồi phía cửa sổ lại đưa một cái nhìn lướt qua họ, nhưng xem ra chuyện của cô ta quá quan trọng, khiến cô ta không thể thực sự chú ý tới bất kỳ ai trên đời ngoài chính mình và người ngồi cùng bàn.

Cô ta có mái tóc vàng óng mỏng mảnh, và gương mặt xinh xắn nhỏ nhắn như kiểu thiếu nữ thời đầu thế kỷ 19, nét trái xoan trông như một bức tiểu hoạ, mặc dầu cô ta có kiểu nói rất cứng - có lẽ đó là lối ăn nói của một trường nữ sinh tư thục danh tiếng ở Luân Đôn, Roedean hay Cheltenham gì, mà có lẽ cô ta cũng vừa mới ra trường chưa lâu. Cô ta đeo chiếc nhẫn nam có phù hiệu trên ngón nhẫn, và khi tôi ngồi xuống ở bàn của mình, cách bàn cô ta bởi bàn của mấy người đàn ông Nhật, cô ta nói: "Anh thấy chưa, thế là chúng mình có thể kết hôn vào tuần tới"
"Thế à?"

Người ngồi cùng bàn với cô ta trông có vẻ chán nản thế nào. Anh ta tiếp thêm rượu Chablis(1) vào ly của hai người, và nói, "Dĩ nhiên rồi, nhưng mà mẹ..." Tôi không nghe được hết toàn bộ câu chuyện giữa hai người, vì người đàn ông Nhật lớn tuổi nhất đang vươn người sang đầu kia bàn, với một nụ cười và một cái cúi đầu, và phát ra một tràng gì nghe không rõ, trong khi những người đàn ông khác dướn người về phía ông ta, mỉm cười lắng nghe, và tôi cũng không thể không chú ý tới ông ta.

Vị hôn phu của cô gái trông rất giống cô ta. Tôi hình dung họ có thể là hai bức tiểu hoạ treo bên nhau trên những tấm gỗ trắng. Anh ta có thể là một sĩ quan trẻ trong hạm đội Hải quân của tướng Nelson(2) trong thời kỳ mà một chút nhạy cảm và yếu đuối nào đó không hề ngăn trở sự thăng tiến trong quân ngũ.
Cô ta nói, "Họ sẽ ứng trước cho em năm trăm bảng, và họ đã bán được quyền xuất bản ấn bản bìa mỏng rồi". Câu công bố có tính kinh tế khô khan khiến tôi bị bất ngờ; và càng bất ngờ hơn là cô ta ở trong cùng nghề với tôi. Cô ta trông không quá hai mươi. Cô ta xứng đáng được hưởng một cuộc sống tốt đẹp hơn.
Anh ta nói, "Nhưng chú của anh..."
"Anh cũng biết là anh không hợp với chú ấy. Như thế này mình sẽ được độc lập"
"Độc lập cho chính em đấy", anh ta nói hơi gằn.
"Nghề rượu vang cũng chẳng phù hợp với anh, phải không nào? Em đã nói chuyện với nhà xuất bản của em và có khả năng rất tốt... nếu anh chịu bắt đầu đọc..."
"Nhưng anh chẳng biết gì về sách vở cả."
"Em sẽ giúp anh lúc ban đầu."
"Mẹ anh nói việc viết lách là một cái nạng tốt..."
"Năm trăm bảng và một nửa quyền ấn bản bìa mỏng là một cái nạng khá vững vàng đấy chứ." Cô ta nói.
"Thứ Chablis này ngon đấy nhỉ."
"Thật thế."

