Người coi đèn biển

15:23 15/06/2009
PAUXTÔPXKIChúng ta yêu mến thứ ánh sáng bảo hiểm của những ngọn hải đăng nhưng ít khi nhìn thẳng vào nó. Thường chỉ có những người bảo vệ và các tay lái tàu dán mắt vào hải đăng để kiểm tra bí mật độ loé sáng của nó. Bởi vì tất cả hải đăng trên biển đều nháy và nhấp nhánh khác nhau, theo những tín hiệu đó, người ta có thể biết được hải đăng nào và con tàu đang ở đâu.

Vậy mà hằng năm, ngọn hải đăng Batum vẫn cháy nhưng ít ai biết được cuộc sống của người coi đèn biển Xtavraki. Hơn nữa, từ trong thành phố rất khó nhìn thấy ngọn lửa đèn.

Xtavraki rất am hiểu đèn biển. Ông là người đầu tiên mang đến Ban biên tập báo Hải Đăng 1 bài báo (trong đó kể về những loại đèn biển mới nào đó).

Ông ra ngồi nửa tiếng rồi đi, để lại cho toàn thể chúng tôi - Baben, Uliamxki và tôi - ấn tượng về một con người khó chịu, trâng tráo. Đám râu bạc trắng, cứng tua tủa ở hai bên má vàng nghệ, cặp mắt sưng mọng, nói lên rằng, ông ta đã uống khá nhiều rượu Vốtka những ngày gần đây.

Quần áo ông ta vừa cẩu thả vừa nhàu nát, dường như suốt ngày đêm lăn lộn với nó trên giường mà không chịu cởi.

Xtavraki hay ho sù sụ, sặc mùi thuốc lá khét lẹt. Cùng lúc đó, từ trên cặp má râu lún phún, từ từ lăn xuống mấy giọt nước mắt.

Xtavraki không thích Baben và cũng không thích cặp mắt sắc của anh ấy. Có lần ông ta hậm hực nói với tôi:

- Hắn nhìn gì tôi, cái gã đeo kính này! Tôi ghét con người soi mói ấy. Lùng sục tâm hồn người khác. Tôi có gì trong đầu, chẳng ma nào biết được. Và hắn cũng đừng hòng biết. Tôi là người cho vay nặng lãi hay là thằng móc túi già? Hay kẻ giết người?

Trong một lần khác, ông ta nói:

- Để trở thành một người trông coi đèn biển, cần thiết phải quên sạch quá khứ. Khi đó anh sẽ luôn để ý đến ngọn lửa trên đèn.

- Có khi nào đèn biển tắt không? - Tôi hỏi.

- Chỉ xảy ra khi người bảo vệ đèn chết - Xtavraki cười mỉa - Hoặc là anh ta đã phát điên. Thêm nữa, chỉ trong trường hợp anh là nguồn duy nhất trên hải đăng. Không có ai để thay thế, hoặc là vợ hoặc con gái.

- À, ông có gia đình chưa nhỉ? - Tôi hỏi và ngay lập tức, cảm giác mình đã làm một việc khiếm nhã, khó hiểu, thậm chí cho cả ngay chính bản thân. Xtavraki trả lời thô lỗ và cáu kỉnh:

- Anh bạn trẻ ạ, nếu mà anh muốn giữ được quan hệ tốt với mọi người thì đừng nên động chạm vào những công việc khác. Hay kiếm lấy tờ giấy và ghi vào đấy tất cả đề tài không dẫn đến chuyện đụng chạm, loại đề tài thường bắt nguồn từ tính tò mò vô tích sự.

- Sự thô lỗ không đem lại vinh quang cho ông đâu, Xtavraki ạ - Tôi trả lời.

Xtavraki rút từ túi áo thuỷ thủ một lọ nước hoa "Ôđờcôlôn" * dèn dẹt và uống mấy ngụm, sau đó ông nheo nheo mắt nhìn tôi.

Vài ngày sau tôi có dịp quay lại Batum bằng tàu thuỷ.

Trời đã về chiều. Biển chuyển sang mờ mịt mù sương. Dường như động cơ con tàu đang gõ một cách hoảng hốt trên vùng vực sâu yên tĩnh.

Ngọn đèn biển treo thấp là là trên sa mạc nước hoang vắng. Ở đấy, dường như nó là nơi nương tựa cuối cùng của con người.

