Eugene Marcel Prevost, nhà văn và là kịch tác gia người Pháp, sinh ngày 1/5/1862 tại Paris, mất ngày 8/4/1941 tại Vianne, thuộc khu hành chính Lot- et-Garonne. Năm 1909, ông được mời vào Hàn lâm viện Pháp.
MARCEL PREVOST
"Vâng”, ông bạn già Tribourdeaux của chúng tôi, một con người văn hóa và là một triết gia, đó là sự kết hợp hiếm có ở những bác sĩ giải phẫu trong quân đội; nói: “vâng, điều siêu nhiên thì có ở khắp nơi, ở chung quanh chúng ta, vây quanh ta và ngấm vào ta. Nếu khoa học tìm kiếm nó, nó biến mất. Khả năng hiểu biết của chúng ta cũng giống như trường hợp tổ tiên chúng ta khai phá vài mẫu rừng, bất kỳ khi nào họ khai phá hết mức họ nghe những tiếng gừ gừ và thấy những đôi mắt lấp loáng ở mọi nơi chung quanh họ. Chính tôi đã có cảm giác đạt tới những giới hạn của điều không biết được nhiều lần trong đời, và vào một dịp đặc biệt”.
Một nàng trẻ tuổi có mặt ở đó ngắt lời ông:
“Thưa bác sĩ, ông đang muốn kể cho chúng tôi một câu chuyện. Xin bắt đầu đi”.
Viên bác sĩ cúi thấp đầu.
“Không, xin thưa thật tôi không phải là không lo lắng. Tôi càng ít kể câu chuyện này thì càng tốt. Vì nó làm người nghe bấn loạn, và cũng làm tôi bấn loạn. Tuy nhiên, nếu cô thích, thì chuyện như thế này:
“Năm 1863 tôi là một y sĩ trẻ làm việc ở Orlean. Thành phố thượng lưu ấy đầy những ngôi nhà cổ kiểu quý tộc, khó mà tìm được những căn hộ dành cho người độc thân, và, vì tôi thích có nhiều không khí và không gian thoáng đãng, tôi chọn chỗ ở của tôi ở tầng một của một tòa nhà lớn ở ngay rìa thành phố, gần Saint-Euverte. Đầu tiên nó được xây dựng để vừa làm một nơi chứa hàng vừa làm chỗ ở cho một nhà sản xuất thảm. Trong giai đoạn đó thì nhà sản xuất này thất bại, và tòa nhà lớn mà ông ta đã xây dựng, không được sửa chữa vì thiếu người thuê, đã được bán với giá rất rẻ với toàn bộ trang thiết bị của nó. Người mua hy vọng kiếm được lợi nhuận trong tương lai khi mua nó, vì thành phố đang phát triển ra hướng đó, và, thực tế là, tôi tin rằng hiện giờ tòa nhà đã được nằm trong quy hoạch của thành phố. Tuy nhiên, khi tôi thuê một chỗ ở đó, tòa nhà còn đơn độc ở ven một miền quê thoáng đãng, cuối một con đường ngoằn nghèo có vài ngôi nhà rải rác vào ban đêm tạo ra ấn tượng đó là một cái hàm đã rụng gần hết răng.
“Tôi thuê một nửa tầng một, là một phần tòa nhà gồm bốn phòng. Tôi lấy hai phòng mặt tiền để làm phòng ngủ và văn phòng, phòng thứ ba tôi để mấy cái tủ, kệ đựng quần áo, phòng cuối cùng thì bỏ trống. Chỗ này thành một nơi cư trú rất thoải mái đối với tôi, và tôi có một bao lơn rộng chạy suốt mặt tiền tòa nhà làm chỗ dạo bước, hay nói đúng hơn là một nửa bao lơn đó, vì tòa nhà được chia làm hai phần (xin lưu ý cẩn thận chỗ này) bằng một hàng rào song sắt, nhưng mà người ta có thể dễ dàng leo qua.
“Tôi sống ở đó chừng hai tháng thì vào một đêm tháng bảy trong khi trở về nhà, tôi ngạc nhiên thấy có ánh sáng nơi những cửa sổ của phần nhà bên kia, nơi mà tôi cứ nghĩ là không có người ở. Tác động của ánh sáng này là lạ lùng. Nó chiếu sáng với một ánh xanh nhạt, tuy vậy lại làm sáng rõ ràng nhiều phần của bao lơn, con đường bên dưới, và một ít diện tích kế cận.
“Tôi thầm nghĩ: “Aha! Mình có hàng xóm”.