Tôi bắt đầu thay đổi quan điểm về anh ta - anh ta không hề có cái cốt cách của một hải quân Nelson chút nào. Anh ta có cái mệnh thất bại. Cô ta đến bên cạnh và lắc anh ta từ mui tới ván. "Anh có biết ông Dwight nói gì không?"
"Ông Dwight là ai?"
"Ôi anh yêu quý, anh không hề lắng nghe em nói chút nào. Ông nhà xuất bản của em chứ còn ai. Ông ấy nói là ông ấy chưa từng đọc một cuốn tiểu thuyết đầu tay nào mà có sức mạnh quan sát như thế trong vòng mười năm nay."
"Thế thì thật tuyệt," anh ta nói, giọng buồn buồn "tuyệt vời."
"Có điều ông ấy muốn em đổi nhan đề."
"Thế à?"
"Ông ấy không thích gọi nó là "Dòng Suối Luôn Cuộn Chảy". Ông ấy muốn đổi lại là "Nhóm Quý Tộc ở Chelsea"
"Thế em nói sao?"
"Em đồng ý. Em nghĩ rằng với tiểu thuyết đầu tay thì nên làm vừa lòng nhà xuất bản là hơn. Đặc biệt là khi mà ông ấy lại sẽ còn trả tiền cho đám cưới của chúng mình, phải không nào?"
"Anh hiểu ý em." Lơ đãng, anh ta khuấy ly Chablis bằng nĩa - có lẽ trước khi đính hôn, anh ta đã luôn gọi sâm banh. Những người đàn ông Nhật đã ăn xong món cá, và với rất ít tiếng Anh, nhưng rất nhiều lịch thiệp, họ đề nghị bà hầu bàn đứng tuổi đem ra một khay salad trái cây. Cô ta nhìn họ, rồi nhìn tôi, nhưng tôi cô rằng cô ta chỉ nhìn thấy tương lai của chính mình mà thôi. Tôi rất muốn ngăn cô ta chớ có vội xây đắp tương lai dựa vào một cuốn tiểu thuyết đầu tay gọi là "Nhóm Quý Tộc ở Chelsea". Tôi đồng tình với mẹ của cậu con trai. Quả là một điều hổ thẹn, khi mà nghĩ ra thì tôi có lẽ cũng bằng tuổi mẹ cậu ta thật.

Tôi muốn nói với cô ta, "Cô có chắc là cái ông nhà xuất bản của cô đã nói với cô sự thật hay không? Các nhà xuất bản cũng là người cả. Đôi khi họ tâng bốc quá mức tài năng của giới trẻ và giới đẹp. Liệu cuốn "Nhóm Quý Tộc ở Chelsea" của cô có còn được ai đọc đến trong năm năm nữa? Liệu cô đã chuẩn bị cho những năm nỗ lực,”những thất bại dài vì không làm nên cái gì ra hồn”? Cùng với năm tháng, viết lách cũng không dễ dàng hơn, những nổ lực hàng ngày sẽ nặng nề hơn, cái "sức mạnh quan sát" ấy cũng trở nên yếu mòn, và khi cô tới tuổi tứ tuần, cô sẽ bị đánh giá bằng thực lực chứ không phải bằng vẻ hứa hẹn."
"Cuốn tiểu thuyết tiếp theo của em sẽ là về khi nghỉ mát ở phía Nam nước Pháp St.Tropez."
"Anh không hề biết là em đã từng đến đó."
"Em chưa đến đó. Một cái nhìn mới là rất quan trọng. Em nghĩ chúng mình có thể chuyển xuống sống ở đó sáu tháng."
"Thế thì cuối cùng sẽ chẳng còn bao nhiêu tiền xuất bản ứng trước."
"Tiền ứng trước chỉ là tiền ứng trước mà thôi. Em sẽ được hưởng mười lăm phần trăm khi bán được trên năm nghìn bản,và hai mươi phần trăm sau khi bán được mười nghìn bản. Và dĩ nhiên, sẽ lại có một khoản ứng trước khác, anh yêu, khi mà cuốn sách tiếp theo sẽ được viết xong. Sẽ là một cuốn ghê gớm hơn, nếu cuốn "Nhóm Quý Tộc ở Chelsea" bán chạy."
"Thế nhỡ nó không bán chạy thì sao?"
"Ông Dwight nói là nó sẽ bán chạy. Ông ta phải biết rõ chứ."
"Chú anh sẽ khởi sự cho anh ở mức lương một nghìn hai."
"Nhưng mà anh yêu ơi, thế thì làm sao anh có thể đi St.Tropez được?"
"Thế thì có lẽ tốt hơn là làm lễ cưới khi em trở lại."
Cô ta nói gắt, "Có khi em sẽ không quay trở lại nếu cuốn "Nhóm Qúy Tộc ở Chelsea" bán được đủ số lượng."
"À"