Thấp thoáng ánh lửa yếu ớt từ trong các ô cửa sổ. Trên đầu nó sáng loà lửa hải đăng cháy rừng rực, ngạo nghễ và hung dữ giống như lời thách thức được ném ra đối với thế lực hoang sơ, nguyên thuỷ của bóng tối.

Tôi chợt nhớ Xtavraki. Ông ta đang suy nghĩ gì khi ngồi trông ngọn đèn biển: hồi tưởng lại tuổi trẻ, quá khứ giống như những bông hoa đồng nội đã héo quắt lại hoặc lần đọc cuốn sách nào đó, tìm thấy niềm an ủi trong cuộc đời không gặp may của mình.

Tôi, một lần nữa, thương ông già. Nhưng sáng hôm sau, lòng thương đó bị đặt dấu chấm hết một cách bất ngờ và khủng khiép.

Thì ra người trông đèn biển Batum Xtavraki chính là trung uý Xtavraki của Hạm đội Biển Đen vào tháng 3-1996 đã thực hiện hành quyết trung uý Xmit trên hòn đảo Berezanhi.

Chính cái đêm tôi ở trên tàu đi qua gần đèn biển, Xtavraki đã bị bắt và đưa ra trước toà án binh.

Bị thúc bách bởi một nhu cầu nội tâm nào đó và cảm giác ghê tởm, tôi lấy tất cả các bài báo của Xtavraki ở nơi ban biên tập và đốt nó đi. Đáng lẽ, nếu có thể, tôi đốt luôn cả bàn tay đã đưa ra nắm tay Xtavraki. Tôi vứt luôn cả cái ghế gỗ cũ, có chân bằng gang mà Xtavraki đã từng ngồi ra khỏi phòng làm việc và thay vào đó dăm cái ghế mới.

Tôi không biết ai là nhà văn, ai là người am hiểu vĩ đại của tâm hồn con người, có thể mô tả được tâm địa đen tối của Xtavraki, theo dõi được con đường quanh co của sự đê hèn trong đầu và trong tim hắn, có thể Bandắc hay Đôtxtôiepxki?

"Không, tôi nghĩ - không thể ngủ - Tôi ngột ngạt từng đêm vì trong căn phòng này, cách đây không lâu, con người đó từng ngồi. Bóng đêm của tôi từ đó đến nay dường như bị thấm đẫm hơi thở chua loét của kẻ nghiện rượu và thuốc. Không, không phải là Đôtxtôiepxki. Lẽ ra, tôi có thể viết về hắn nhưng không bao giờ muốn. Không bao giờ! Vì rằng sự nhân hậu đã có thể vĩnh viễn tắt ngấm trong trái tim kiệt sức bởi va đập với cuộc đời của Xtavraki.

Cuộc sống này đậm đặc sự phản bội đen đúa. Sự phản bội lớn lên vì rặt những điều vặt vãnh tầm phào: mong muốn thêm một ngôi sao trên ve áo, được trở nên đẹp đẽ hơn trước phụ nữ, từ nỗi sợ hãi kiểu nô lệ trước mọi chính quyền - sợ từ người quét sân đến ông hoàng đế - khát vọng sống giàu có, vô tâm, không phải suy nghĩ gì cả, liếm mút cuộc sống keo kiệt như mỏ con chim đa đa, và thay thế tình yêu bằng sự cưỡng bức những cô người ở nết na. Nếu như khát vọng đã thoả mãn, tất nhiên không có gì nguy hiểm hơn nữa.

Xtavraki tốt nghiệp Học viện Hải quân cùng Xmit. Suốt những năm tháng ở trong trường, họ cùng ngồi một bàn và tất cả những năm học này, Xtavraki bị dày vò bởi nỗi ghen tị với Xmit.

Hắn ghen tị về lòng hào hiệp, sự dũng cảm xả thân vì bạn. Hắn ghen tị với bạn như ghen với chính vị anh hùng tương lai, quan chấp chính hay là nhà lãnh tụ.

Hắn hiểu rằng Xmit có thể làm được điều đó và với những tư chất như thế, một khi cuộc đời cho cơ hội, Xmit sẽ đạt vinh quang bất tận.

Trong thời gian này, Macxim Goocki đã từng nói những câu nổi tiếng về một loài người vô tri vô giác nó giống như một loài sâu bọ.