“Thực sự ý nghĩ này không phải là hoàn toàn được tán thành, vì tôi đã từng khoái chí về sự cư ngụ độc nhất của tôi. Trước khi về phòng ngủ tôi lặng lẽ đi ra ngoài bao lơn, nhưng nguồn sáng ở ngoài đã tắt mất rồi. Vậy là tôi quay về phòng, ngồi đọc sách chừng một hay hai giờ đồng hồ. Thỉnh thoảng tôi dường như nghe được tiếng chân bước nhẹ, dù tôi đang ngồi trong bốn bức tường, nhưng sau khi đọc sách xong tôi đi ngủ, và chìm vào giấc ngủ khá nhanh.
![]() |
Minh họa: Nhím |
“Khoảng nửa đêm tôi chợt tỉnh giấc vì cảm giác lạ lùng là có gì đó đang đứng bên cạnh tôi. Tôi ngồi dậy trong giường, thắp một ngọn nến, và đây là những gì tôi thấy. Ở giữa phòng là một con mèo rất to đang nhìn tôi bằng đôi mắt sáng ánh lân tinh, lưng nó hơi cong lên. Đó là một con mèo giống Angora lớn, lông dài và đuôi phủ lông tơ, có một màu khác thường - chính xác là giống như màu lụa vàng mà người ta thấy trong những cái kén - vì vậy khi ánh sáng tỏa trên lớp lông của nó, con vật dường như làm bằng vàng.
“Nó chầm chậm bước về phía tôi bằng bốn chân mềm như nhung, dịu dàng cọ tấm thân dợn sóng của nó vào chân tôi. Tôi vói tay xoa xoa nó, nó chấp nhận sự ve vuốt của tôi, gừ gừ, rồi cuối cùng nhảy lên đầu gối của tôi. Lúc ấy tôi nhận ra nó là một con mèo cái, khá non tuổi, và dường như nó sẵn lòng để tôi vuốt ve nó bao lâu tùy ý. Nhưng sau rốt tôi đặt nó xuống nền phòng, dỗ nó ra khỏi phòng, nhưng nó phóng đi trốn giữa số đồ đạc trong phòng, tuy nhiên sau khi tôi thổi tắt nến, nó lại nhảy lên giường tôi. Ngái ngủ, tôi chẳng buồn đụng đến nó, mà chập chờn ngủ ngay, và sáng hôm sau khi tôi thức dậy trong ánh sáng ngày rạng rỡ tôi chẳng hề thấy chút dấu vết nào của con mèo.
“Thật sự bộ óc con người là một công cụ tinh vi, và dễ bị rối loạn. Trước khi tôi kể tiếp, quý vị hãy gom lại các dữ kiện mà tôi đã đề cập: một nguồn sáng được thấy và tắt ngấm ngay trong một phần nhà được cho là không có người ở; và một con mèo có màu lông lạ lùng, xuất hiện và biến mất theo một cách có phần bí ẩn. Cho đến đây thì không có gì lạ lùng lắm về chuyện đó phải không? Hay lắm. Bây giờ hãy tưởng tượng, rằng những sự kiện không quan trọng đó được lập đi lập lại ngày này sang ngày khác cũng y như vậy suốt một tuần lễ, và rồi, xin hãy tin tôi, chúng trở nên quan trọng đủ để gây ấn tượng với bộ óc của một người đàn ông đang sống một mình, và tạo ra nơi anh ta nỗi băn khoăn lo lắng như tôi nói lúc đầu câu chuyện, cũng như luôn luôn tạo ra sự lo âu khi người ta tiếp cận với điều chưa từng được biết. Bộ óc con người được cấu tạo để luôn luôn ứng dụng một cách vô thức cái nguyên tắc cần và đủ. Với mỗi loạt sự kiện giống nhau, nó đòi một nguyên nhân, một định luật, và một nỗi lo ngại mơ hồ chế ngự nó khi nó không thể đoán ra nguyên nhân và lần ra định luật này.
“Tôi không hèn nhát, nhưng tôi đã thường nghiên cứu về sự hiển lộ nỗi sợ hãi nơi những người khác, từ hình thức sợ hãi non nớt nhất nơi trẻ con cho đến tình huống bi kịch nhất nơi những người điên. Tôi biết rằng sự sợ hãi được nuôi dưỡng bởi những điều không minh bạch, nhưng khi người ta quyết định tìm hiểu nguyên nhân, nỗi sợ hãi này thường biến thành sự tò mò đơn giản.