Cô ta nhìn tôi và mấy người đàn ông Nhật. Cô ta đã uống cạn ly rượu. Cô ta nói, "Thế mình đang cãi nhau hay sao?"
"Đâu có."
"Em đã nghĩ ra nhan đề cho cuốn sách mới - "Màu Thiên Thanh Xanh"
"Anh cứ tưởng thiên thanh là màu xanh rồi."
Cô ta nhìn anh ta với vẻ thất vọng. "Anh không thực sự muốn lấy một nhà tiểu thuyết, đúng không?"
"Nhưng em đã là nhà tiểu thuyết đâu."
"Em sinh ra đã là một nhà tiểu thuyết - ông Dwight nói thế. Sức mạnh quan sát của em..."
"Thì em đã nói rồi, nhưng, em thân yêu, chẳng lẽ em không có thể quan sát ở đâu gần nhà hơn hay sao, ngay ở Luân Đôn này."
"Em đã làm điều đó trong cuốn "Nhóm Quý Tộc ở Chelsea" rồi. Em không muốn lặp lại chính mình."

Tờ hoá đơn thanh toán đã nằm cạnh họ một lúc khá lâu. Anh ta rút ví ra trả tiền, nhưng cô ta chộp ngay tờ giấy khỏi tầm tay anh ta. Cô ta nói, "Đây là tiệc chúc mừng của em."
"Chúc mừng cái gì?"
"'Nhóm Quý Tộc ở Chelsea' chứ còn gì nữa. Anh yêu ơi, anh quả thực rất là bóng bẩy, nhưng đôi khi - chà, đôi khi anh chẳng ăn nhập chút nào."
"Anh muốn...nếu em không phiền..."
"Không, lần này là phần em trả. Và dĩ nhiên cũng là phần ông Dwight trả nữa."
Anh ta rút lui, y như hai người đàn ông Nhật mới cùng nhau thi nói, rồi cùng ngưng bặt và cúi chào nhau, như thể họ bị ngáng giữa đường.

Tôi cứ tưởng hai người trẻ kia là hai bức tiểu hoạ tương xứng, nhưng hoá ra họ lại tương phản thế kia. Cùng một vẻ xinh đẹp, nhưng nó có thể chứa đựng sự yếu đuối hoặc sức mạnh, Các quý bà thời đầu thế kỷ 19, giới của cô ta, có thể sinh hạ cả tá con mà không cần thuốc mê, trong khi anh ta thì có lẽ là nạn nhân đầu tiên của các nàng mắt đen vùng Naples. Liệu rồi sẽ có ngày cô ta có cả một tá sách đã viết trên giá? Chúng cũng phải được sinh hạ không thuốc mê. Tôi tự thấy mình ước mong cuốn "Nhóm Quý Tộc ở Chelsea" sẽ thành một thất bại thảm hại, và cuối cùng cô ta sẽ phải chuyển sang làm người mẫu nhiếp ảnh, trong khi anh ta trở nên vững vàng trong nghề làm rượu vang ở khu phố rượu St. James giữa trung tâm Luân Đôn. Tôi không muốn nghĩ về cô ta như là bà Humphrey Ward(3) của thế hệ cô ta - không phải vì tôi sẽ sống lâu đến thế để mà chứng kiến. Tuổi gìa khiến ta  có thể tránh phải sống để mà nhìn thấy nhiều điều đáng sợ. Tôi tự hỏi không biết cái ông Dwight kia thuộc hãng xuất bản nào. Tôi có thể hình dung cái đoạn quảng cáo mà ông ta có lẽ đã viết xong về sức quan sát táo bạo của cô ta. Sẽ có một bức chân dung tác giả, nếu ông ta là người khôn ngoan, ở bìa sau cuốn sách, bởi vì nói cho cùng thì các nhà điểm sách cũng như nhà xuất bản, đều là người cả, mà cô ta thì lại dung nhan hơn hẳn bà Humphrey Ward.