Xtavraki căm ghét Goocki vì ông dường như trong một ánh chớp rực đã nhìn thấu tới tâm can đen tối của hắn.

Khi Xtavraki và Xmit ra chia tay nhau sau lễ tốt nghiệp, Xmit nói với hắn:

- Misa, trong tâm hồn cậu không có cốt lõi.

- Không, có đấy- Xtavraki giận dữ - Còn cậu giở cái trò gì ra đấy: Bò vào tâm hồn người khác?

- Nếu có lỗi - Xmit nói và chăm chú nhìn Xtavraki - thì nó không bằng sắt mà bằng cao su. Đừng có rơi vào chuyện xấu xa nhé.

- Công việc của tôi - Xtavraki bị kích động trả lời - là trong bất kỳ trường hợp nào cũng không lấy một con điếm làm vợ. Để cứu cô ta và cùng tuôn hàng đống nước mắt vì quá khứ buồn giống như cậu đang chuẩn bị làm.

- Đủ rồi - Xmit nổi cáu trả lời - Mỗi người một con đường. Tôi chỉ có thể cầu Chúa cho con đường của chúng ta không gặp nhau.

Và như vậy, họ chia tay nhau để gặp nhau trên đảo Beređanhi trong cái ngày nổ súng.

Không hiểu ở đâu, một thứ bình minh lạnh lẽo, nhăn nhúm tuôn ra trên miền xa xăm thảo nguyên. Từ thuyền, người ta đưa Xmit và những người lính thuỷ lên bờ, tới chỗ có hàng cột chôn xuống đất.

Chỉ huy bắn là Trung uý Xtavraki. Khi Xmit đi qua hắn, Xtavraki quì gối và nói:

- Hãy tha thứ cho tôi, Pêchia, nếu có thể...

- Đứng lên, Misa, đừng chùn tay - Xmit nói - thôi cái trò õng ẹo đi. Tốt nhất, cậu hãy nói với những người của cậu để họ ngắm chính xác hơn.

Cái gì đã ở trong tâm hồn Xtavraki? Rõ ràng là không có cái gì ngoài mong muốn nhanh chóng tách khỏi Xmit, tách khỏi lời quở trách. Nhưng chính từ giờ phút này trở đi, Xmit đã bắt đầu làm phiền cuộc đời của Xtavraki, còn anh cảm thấy mình kiên định, thành công.

Xtavraki đứng dậy, vội vã phủi bụi ở quần và kết thúc cuộc xử bắn thật nhanh cho xong việc, cố gắng không nhìn Xmit đang đứng chắn trước các thuỷ thủ.

Một ý nghĩ hoàn toàn không cần thiết và đểu cáng cứ ám ảnh hắn cho tới tận lúc Xmit chưa ngã úp sấp mặt xuống đất, liệu Xmit có biết hắn là sĩ quan duy nhất của Hạm đội Biển Đen tình nguyện đồng ý bắn anh ta? Tất cả sĩ quan, ngay cả những người theo chủ nghĩa quân chủ cực đoan nhất, đều dứt khoát từ chối công việc này.

Nhanh chóng, Xtavraki nhận thấy các đồng nghiệp bằng mọi cách, cố gắng tránh chạm vào tay hắn.

Từ đó trở đi, hắn chịu khó làm việc và sống thu mình, kín đáo. Lẩn tránh mọi người, chờ đến trước ngày bùng nổ Cách mạng, chạy ra Xêvaxtôpôn và ở đây hắn bắt đầu cuộc đời người coi đèn biển Batum.

Xtavraki ở lại đó cho đến khi chính quyền Xôviết thắng lợi hoàn toàn.

Vụ án Xtavraki có một điều khá đặc biệt: Không ai hiểu tại sao hắn vẫn giữ cái tên thật cho tới khi bị bắt. Tại sao hắn không đổi tên ngay sau khi Cách mạng thành công? Khi người thẩm phán hỏi Xtavraki chuyện này, hắn trả lời:

- Dưới bất kì cái tên nào, người ta cũng có thể tìm được tôi thôi. Càng sớm càng tốt. Họ tìm tôi hơi chậm đấy.

- Nghĩa là anh mong muốn bị bắt?

- Đó không phải là việc của ông - Xtavraki trả lời.