“Vì thế tôi quyết định tìm cho ra sự thật. Tôi hỏi thăm người giao hàng cho tôi và thấy rằng anh ta chẳng biết gì về những người hàng xóm của tôi. Mỗi buổi sáng có một bà già đến dọn dẹp phần nhà bên đó, người giao hàng của tôi đã thử hỏi thăm bà ấy, nhưng hoặc là bà ấy điếc hoặc là bà ấy không muốn cung cấp cho anh ta thông tin gì, nên bà ta không hề hé răng nói một lời nào. Tuy nhiên, tôi có thể giải thích thỏa đáng điểm đầu tiên mà tôi đã thấy - đó là, sự biến mất đột ngột của nguồn sáng khi tôi vào nhà. Tôi đã thấy các ô cửa sổ kế bên cửa sổ nhà tôi chỉ được che màn vải đăng ten dài, và vì hai bao lơn liền kề, nên người hàng xóm của tôi, dù là nam hay nữ, rõ ràng là muốn ngăn chặn bất kỳ sự tò mò tọc mạch nào về phía tôi, và vì thế đã luôn luôn tắt đèn khi nghe tiếng tôi về. Để kiểm tra lại giả thiết này, tôi đã làm một thử nghiệm rất đơn giản mà hoàn toàn thành công. Một hôm tôi cho người đem đến cho tôi một bữa ăn nguội vào buổi trưa, và buổi chiều tôi không ra khỏi nhà. Khi trời tối, tôi chọn một chỗ ngồi gần cửa sổ. Rồi tôi thấy bao lơn sáng lên do ánh sáng chiếu qua các cửa sổ của nhà hàng xóm. Tôi lập tức lặng lẽ lẻn ra bao lơn, và nhẹ nhàng leo qua hàng rào sắt ngăn cách hai phần tòa nhà. Mặc dù tôi biết là tôi có thể gặp nguy hiểm, hoặc là té gãy cổ, hoặc là giáp mặt với một người đàn ông, tôi vẫn không cảm thấy lo ngại. Khi đến chỗ cửa sổ sáng đèn mà không gây ra một tiếng động nhỏ nào, tôi thấy cửa mở một phần. Màn cửa, đối với tôi là hoàn toàn trong suốt vì tôi ở phía tối của cửa sổ, lại làm tôi không thể bị nhìn thấy với bất kỳ ai nhìn về phía cửa sổ từ bên trong gian phòng.
“Tôi thấy một gian phòng lớn được trần thiết khá lịch sự, dù rõ ràng là nó không được sửa sang, và được chiếu sáng bởi một ngọn đèn treo trên trần. Ở cuối phòng là một chiếc ghế xô pha thấp trên đó có một người đàn bà ngồi mà tôi cho là vừa trẻ vừa đẹp. Mái tóc vàng buông lơi của nàng xõa xuống bờ vai. Nàng đang soi mình bằng chiếc gương cầm tay, tự chiêm ngưỡng mình, cánh tay đưa lên trên làn môi, và uốn quanh cơ thể mềm mại của nàng với một vẻ duyên dáng lạ lùng của loài mèo. Mỗi cử động của nàng làm cho mái tóc dài lay động như sóng dập dờn loang loáng.
“Khi tôi nhìn nàng tôi thừa nhận rằng tôi có cảm thấy đôi chút khó khăn, đặc biệt là khi bất ngờ đôi mắt của nàng đăm đăm nhìn tôi - đôi mắt lạ lùng, có màu xanh lân tinh ánh lên như lửa đèn. Tôi chắc chắn là tôi không bị nhìn thấy, vì ở phía tối của khung cửa sổ có treo màn. Đơn giản là vậy, nhưng tôi lại cảm thấy là tôi bị nhìn thấy. Cô gái, thực sự đã phát ra một tiếng kêu, rồi quay đi và vùi mặt vào mấy cái gối của ghế xô pha.
“Tôi băng qua cửa sổ tiến đến ghế xô pha, cúi mình trên khuôn mặt nàng đang che giấu. Khi tôi làm thế, tôi thực sự cảm thấy rất hối hận, tôi bắt đầu xin lỗi và trách cứ chính mình, gọi mình bằng đủ loại tên, và xin tha thứ về sự thiếu suy xét của tôi. Tôi nói rằng tôi đáng bị đuổi đi không được nhìn nàng, nhưng xin đừng đuổi tôi đi mà không có một lời tha thứ. Trong một hồi lâu tôi van vỉ như thế mà không thành công, nhưng cuối cùng nàng chầm chậm quay lại, và tôi thấy khuôn mặt khá trẻ của nàng dường như xao động với một nụ cười thoảng qua. Khi nàng nhìn tôi nàng thì thầm những lời lúc ấy tôi hoàn toàn không hiểu được.
