Ngón tay chỉ mặt trăng - Ảnh: thanhcavietnam.net
Vào thiền ngồi quán cửa không Mà sao thấy núi thấy sông2 như là Đường lành Cực lạc thì xa Đường gai dậm xuống Ta bà thì đau Phật Đà đã nói gì đâu3 Chúng sinh vọng mống truy cầu đảo điên Căn trần thức4 dụ nhân duyên Tiếng chuông vô ngã buông liền quả mê Sắc thân ngỡ cội Bồ Đề5 Thiền na rụng ngón6 trăng về cõi không... ------------------ (1) - Ngón trăng tức ngón tay chỉ trăng. Phật nói giáo lý của Ngài như ngón tay chỉ mặt trăng chứ không phải là trăng. Ngón tay là phương tiện hoặc chân lý tương đối (tục đế), còn mặt trăng biểu tượng cho mục đích là Đạo, là chân lý tuyệt đối (chân đế). Đừng nhầm ngón tay với mặt trăng. (2) - Trong giới thiền môn có một thiền thoại phát xuất từ kinh nghiệm tu chứng của Thiền sư Thanh Nguyên Duy Tín, rằng: Khi chưa tu thấy sông là sông, núi là núi. Khi tu rồi thấy sông không còn là sông núi không còn là núi. Khu tu đã ngộ lại thấy sông là sông núi là núi. Tuy nhiên, cái “thấy” sông là sông núi là núi khi chưa tu và khi đã đắc đạo là hai cảnh giới (trạng thái) khác nhau. Một đằng là thấy bằng sự tác ý phân biệt (nhị nguyên), một đằng là thấy bằng trực giác uyên nguyên, giữa cái thấy và cái bị thấy không có sự phân biệt. Có một chuyện thiền rất điển hình về cái “thấy” này: Sư Trí Thông: “Ta đại ngộ rồi”. Thiền sư Quy Tông hỏi: “Nhà ngươi thấy được đạo lý gì mà nói là đại ngộ?”. Trí Thông đáp: “Ni sư là đàn bà”. Quy Tông kinh ngạc gật đầu chứng khả. (3) - Phật Đà: một trong những danh hiệu của Phật Thích Ca (không phải Phật A - Di - Đà), sau 49 năm thuyết pháp, cuối cùng Ngài nói: “Ta chưa nói pháp nào cả”. (4) - Căn, trần, thức là các yếu tố trong cấu trúc của Tâm (theo duy thức học) và cũng là những món mục, những tác nhân trong thập nhị nhân duyên (nhân quả). (5) - Bồ Đề: sự giác ngộ, tĩnh thức, chứng quả vị thánh. Thần Tú là đệ tử xuất sắc nhất về mặt học vấn của Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn và là người khả dĩ nhất nối tổ dòng thiền, có làm bài kệ rằng: Thân là Bồ Đề cội Tâm như gương sáng đài Ngày ngày siêng phủi bụi Khỏi bị nhuốm trần ai Huệ Năng khi đó chưa có danh phận gì, thậm chí chưa được xuống tóc như một sa di nhưng đã chứng đạo và làm bài kệ “phản biện”: Bồ Đề vốn không cội Gương sáng chẳng phải đài Nguyên chẳng có một vật Sao gọi phủi trần ai Qua 2 bài kệ, Ngũ Tổ thấy Huệ Năng có trình độ tâm chứng diệu hữu hơn và truyền tâm ấn để Huệ Năng trở thành Lục Tổ Thiền tông. (6) - Sư Câu Chi thường giơ một ngón tay lên khi có ai hỏi về cốt chỉ của đạo Phật. Một chú tiểu bắt chước liền bị sư chặt đứt ngón tay. Chú tiểu bỏ chạy, sư đuổi theo. Khi chú tiểu vừa quay đầu lại thì sư giơ ngón tay lên, lập tức chú tiểu hoát ngộ. Mục đích rốt ráo của thiền là làm cho “rụng” ngón tay chỉ trăng và đưa trăng về cõi không. (SDB 10-2010) |
LÊ VĨNH THÁI
LÊ TẤN QUỲNH
PHẠM TẤN HẦU
NGÔ MINH
LÊ HUỲNH LÂM
TRẦN VÀNG SAO
LÊ THỊ MÂY
Nguyễn Thanh Văn sinh tại Huế, hiện sống ở Tp HCM. Anh đã xuất bản: Bài ca buồn gửi cố hương (2001), Lỡ hội trăng rằm (2004), Dự cảm (2011).
BẠCH DIỆP
NGUYỄN QUANG HÀ
HẢI BẰNG Tặng Nguyễn Khoa Điềm
LÊ THỊ MÂY
VÕ QUÊ
LGT: Ưng Bình Thúc Dạ Thị sinh ngày 9 tháng 3 năm 1877 tại Vĩ Dạ, Huế. Là chắt nội của vua Minh Mạng, hoạn lộ hanh thông, nhưng có lẽ vốn cũng là cháu nội nhà thơ Tuy Lý Vương nên ông đắm đuối trải lòng với thi ca.
LGT: Thơ, có thể không phải là câu chữ, có thể chỉ dành cho một số rất ít, đặc biệt điều đó càng được khẳng định trong thời đại ngày nay. Điều đáng nói đã được tác giả diễn ngôn và thi ca là những gì còn lại phía bên trong mỗi tâm hồn, như một sự khải huyền của thế giới khác trao gửi chúng ta. Trong chừng mực nào đó, Bạch Diệp đã tiếp nhận âm hưởng của thi ca từ bên ngoài rào cản duy lý. Đó là phần tinh túy của thơ chỉ dành riêng cho những thi sĩ không bị chi phối ở bất kỳ hoàn cảnh nào. Sông Hương giới thiệu ba bài thơ mới nhất của Bạch Diệp.
XUÂN HOÀNG
Năm 1813, Nguyễn Du trở lại Thăng Long, chuẩn bị cho chuyến đi sứ sang Trung Quốc, dưới triều Nguyễn. Bấy giờ Nguyễn Du đã ngoài 40 tuổi, đã chứng kiến sự thay đổi của ba triều đại phong kiến, sự đổ vỡ, tàn lụi của chính gia đình ông, một gia đình quan lại lớn, gắn bó với các triều đại ấy.
L.T.S: Trần Vàng Sao tên thật là Nguyễn Đính, sinh năm 1942 ở Vỹ Dạ, Huế. Anh là một trong những sinh viên đầu tiên tham gia cách mạng ở Huế trong kháng chiến chống Mỹ.
HỒNG NHU
VIÊM TỊNH