Hắn được lấy khẩu cung khá đầy đủ - lời nói cuối cùng của Xtavraki ngắn và làm kinh ngạc mọi người trong phiên toà:

- Tóm lại - Hắn nói giọng khô lạnh với hơi thở dài nhẹ nhõm - Lạy Chúa, cuối cùng đã kết thúc cái việc quá ư chậm chạp. Một cái chết xứng đáng cho con chó.

Quan toà, thậm chí, rùng mình nhìn hắn trừng trừng. Hắn đứng, mắt cụp xuống, tay giữ những sợi chỉ từ ống tay rách của chiếc áo thuỷ thủ. Và không nói thêm một lời nào nữa.

NGUYỄN THIÊN VIỆT (dịch)
(177/11-03)

-----------------
*Những người nghiện rượu nặng ở Nga thường uống nước hoa thay rượu vì có độ cồn nặng.

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • SORBON (Tajikistan)Sorbon sinh năm 1940 tại làng Amondar  trong một gia đình nông dân  thuộc  tập đoàn sản  xuất nông nghiệp. Năm 1963 ông tốt nghiệp Đại học Lenin của Tajikistan với bằng tiến sĩ ngôn ngữ học. Các tác phẩm của Sorbon xuất hiện lần đầu vào năm 1965. Tuyển tập truyện ngắn đầu tiên của ông “Không phải tất cả đã được nói ra” xuất bản năm 1969. Nhiều truyện ngắn của ông mau chóng được thu thập lại, trong đó có truyện “Ngày đầu tiên đến trường” nói về một phụ nữ Tajikistan  trong Thế chiến thứ Hai, “Sự phòng thủ của đá” và “Người du mục” nói về sự thiết lập chính quyền Xô Viết tại ngôi làng ven sông Zeravshan, và “Áo khoác đồ sộ” nói về một cậu bé bị mất cha trong chiến tranh. Sorbon là nhà văn có tiếng tăm lớn của nền văn xuôi Tajikistan ở thập niên bảy mươi. Truyện ngắn “Người đánh bẫy chim” được viết năm 1974.

  • MISHIMA YUKIO (Nhật Bản)Nhà văn Nhật Bản Mishima Yukio (1925 - 1970) bắt đầu in các tác phẩm của mình từ những năm 20 tuổi. Ông được tặng nhiều giải thưởng văn học và ba lần được đề cử vào giải Nobel văn chương.

  • SLAWOMIR MROZEK (Ba Lan)(Lê Bá Thự dịch từ nguyên bản tiếng Ba Lan)

  • ALPHONSE DAUDETSự kiện phản ánh trong truyện xảy ra năm 1871, thời kỳ chiến tranh Pháp - Phổ, khi quân đội Phổ (Đức) đã chiếm đóng và sáp nhập hai tỉnh Alsace và Lorraine của Pháp vào lãnh thổ Đức.

  • DOMINIQUE DE VILLEPINTác giả Dominique de Villepin, sinh năm 1953, đương kim Bộ trưởng Ngoại giao Pháp, là người phát ngôn cho chính sách hòa bình đối lập với đường lối chiến tranh Bush-Blair trong vụ tập kích Irak đầu năm 2003. Nơi đầu sóng ngọn gió của bang giao quốc tế, ông đã đồng thời cho xuất bản một khảo luận về Thơ, Ngợi ca những Người Cướp Lửa, tượng trưng cho Người Làm Thơ, qua hình ảnh mượn của Arthur Rimbaud, lấy từ huyền thoại Prométhée.

  • MARK TWAINTwain, Mark, (Samuel Langhorne Clemens), nhà văn Mỹ, (1835-1910). Sinh tại Florida, bang Missouri. Là con thứ tư trong một gia đình thương nhân nghèo. Chưa đầy 12 tuổi, Clemens đã phải thôi học để học nghề sắp chữ in, rồi làm đủ nghề. Năm 1853, bị thôi thúc bởi ý muốn tìm hiểu thế giới, lên đường đi nhiều nơi, làm thợ in công nhật ở St. Louis, New York và Philadelphia. Đến sông Mississipi, hành trình dự kiến đi Brazil bị đình lại vì Clemens lại mơ ước trở thành hoa tiêu trên sông.