“Chính là anh”, nàng kêu lên, “chính là anh”.
“Trong khi nàng nói và tôi nhìn nàng, tôi không biết phải trả lời thế nào vì tôi cứ miên man suy nghĩ: tôi đã thấy khuôn mặt này, cái nhìn này, phong thái này ở đâu? Nhưng rồi tôi cũng nói thành lời, và sau khi nói thêm vài lời xin lỗi về sự tò mò vô lối của tôi, tôi nhận được sự trả lời ngắn gọn nhưng không phản kháng, tôi rời nàng rút lui qua lối cửa sổ mà tôi đã vào để trở về phòng mình. Về đến phòng, tôi ngồi một hồi lâu bên cửa sổ trong bóng tối, bị mê hoặc bởi khuôn mặt mà tôi đã nhìn thấy, lòng lo lắng khác thường.
“Người phụ nữ này quá đẹp, quá dễ thương, sống gần tôi, nói với tôi “Chính là anh”, cứ như thể nàng đã quen tôi, nàng nói quá ít, trả lời mọi câu hỏi của tôi với sự lảng tránh, gợi lên trong tôi cảm giác sợ hãi. Nàng đã nói với tôi tên nàng - Linda - và chỉ có thế. Tôi cố gắng trong vô vọng quên đi đôi mắt xanh của nàng, mà trong bóng tối dường như chiếu về tôi, và quên ánh lấp lánh, như ánh lóe của tia lửa điện, sáng lên nơi mái tóc dài của nàng mỗi khi nàng mơn man nó trong tay. Cuối cùng tôi đi ngủ, nhưng vừa đặt đầu xuống gối thì tôi cảm thấy một cơ thể ở dưới chân tôi. Con mèo lại xuất hiện. Tôi cố xua nó đi, nhưng nó cứ quay lại, cho tới khi tôi mặc kệ sự hiện diện của nó. Và y như trước, tôi thiếp ngủ với người bạn lạ lùng này ở gần tôi. Nhưng giấc ngủ của tôi lần này không yên, bị phá vỡ bởi những cơn mơ chập chờn và lạ lùng.
“Quý vị đã bao giờ nghiệm thấy một loại ám ảnh tinh thần dần dần làm cho não bộ bị chế ngự bởi một ý tưởng lạ lùng độc nhất - một ý tưởng gần như điên khùng, cái ý tưởng mà lý trí và ý chí của quý vị muốn xóa đi, nhưng nó lại dần dần tự trộn lẫn với tư tưởng của quý vị, bám chặt vào trí óc của quý vị, và cứ phát triển mãi? Tôi đau đớn chịu đựng theo cách như vậy trong những ngày tiếp theo cuộc phiêu lưu lạ lùng của tôi. Không có gì mới xảy ra, nhưng vào buổi tối, khi ra ngoài bao lơn, tôi thấy Linda đứng bên phần nhà nàng bên kia hàng rào sắt. Chúng tôi trò chuyện một lúc trong ánh sáng lờ mờ, và như trước đó, tôi trở về phòng mình để chốc lát sau lại thấy con mèo vàng xuất hiện, nhảy lên giường tôi, làm một tổ ấm cho mình ở đó, và ở đó cho tới khi trời sáng. Bây giờ thì tôi biết con mèo đó thuộc về ai, vì Linda đã trả lời ngay tối hôm đó khi tôi nhắc về nó, “Ồ phải, con mèo của em, có phải nó giống như làm bằng vàng không?” Như tôi nói, không có gì mới xảy ra, tuy vậy một nỗi kinh hãi mơ hồ từng chút từng chút chế ngự tôi và tự phát triển trong trí tôi, mới đầu chỉ là một chút tưởng tượng ngớ ngẩn, và rồi trở thành một niềm tin ám ảnh thống lĩnh toàn bộ ý nghĩ của tôi, làm tôi thường xuyên nghĩ mình đã thấy được một chuyện mà trong đời thực hoàn toàn không thể nào thấy được”.
“Có gì đâu, cũng dễ đoán ra mà”, cô nàng trẻ tuổi đã lên tiếng ở đầu truyện nói chen vào.
“Linda và con mèo là một”.
Tribourdeaux mỉm cười.