Tôi có thể nghe thấy họ nói với nhau khi họ lấy áo khoác ở phía sau nhà hàng. Anh ta nói, "Không biết mấy ông Nhật ấy làm gì ở đây nhỉ."
"Mấy ông Nhật à?" Cô ta hỏi, "Mấy ông Nhật nào, hở anh yêu? Đôi khi anh lừng khừng quá em nghĩ anh không hề muốn lấy em chút nào."

NGUYỄN THỊ HẠNH dịch
(Từ nguyên bản tiếng Anh “The Invisible Japanese Gentlemen”)
(171/05-03)


----------------------
(1) Một loại rượu mạnh
(2) Tướng Horatio Nelson (1750-1805), một trong những vị tướng anh hùng nhất của Anh, đã đánh bại quân Pháp trong trận Trafalgar và mất trong cùng một năm.
(3) Nhà tiểu thuyết và công tác xã hội Anh, 1851-1920.

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • SORBON (Tajikistan)Sorbon sinh năm 1940 tại làng Amondar  trong một gia đình nông dân  thuộc  tập đoàn sản  xuất nông nghiệp. Năm 1963 ông tốt nghiệp Đại học Lenin của Tajikistan với bằng tiến sĩ ngôn ngữ học. Các tác phẩm của Sorbon xuất hiện lần đầu vào năm 1965. Tuyển tập truyện ngắn đầu tiên của ông “Không phải tất cả đã được nói ra” xuất bản năm 1969. Nhiều truyện ngắn của ông mau chóng được thu thập lại, trong đó có truyện “Ngày đầu tiên đến trường” nói về một phụ nữ Tajikistan  trong Thế chiến thứ Hai, “Sự phòng thủ của đá” và “Người du mục” nói về sự thiết lập chính quyền Xô Viết tại ngôi làng ven sông Zeravshan, và “Áo khoác đồ sộ” nói về một cậu bé bị mất cha trong chiến tranh. Sorbon là nhà văn có tiếng tăm lớn của nền văn xuôi Tajikistan ở thập niên bảy mươi. Truyện ngắn “Người đánh bẫy chim” được viết năm 1974.

  • MISHIMA YUKIO (Nhật Bản)Nhà văn Nhật Bản Mishima Yukio (1925 - 1970) bắt đầu in các tác phẩm của mình từ những năm 20 tuổi. Ông được tặng nhiều giải thưởng văn học và ba lần được đề cử vào giải Nobel văn chương.

  • PAUXTÔPXKIChúng ta yêu mến thứ ánh sáng bảo hiểm của những ngọn hải đăng nhưng ít khi nhìn thẳng vào nó. Thường chỉ có những người bảo vệ và các tay lái tàu dán mắt vào hải đăng để kiểm tra bí mật độ loé sáng của nó. Bởi vì tất cả hải đăng trên biển đều nháy và nhấp nhánh khác nhau, theo những tín hiệu đó, người ta có thể biết được hải đăng nào và con tàu đang ở đâu.

  • SLAWOMIR MROZEK (Ba Lan)(Lê Bá Thự dịch từ nguyên bản tiếng Ba Lan)

  • ALPHONSE DAUDETSự kiện phản ánh trong truyện xảy ra năm 1871, thời kỳ chiến tranh Pháp - Phổ, khi quân đội Phổ (Đức) đã chiếm đóng và sáp nhập hai tỉnh Alsace và Lorraine của Pháp vào lãnh thổ Đức.

  • DOMINIQUE DE VILLEPINTác giả Dominique de Villepin, sinh năm 1953, đương kim Bộ trưởng Ngoại giao Pháp, là người phát ngôn cho chính sách hòa bình đối lập với đường lối chiến tranh Bush-Blair trong vụ tập kích Irak đầu năm 2003. Nơi đầu sóng ngọn gió của bang giao quốc tế, ông đã đồng thời cho xuất bản một khảo luận về Thơ, Ngợi ca những Người Cướp Lửa, tượng trưng cho Người Làm Thơ, qua hình ảnh mượn của Arthur Rimbaud, lấy từ huyền thoại Prométhée.