  • HARUKI MURAKAMI (Nhật Bản)Chàng và nàng đang đi trên một con đường. Dọc bãi tha ma. Lúc nửa đêm. Sương mờ vây phủ. Họ tuyệt nhiên không định đi ở nơi chốn này vào lúc này. Nhưng vì các nguyên do khác nhau họ đã buộc phải đi. Họ bước vội vàng, nắm chặt tay nhau.

  • GRAHAM GREENE (Anh)Có tám người đàn ông Nhật đang ăn bữa tối ở nhà hàng cá nổi tiếng Bentley's. Họ chỉ trao đổi với nhau dăm ba câu bằng thứ tiếng mẹ đẻ khó hiểu của họ, nhưng luôn có nụ cười nhã nhặn và thường mỗi câu lại kèm một cử chỉ cúi đầu lịch thiệp. Tất cả tám người, trừ có một, đều đeo kính. Thỉnh thoảng cô gái xinh đẹp ngồi phía cửa sổ lại đưa một cái nhìn lướt qua họ, nhưng xem ra chuyện của cô ta quá quan trọng, khiến cô ta không thể thực sự chú ý tới bất kỳ ai trên đời ngoài chính mình và người ngồi cùng bàn.

  • VICTORIA CHIE (ÚC)Cảm giác xấu hổ như kẻ đang làm điều mờ ám, Anne Peterson đặt bút run run ghi tên mình vào phần trống trong bản tự giới thiệu của văn phòng môi giới hôn nhân. Chẳng lẽ lại đến nông nổi này sao? 49 tuổi, trông còn rất trẻ, duyên dáng, đầy sức sống, thành đạt, vật chất đầy đủ, đã ly dị, thế mà phải nhờ môi giới kiếm cho một tấm chồng. Mà anh ta là ai, cũng là một kẻ nào đấy tìm đến đây với những dòng tự giới thiệu cứng nhắc. Thôi, đành vậy chứ biết sao, chỉ vì quá yêu con gái Cindy mà Anne đã phải chịu đựng nỗi trống trải cô đơn ròng rã suốt bao năm trời.

  • NGÔ KIM LƯƠNG (Trung Quốc)"Nếu còn gặp người, nhất định phải nói", Trần Tĩnh đang nghĩ, ngước mắt lên nhìn ánh đèn vàng vọt trong ngõ nhỏ. Đêm khuya rồi, khắp nơi là hình ảnh kỳ quái của một màn đêm đen kịt. "Ai cha! Chiếc xe đạp xui xẻo này!" - Cô đẩy chiếc xe, không biết phải nói thế nào.Sau lưng vang lên một hồi chuông xe đạp, Trần Tĩnh "ai cha" một tiếng, chàng trai cưỡi xe đạp đã lướt vèo qua rồi.

  • S.MROZEKCó một lần tôi đi du lịch.Vì không có tàu trực tiếp đến nơi tôi cần tới nên tôi phải xuống một ga dọc đường để chuyển sang tàu khác.Hôm đó là một buổi tối. Mãi sáng hôm sau con tàu tiếp theo tôi sẽ phải đi mới đến.Tôi rời nhà ga, vào thị trấn để kiếm nơi ở trọ.

  • JOYCE BEGG (Úc)Bà Firbank trở thành hàng xóm của chúng tôi đã lâu, dễ đến sáu bảy năm nay, nhưng thật sự trong chúng tôi chẳng ai dám khẳng định mình biết rõ về người đàn bà này. Xung quanh bà ta lúc nào cũng bao phủ một bầu không khí bí hiểm, ma quái, ngay cả toà dinh thự cổ của bà ta cũng gợi cho người ta cái vẻ rờn rợn, lạnh lẽo giống như nơi trú ẩn của những linh hồn cõi âm.

  • KRISHNAN VARMAKrishnan Varma sinh ở Kerala, Ấn Độ. Ông viết bằng hai thứ tiếng Anh và Malayalam. Trong nhiều tác phẩm của mình, ông chia sẻ sự quan sát đối với cuộc sống của lớp người cùng khổ trên đất nước ông.

  • ARTURO VIVANTELời giới thiệu: Nhà văn Arturo Vivante sinh năm 1923 ở Rome, tốt nghiệp cử nhân đại học McGill, Canada, 1945, tốt nghiệp y khoa đại học Rome, 1949. Ông hành nghề bác sĩ toàn khoa, đồng thời sinh hoạt và nghiên cứu về văn chương ở một số trường đại học Mỹ. Vivante là nhà văn rất nổi tiếng với các truyện cực ngắn và các giai thoại.