“Tôi không dám quả quyết như thế”, ông nói, “ngay cả hồi đó. Nhưng tôi không thể phủ nhận rằng sự tưởng tượng lố bịch này ám ảnh tôi nhiều giờ khi tôi đang cố chợp mắt giữa cơn mất ngủ vì một não bộ quá hoạt động gây ra.
Vâng, có những lúc hai sinh thể có mắt xanh này, cử động uyển chuyển này, tóc và lông vàng, đối với tôi dường như hòa thành một, là hai sự hiển thị của một thực thể. Như tôi đã nói, tôi thường thấy Linda, nhưng bất chấp những nỗ lực của tôi để bắt gặp nàng bất ngờ, tôi chưa hề thấy cả hai cùng lúc. Tôi cố lý giải, tự thuyết phục mình rằng thực sự không có gì không thể giải thích trong tất cả chuyện này, và tôi tự chế nhạo mình vì sợ cả một người đàn bà lẫn một con mèo vô hại. Sự thật là sau khi lý luận, tôi thấy rằng tôi không sợ nhiều lắm về một con vật độc nhất hay một người đàn bà độc nhất, mà đúng hơn là sợ những gì tồn tại trong tưởng tượng của tôi và làm cho tôi sợ một điều gì đó vô hình - nỗi sợ về một sự hiển thị của chính tâm hồn tôi, sợ một ý tưởng mơ hồ, mà, thực sự là điều tệ hại nhất trong mọi nỗi sợ hãi.
“Tôi bắt đầu bị rối loạn thần kinh. Sau nhiều buổi tối dài tâm sự và rất trái với lệ thường cùng Linda, qua đó dần dần cảm xúc của tôi nhuốm màu tình yêu, tôi trải qua những ngày dài dằn vặt, như tâm trạng những người chớm điên phải trải qua. Dần dần một quyết tâm bắt đầu hình thành trong trí tôi, một nỗi ham muốn càng lúc càng thúc bách đòi hỏi một giải pháp cho sự nghi ngờ dằn vặt không dứt này. Và tôi càng quan tâm đến Linda, thì càng cảm thấy hoàn toàn cần thiết hoàn thành quyết tâm này. Tôi quyết định giết con mèo.
“Một buổi tối trước khi gặp Linda ngoài bao lơn, tôi lấy từ tủ thuốc của tôi một lọ glycerine và một chai nhỏ axit hydrocyanic cùng một que thủy tinh mà các nhà hóa học dùng để trộn những chất ăn mòn. Tối đó lần đầu tiên Linda cho phép tôi ve vuốt nàng. Tôi ôm nàng trong vòng tay và lướt tay tôi trên mái tóc dài của nàng, mái tóc có tiếng lách tách với nhiều tia lấp lánh dưới bàn tay ve vuốt của tôi. Ngay khi tôi trở lại phòng mình thì con mèo vàng, như lệ thường xuất hiện trước mặt tôi. Tôi gọi nó đến với tôi, nó cọ mình vào tôi với cái lưng uốn cong và cái đuôi vươn dài, gừ gừ thật dễ thương. Tôi cầm cái que thủy tinh trong tay, chấm đầu que vào glycerine, rồi chìa nó cho con mèo, con mèo liếm que bằng cái lưỡi dài và đỏ. Tôi làm như vậy ba bốn lần, nhưng sau đó tôi nhúng que vào a xít. Con mèo chẳng chút do dự dùng lưỡi liếm que. Ngay tức khắc con mèo trở nên cứng nhắc, và một lúc sau, cơn co giật uốn ván làm nó bật ba lần lên không, rồi rơi xuống sàn với một tiếng kêu thảm thiết - một tiếng kêu đích thực của con người. Nó đã chết.
“Với mồ hôi bắt đầu toát ra trên trán và với đôi bàn tay run run tôi quỳ sụp lên nền nhà bên cạnh xác mèo vẫn còn chưa lạnh. Đôi mắt đăm đăm một cái nhìn làm tôi điếng người vì kinh hoàng. Cái lưỡi đã hóa đen le ra giữa hàm răng, bốn chân co rút hiển lộ cơn đau đớn. Tôi lấy hết can đảm với nỗ lực dữ dội của ý chí, nắm lấy chân con vật và ra khỏi nhà. Vội vã đi xuống con đường vắng, tôi đi về phía bờ kè dọc sông Loire, và khi đến nơi, tôi ném gánh nặng của mình xuống sông. Tôi lang thang trong thành phố cho tới khi trời sáng, đi đâu tôi chẳng biết, và cứ thế cho tới khi bầu trời bắt đầu mờ xanh rồi hồng lên ánh bình minh tôi mới có đủ can đảm để trở về nhà. Khi tôi đặt tay lên cửa, tôi rùng mình. Tôi có nỗi sợ, như trong một truyện nổi tiếng của Poe, là thấy trong nhà vẫn còn sống con vật mà tôi mới làm cho chết. Nhưng không, gian phòng của tôi trống vắng. Tôi ngã mình mệt lã lên giường, và lần đầu tiên tôi ngủ với cảm giác hoàn toàn một mình, một giấc ngủ như của một con thú hay của một kẻ ám sát, cho tới khi đêm đến.