  • MARK TWAINTwain, Mark, (Samuel Langhorne Clemens), nhà văn Mỹ, (1835-1910). Sinh tại Florida, bang Missouri. Là con thứ tư trong một gia đình thương nhân nghèo. Chưa đầy 12 tuổi, Clemens đã phải thôi học để học nghề sắp chữ in, rồi làm đủ nghề. Năm 1853, bị thôi thúc bởi ý muốn tìm hiểu thế giới, lên đường đi nhiều nơi, làm thợ in công nhật ở St. Louis, New York và Philadelphia. Đến sông Mississipi, hành trình dự kiến đi Brazil bị đình lại vì Clemens lại mơ ước trở thành hoa tiêu trên sông.

  • HARUKI MURAKAMI (Nhật Bản)Chàng và nàng đang đi trên một con đường. Dọc bãi tha ma. Lúc nửa đêm. Sương mờ vây phủ. Họ tuyệt nhiên không định đi ở nơi chốn này vào lúc này. Nhưng vì các nguyên do khác nhau họ đã buộc phải đi. Họ bước vội vàng, nắm chặt tay nhau.

  • VICTORIA CHIE (ÚC)Cảm giác xấu hổ như kẻ đang làm điều mờ ám, Anne Peterson đặt bút run run ghi tên mình vào phần trống trong bản tự giới thiệu của văn phòng môi giới hôn nhân. Chẳng lẽ lại đến nông nổi này sao? 49 tuổi, trông còn rất trẻ, duyên dáng, đầy sức sống, thành đạt, vật chất đầy đủ, đã ly dị, thế mà phải nhờ môi giới kiếm cho một tấm chồng. Mà anh ta là ai, cũng là một kẻ nào đấy tìm đến đây với những dòng tự giới thiệu cứng nhắc. Thôi, đành vậy chứ biết sao, chỉ vì quá yêu con gái Cindy mà Anne đã phải chịu đựng nỗi trống trải cô đơn ròng rã suốt bao năm trời.

  • NGÔ KIM LƯƠNG (Trung Quốc)"Nếu còn gặp người, nhất định phải nói", Trần Tĩnh đang nghĩ, ngước mắt lên nhìn ánh đèn vàng vọt trong ngõ nhỏ. Đêm khuya rồi, khắp nơi là hình ảnh kỳ quái của một màn đêm đen kịt. "Ai cha! Chiếc xe đạp xui xẻo này!" - Cô đẩy chiếc xe, không biết phải nói thế nào.Sau lưng vang lên một hồi chuông xe đạp, Trần Tĩnh "ai cha" một tiếng, chàng trai cưỡi xe đạp đã lướt vèo qua rồi.

  • S.MROZEKCó một lần tôi đi du lịch.Vì không có tàu trực tiếp đến nơi tôi cần tới nên tôi phải xuống một ga dọc đường để chuyển sang tàu khác.Hôm đó là một buổi tối. Mãi sáng hôm sau con tàu tiếp theo tôi sẽ phải đi mới đến.Tôi rời nhà ga, vào thị trấn để kiếm nơi ở trọ.

  • JOYCE BEGG (Úc)Bà Firbank trở thành hàng xóm của chúng tôi đã lâu, dễ đến sáu bảy năm nay, nhưng thật sự trong chúng tôi chẳng ai dám khẳng định mình biết rõ về người đàn bà này. Xung quanh bà ta lúc nào cũng bao phủ một bầu không khí bí hiểm, ma quái, ngay cả toà dinh thự cổ của bà ta cũng gợi cho người ta cái vẻ rờn rợn, lạnh lẽo giống như nơi trú ẩn của những linh hồn cõi âm.

  • KRISHNAN VARMAKrishnan Varma sinh ở Kerala, Ấn Độ. Ông viết bằng hai thứ tiếng Anh và Malayalam. Trong nhiều tác phẩm của mình, ông chia sẻ sự quan sát đối với cuộc sống của lớp người cùng khổ trên đất nước ông.

  • ARTURO VIVANTELời giới thiệu: Nhà văn Arturo Vivante sinh năm 1923 ở Rome, tốt nghiệp cử nhân đại học McGill, Canada, 1945, tốt nghiệp y khoa đại học Rome, 1949. Ông hành nghề bác sĩ toàn khoa, đồng thời sinh hoạt và nghiên cứu về văn chương ở một số trường đại học Mỹ. Vivante là nhà văn rất nổi tiếng với các truyện cực ngắn và các giai thoại.