  • KÔNXTANTIN PAUXTÔPXKI Mùa Thu. Những hạt sương mai tháng Chín lạnh giá, mọng nước rơi tung tóe từ những tán lá trên cao xuống và bắn cả vào người tôi. Sương từ các nhành cây nhỏ giọt xuống mặt nước sông đen thẫm, tạo thành những vòng tròn và chậm rãi lan ra xung quanh.

  • LTS: Mario Bendetti sinh tại Paso de los Toros (Tacuarembó ) ngày 14 tháng 9 năm 1920. Ông theo học tại trường tiểu học tiếng Đức ở Montevideo và trường trung học Miranda, đã từng làm nhiều nghề như nhân viên bán hàng, tốc kí, kế toán, viên chức nhà nước và phóng viên. Từ năm 1938 đến 1941 ông sống chủ yếu ở Buenos Aires . Năm 1945, khi trở về Montevideo, ông viết bài cho tuần báo nổi tiếng Marcha, qua đó trở thành phóng viên bên cạnh Carlos Quijano và rồi trở thành một thành viên trong ê-kíp của ông này cho tới tận năm 1974 khi tuần báo ngừng xuất bản.Năm 1973, vì lí do chính trị, ông phải rời bỏ tổ quốc,bắt đầu cuộc sống lưu vong kéo dài mười hai năm ở những quốc gia: Ác-hen-ti- na và Tây Ban Nha. Quãng thời gian này đã để lại những dấu ấn vô cùng sâu sắc trong cuộc đời ông cũng như trong văn nghiệp.

  • YUKIO MISHIMA (Nhật Bản)YUKIO MISHIMA tên thật là HIRAOKA KIMITAKE (1925-1970). Sinh tại Tokyo.Tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Tokyo . Nhà văn, kịch tác gia, đạo diễn sân khấu và điện ảnh, diễn viên.Năm 16 tuổi đã xuất bản truyện vừa lãng mạn Khu rừng nở hoa. Tiểu thuyết Lời thú tội của chiếc mặt nạ ra năm 1949 đã khẳng định tên tuổi của nhà văn trẻ tài năng và trở thành tác phẩm được đánh giá là kinh điển của nền văn học Nhật Bản.

  • KOMASHU SAKIO (Nhật Bản)Sinh 28/1/1931 tại Osaka (Nhật Bản). Nhà văn chuyên viết truyện khoa học giả tưởng nổi tiếng của Nhật Bản.Tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Kyoto , chuyên ngành Văn học Italia.Từ năm 1957 là phóng viên Đài Phát thanh Osaka và viết cho một số các báo. Năm 1961 chiến thắng trong cuộc thi truyện ngắn giả tưởng xuất sắc do tạp chí "SF Magasines" tổ chức.Tác phẩm của Komatsu đã được dịch ra rất nhiều thứ tiếng trên thế giới.

  • S. MROZEK (Ba Lan)Có lần tôi bắt gặp một con chó ác bụng đang rượt đuổi một con mèo. Bởi tôi là người yêu động vật nên tôi bèn vớ ngay một cục đá to sụ quẳng vào con chó khiến nó ngã lăn quay, nằm đứ đừ một hồi lâu. Chú mèo nhỏ không nhà, con vật bé xíu nom mệt phờ râu. Không chút do dự - tôi cho nó nương nhờ. Đây quả là một con mèo đẹp mã, lông mịn màng, mắt long lanh. Tôi đem nhốt nó vào trong nhà, đoạn bỏ đi chơi bời trác táng.

  • KITA MORIO (Nhật Bản)Kita Morio (sinh năm 1927) là nhà văn thuộc thế hệ hậu chiến của Nhật Bản. Tốt nghiệp Đại học Y. Năm 1960 được trao giải thưởng mang tên Akutagawa với truyện ngắn Trong bóng tối đêm, cốt truyện xảy ra trong một bệnh viện tâm thần ở Đức thời kì Chiến Tranh Thế Giới thứ II. Nổi tiếng với các tác phẩm giả tưởng khoa học và chống chiến tranh.