Có người lên tiếng, phá vỡ sự lặng im thin thít khi chúng tôi đang nghe.
“Tôi có thể đoán ra đoạn kết. Linda biến mất cùng lúc với con mèo”.
“Cô đoán đúng lắm”, Tribourdeaux trả lời, “Trong những chi tiết của câu chuyện này có một sự trùng hợp lạ lùng, vì thế cô có thể đoán khá chính xác mối quan hệ của họ. Phải, Linda biến mất. Người ta thấy trong căn hộ của cô ấy trang phục, đồ lanh, thậm chí cả đồ ngủ mà cô ấy đã mặc đêm đó, nhưng không có gì có thể cung cấp một chi tiết sơ lược nhất về lý lịch của cô ấy. Chủ tòa nhà đã cho người thuê căn hộ, “Cô Linda - ca sĩ thính phòng”, ông ta không biết gì hơn. Tôi được cảnh sát triệu tập. Vào đêm cô ấy biến mất có người đã thấy tôi lang thang với vẻ mất trí trong khu vực bờ sông. May thay là viên thẩm phán quen tôi, lại may thay ông ta là một người có trí thông minh không bình thường. Tôi kể riêng với ông ấy toàn bộ câu chuyện, y như tôi đang kể với quý vị. Ông ta hủy bỏ cuộc thẩm vấn, tuy nhiên tôi có thể nói là có rất ít người tránh được một phiên tòa hình sự với một lối thoát hẹp như của tôi.
Sau một hồi lâu sự im lặng của nhóm người nghe bùng vỡ. Cuối cùng một quý ông, muốn giải tỏa sự căng thẳng, kêu lên:
“Thôi nào, ông bác sĩ, hãy nói thực đây chỉ là chuyện tưởng tượng, rằng ông chỉ muốn làm cho quý bà quý cô ở đây mất ngủ”.
Tribourdeaux khó nhọc cúi mình, mặt ông không cười và hơi tái.
“Ngài có thể nghĩ vậy nếu muốn”, ông nói.
Võ Hoàng Minh dịch
(Nguồn: http://www.gutenberg.org/cache/epub/10577/pg10577.html)
(SHSDB33/06-2019)
SINCLAIR LEWISLGT: SINCLAIR LEWIS (1885 - 1951, giải thưởng Nobel 1930)Ông là tiểu thuyết gia, người viết truyện ngắn có tiếng và nhà viết phê bình có uy tín ở Mỹ.
BRUNO LESSINGLGT: Bruno Lessing (1870-1940) sinh tại New York, Mỹ. Tên thật của ông là Rudolp Block nhưng ông nổi tiếng với tư cách là nhà văn chuyên viết truyện ngắn dưới bút danh Bruno Lessing. Ông là phóng viên và sau đó là biên tập viên cho nhiều tờ báo. Mô tả của Lessing về cuộc sống của người Do Thái ở New York được đánh giá cao. Truyện dưới đây được dẫn dắt một cách hấp dẫn, lý thú, làm nổi bật mối quan hệ giữa hai thế hệ: cha và con, vấn đề nhập cư, đồng hóa hay giữ bản sắc văn hóa với một giọng điệu dí dỏm.
JUAN JOSÉ ARREOLA (Sinh 1918, Nhà văn Mêhicô)LGT: Arreola là một nhà cách tân lớn về truyện kể. Là một người tự học tài năng, ông sở đắc một nền văn hoá rộng lớn, cũng như trải qua nhiều nghề khác nhau để kiếm sống. Arreola chủ yếu sáng tác những truyện kể ngắn, cô đúc, mỉa mai, hay bí ẩn, ưa thích cái nghịch lý và ông là một trong những bậc thầy của hình thức truyện ngắn này. Ba tuyển tập truyện ngắn của ông là Varia Invencion (1049), Confabulario (1952), Confabulario Définitivo (1087).