  • KÔNXTANTIN PAUXTÔPXKI Mùa Thu. Những hạt sương mai tháng Chín lạnh giá, mọng nước rơi tung tóe từ những tán lá trên cao xuống và bắn cả vào người tôi. Sương từ các nhành cây nhỏ giọt xuống mặt nước sông đen thẫm, tạo thành những vòng tròn và chậm rãi lan ra xung quanh.

  • LTS: Mario Bendetti sinh tại Paso de los Toros (Tacuarembó ) ngày 14 tháng 9 năm 1920. Ông theo học tại trường tiểu học tiếng Đức ở Montevideo và trường trung học Miranda, đã từng làm nhiều nghề như nhân viên bán hàng, tốc kí, kế toán, viên chức nhà nước và phóng viên. Từ năm 1938 đến 1941 ông sống chủ yếu ở Buenos Aires . Năm 1945, khi trở về Montevideo, ông viết bài cho tuần báo nổi tiếng Marcha, qua đó trở thành phóng viên bên cạnh Carlos Quijano và rồi trở thành một thành viên trong ê-kíp của ông này cho tới tận năm 1974 khi tuần báo ngừng xuất bản.Năm 1973, vì lí do chính trị, ông phải rời bỏ tổ quốc,bắt đầu cuộc sống lưu vong kéo dài mười hai năm ở những quốc gia: Ác-hen-ti- na và Tây Ban Nha. Quãng thời gian này đã để lại những dấu ấn vô cùng sâu sắc trong cuộc đời ông cũng như trong văn nghiệp.

  • YUKIO MISHIMA (Nhật Bản)YUKIO MISHIMA tên thật là HIRAOKA KIMITAKE (1925-1970). Sinh tại Tokyo.Tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Tokyo . Nhà văn, kịch tác gia, đạo diễn sân khấu và điện ảnh, diễn viên.Năm 16 tuổi đã xuất bản truyện vừa lãng mạn Khu rừng nở hoa. Tiểu thuyết Lời thú tội của chiếc mặt nạ ra năm 1949 đã khẳng định tên tuổi của nhà văn trẻ tài năng và trở thành tác phẩm được đánh giá là kinh điển của nền văn học Nhật Bản.

  • KOMASHU SAKIO (Nhật Bản)Sinh 28/1/1931 tại Osaka (Nhật Bản). Nhà văn chuyên viết truyện khoa học giả tưởng nổi tiếng của Nhật Bản.Tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Kyoto , chuyên ngành Văn học Italia.Từ năm 1957 là phóng viên Đài Phát thanh Osaka và viết cho một số các báo. Năm 1961 chiến thắng trong cuộc thi truyện ngắn giả tưởng xuất sắc do tạp chí "SF Magasines" tổ chức.Tác phẩm của Komatsu đã được dịch ra rất nhiều thứ tiếng trên thế giới.

  • S. MROZEK (Ba Lan)Có lần tôi bắt gặp một con chó ác bụng đang rượt đuổi một con mèo. Bởi tôi là người yêu động vật nên tôi bèn vớ ngay một cục đá to sụ quẳng vào con chó khiến nó ngã lăn quay, nằm đứ đừ một hồi lâu. Chú mèo nhỏ không nhà, con vật bé xíu nom mệt phờ râu. Không chút do dự - tôi cho nó nương nhờ. Đây quả là một con mèo đẹp mã, lông mịn màng, mắt long lanh. Tôi đem nhốt nó vào trong nhà, đoạn bỏ đi chơi bời trác táng.

  • KITA MORIO (Nhật Bản)Kita Morio (sinh năm 1927) là nhà văn thuộc thế hệ hậu chiến của Nhật Bản. Tốt nghiệp Đại học Y. Năm 1960 được trao giải thưởng mang tên Akutagawa với truyện ngắn Trong bóng tối đêm, cốt truyện xảy ra trong một bệnh viện tâm thần ở Đức thời kì Chiến Tranh Thế Giới thứ II. Nổi tiếng với các tác phẩm giả tưởng khoa học và chống chiến tranh.