KAWABATA YASUNARI LGT: KAWABATA YASUNARI (1899 - 1972) là nhà văn đầu tiên của Nhật Bản đoạt giải thưởng Nobel văn chương (1968). Ông nổi tiếng thế giới với những tiểu thuyết như: Xứ Tuyết (1935 - 1947), Ngàn cánh hạc (1949), Tiếng rền của núi (1950), Người đẹp say ngủ (1961), Cố đô (1962)...
MATVEEVA ANNALGT: MATVEEVA ANNA (Sinh 1975) là một nhà văn nữ trẻ của văn học Nga đương đại tài năng đầy hứa hẹn. Đã xuất bản một số tập truyện ngắn. Truyện ngắn của cô đã được đăng trong các tạp chí lớn của Nga như Thế giới mới, Tháng Mười. Văn xuôi của cô hóm hỉnh, thể hiện sự tò mò sắc sảo trước cuộc sống và con người. Tác phẩm của cô được xem như thể hiện một số sắc thái và đặc điểm của văn xuôi hậu hiện đại Nga hiện nay. Xin trân trọng giới thiệu truyện ngắn “Con chó” dưới đây của nữ văn sĩ qua bản dịch của nữ dịch giả Đào Tuấn Ảnh.
YVELINE FÉRAYLTS: Monsieur le paresseux là cuốn tiểu thuyết lịch sử dày gần 300 trang của nữ văn sỹ Pháp Yveline Féray viết về Đại danh y Việt Nam Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác, do Nhà xuất bản Robert Laffont ở Paris ấn hành năm 2000. Trước đó, năm 1989 nữ văn sỹ này đã cho xuất bản ở Pháp cuốn tiểu thuyết dày 1000 trang Dix mille printemps, viết về Nguyễn Trãi - nhà chính trị, quân sự lỗi lạc; nhà thơ lớn của Việt Nam ở thế kỷ XV.
MARSEL SALIMOV (LB NGA)Đất nước ta quá giàu! Vì thế tôi nảy ra ý định muốn cuỗm một thứ gì đó. Những tên kẻ cắp ngày nay chả giống như trước đây. Chúng không thèm để mắt đến những thứ lặt vặt. Cả một đoàn tàu bỗng dưng biến mất tăm! Những nhà máy không thể di dời được, thế nhưng người ta lại nghĩ ra kế chiếm đoạt chúng. Nghe đồn nay mai người ta sẽ bắt đầu chia chác cả đất lẫn nước!
AKILE CAMPANILE(Nhà văn Italia)LTS: Số Tết này, TCSH chọn một truyện ngắn hài hước của một nhà văn Ý, có nhan đề “Ngón nghề kinh doanh”, qua bản dịch của dịch giả nổi tiếng Lê Sơn, để bạn đọc có dịp thư giãn trong dịp đầu Xuân.
HERMANN HESSE Tương truyền thi nhân người Tàu tên Han Fook thuở thiếu thời chỉ thao thức với một khát khao kỳ diệu là muốn học hết mọi điều và tự rèn luyện mình đến hoàn hảo trong tất cả các môn liên quan đến nghệ thuật thi ca.
OLGA TOKARCZUK (Nữ nhà văn Ba Lan)LGT: Nữ văn sĩ Ba Lan Olga Tokarczuk sinh năm 1962 tại Sulechow, Ba Lan. Bà là nhà văn “hậu hiện đại” và “nữ quyền”. Năm 1979 những truyện ngắn đầu tay của bà được đăng tải trên Tạp chí Thanh niên, năm 1989 những bài thơ đầu tay được in trong các tạp chí “Rađa” và “Đời sống văn học”.
NADINE GORDIMER ( Phi), Giải Nobel 1991LGT: Nữ văn sĩ Nadine Gordimer sinh năm 1923 tại Phi. Bà cho in truyện ngắn đầu tay năm 15 tuổi và tiếp tục nghề văn khi còn là sinh viên Đại học Wirwatersrand. Có thời kỳ sách của bà bị chế độ phân biệt chủng tộc Phi cấm đoán. N.Gordimer được trao tặng nhiều giải thưởng văn học, trong đó có giải Nobel văn chương năm 1991.
OLGA TOKARCZUKLGT: Trong số tháng 3 – 2007 (217), Sông Hương đã giới thiệu tới bạn đọc truyện ngắn “Người đàn bà xấu nhất hành tinh” của OLGA TOKARCZUK, một nữ văn sĩ thuộc dòng văn học nữ “hậu hiện đại Ba Lan”. Số báo này, Sông Hương xin giới thiệu tiếp truyện ngắn “Vũ nữ”. Đây là một truyện ngắn độc đáo dựa trên một leimotic “cuộc đối thoại vô hình” giữa người con gái và người cha, láy đi láy lại đến 6 lần, thể hiện cuộc chiến đấu âm thầm dữ dội, tự khẳng định mình trong nghệ thuật, chống lại sức mạnh ám ảnh của mặc cảm “bất tài”.
BERNARD MALAMUDLGT: Bernard Malamud sinh năm 1914 tại Brooklyn, New York, lớn lên trong thời kỳ Đại Khủng hoảng Kinh tế, là người Nga gốc Do Thái trong một gia đình bán tạp hoá. Ông đã xuất bản nhiều tiểu thuyết, truyện ngắn và được nhận nhiều giải thưởng văn học.
RADOI RALIN (Bungari)LGT: Đây là một truyện có ý vị sâu xa với các môtíp sự cám dỗ của quyền lực, “sự đồng loã ngây thơ” với tội ác, sự tự nhận thức và tự trừng phạt. Nhưng trên hết là sự vạch trần và tố cáo sự bịp bợm quỷ kế của giới quyền lực. Đây là một truyện ngụ ngôn mới đặc sắc. Xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc.
ZACE HAMMERTON (Anh quốc)LGT: Truyện dựng chân dung của một kẻ “Sính khiếu nại” “một cách hài hước, bố của John Peters có “Thú đam mê sưu tập tem”. Cách dẫn chuyện tài tình ở cái chi tiết sự ham mê của anh với một loại tem đặc biệt không đục lỗ chiếu ứng với cái kết bất ngờ của truyện “Có của rơi vào tay mà để vuột mất”. Mời bạn đọc thưởng thức.
TOIVO TOOTSEN ( )LGT: Đây là một truyện hài hước thú vị về nạn kẹt xe. Tác giả đã sử dụng một thủ pháp phóng đại đến mức vô lý, không tưởng: một vụ kẹt xe bất tận từ đám cưới đến sinh con, ly dị, tái kết hôn, con vào đại học và kết hôn mà cuộc kẹt xe vẫn chưa kết thúc!. Mượn một tình huống kẹt xe “hoang tưởng” này, nhà văn muốn gởi tới một thông điệp hài hước một cách bi đát: nếu giao thông ở các đô thị lớn không ở các đô thị lớn không được tổ chức một cách khoa học thì từ đời cha đến đời con nạn kẹt xe vẫn chưa được giải quyết. TSCH
JAMES JOYCELGT: James Joyce (1882 - 1941) là một trong những khuôn mặt lớn nhất của văn xuôi Anh - Ailen và châu Âu thế kỷ XX. Ông “là nhân vật trung tâm của văn xuôi hiện đại”, một trong những nhà văn có ảnh hưởng lớn nhất, gây phản ứng mạnh nhất, “một trong những thần tượng của thời đại” đối với văn nghệ sĩ trẻ và giới trí thức châu Âu đương thời.
A THÀNH L.T.S: "Vua cờ" (Kỳ vương) được đăng lần đầu trên tạp chí "Thượng hải văn học" năm 1984. Vừa xuất hiện, "Vua cờ" đã chấn động văn đàn, liên tiếp nhận được nhiều giải thưởng "Trung thiên tiểu thuyết ưu tú" ở cấp tỉnh và trung ương ở Trung Quốc. Tác giả A Thành tên thật là Chung A Thành sinh năm 1949 ở Tứ Xuyên. Đây là tác phẩm đầu tay của ông. Do khuôn khổ tờ báo, chúng tôi không thể in trọn tác phẩm nổi tiếng này khoảng gần 100 trang sách. Dưới đây là chương IV, chương cuối cùng của "Vua cờ".
ROBERT SWINDELLS (ANH)Nếu thế giới này bằng phẳng và nếu bạn có thể nhìn thẳng vào mặt trời đang mọc, bạn sẽ nhìn thấy miền đất nơi Nick và Bruin sinh sống. Nơi ban ngày ẩm nhoẹt còn ban đêm thì ngột ngạt ghê người, nơi mặt trời lên như kẻ thù và gió như muốn bốc cháy.
ALEXANDER VAMPILOV (NGA)Nikolai Nikolaevich Smirnov tin chắc là ông không sống được đến mùa xuân sang năm.