Kỷ Niệm Ngày Thương Binh Liệt Sỹ 27/7
BÙI XUÂN HÒA
Ghi chép
Trại Phú Hải - Côn Đảo. Ký họa của họa sĩ Đặng Mậu Triết
Sau cái rung lắc nhẹ hạ độ cao, chiếc ATR 72 đưa tôi lần đầu tiên tới Côn Đảo. Sân bay Côn Đảo hiện ra sau những rặng dày cỏ ống, đúng như tên gọi trước 1975 của nó: “Phi trường Cỏ Ống”. Một tia nắng hắt nóng ngay khi chạm vào Côn Đảo để bắt đầu hành trình ước mơ. Mùa này, tháng Tư, nắng chiều thường lấp ló vì trời có khi nhiều mây bất chợt nhưng một khi lọt qua được tầng mây, tia nắng ấy sẽ khá gắt. Không hiểu sao tôi lại suy nghĩ nhiều về “cái nắng” khi nghĩ về Côn Đảo. Có lẽ nó bắt nguồn từ những câu chuyện kể từ thuở ấu thơ của ông ngoại tôi - Nguyễn Hồng và cha tôi - Bùi Xuân Khả, cựu tù chính trị Côn Đảo. “Phòng tắm nắng” (hình thức đày đọa tù nhân khi nhốt họ trong những phòng giam không mái che)... “Nắng đau nhức mắt” - cảm giác đau đớn tột cùng của tù nhân sau nhiều tháng bị cầm cố trong hầm đá tối... Không ít người đã không còn thấy lại nắng...
Cầm tấm sơ đồ hệ thống nhà lao Côn Đảo do cha tôi vẽ tay cẩn thận trên hai mặt giấy vở học trò, tôi lần tìm thực địa theo những dấu chấm đỏ ghi chính xác ngày tháng cha tôi nằm, giai đoạn 1969 - 1974, ở các trại 1, 6 và 7. “Con cố gắng chụp cho ba một tấm hình ở Phòng 5 Trại 1” - lời cha tôi dặn trước lúc đi. Lòng vòng dưới nắng gần cả tiếng. Phòng 5 Trại 1 đây rồi! Cánh cửa sắt đã hoen gỉ. Mái đã tốc hơn nửa. Ngói vỡ đổ xuống nền xi-măng giờ đã bị cỏ phủ kín. Tôi bần thần đứng giữa gian xà lim cha tôi đã từng ở tháng 5 năm 1971.
“Đó là nơi ba gặp ông ngoại con sau đợt tuyệt thực dài ngày. Ông ngoại con hứa: tôi có đứa con gái, sau này hòa bình, đất nước thống nhất, hai ta còn sống, trai chưa vợ, gái chưa chồng, hai đứa yêu nhau thì ông gã”. Lời hứa đó đã được thực hiện sau ngày 30/4/1975... Ông ngoại tôi đã ở Côn Đảo 20 năm...
Nước mắt tuôn trào khi tôi hình dung cả một thời tuổi trẻ của họ nơi “địa ngục trần gian” này. Lời hứa giữa hai người đồng chí, đồng hương, bền gan, vững tin vào ngày hòa bình. Từ trong tăm tối của Trại 1, lời ước hẹn chứa đựng khát vọng tự do đã được hoàn thành một cách kỳ diệu. Tựa như có một ánh nắng vẫn sáng ngời trong tâm trí - dấu hiệu quy ước giữa hai người bạn tù toát ra qua ánh nhìn từ hai góc phòng. Vòng tay vẫn như choàng vào nhau dẫu cổ chân vướng xích. Bệ xi-măng, nơi còng chân những người tù chính trị ngày trước vẫn như còn ấm từng dấu nằm, dấu ngồi và lời thì thầm trao truyền nhau nhắc thuộc toàn bộ Truyện Kiều của Nguyễn Du. Phòng giam tù chính trị Côn Đảo với nhiều giáo sư, trí thức, sinh viên, học sinh trước 1975. Mỗi người thuộc một đoạn, dần dần bổ sung cho nhau để hoàn chỉnh 3254 câu thơ trong truyện thơ lục bát nổi tiếng của Đại thi hào. Hoạt cảnh thơ Truyện Kiều đã vang lên đầy thi vị trong những buổi biểu diễn văn nghệ đón Tết. Từ trong ngục tù, hình ảnh của Thúy Kiều, Thúy Vân, Kim Trọng, Từ Hải vẫn tái hiện trọn vẹn trong đêm chuyển qua ngày mới. Truyện Kiều cho họ khí phách và niềm tin mạnh mẽ như nắng tháng Tư, xua tan đi đêm dài để tới ngày đoàn viên.
Toan bước ra khỏi Phòng 5 Trại 1 thì bất ngờ một cảm giác nhói đau ở bàn chân. Một nhúm bông cỏ mật gai rơi xuống giày từ lúc nào xuyên vào da như một sự níu giữ sâu sắc từ quá khứ. Ngẩng nhìn lên, một tia nắng hắt mạnh qua tán lá bàng và mái ngói vỡ. “Ngày xưa ông ngoại và ba con thường nhìn qua ô thông gió đó để ngắm nắng và vững tin” - lời ông tôi kể hồi còn sống. 26 độ C. Độ ẩm 89%. Gió nhẹ. Một điều kiện lý tưởng để thực hiện cự ly 6 cây số chạy bộ dọc biển và để đắm đuối với thị trấn Côn Đảo sạch và xanh mướt. Trong cả hai buổi sáng sớm với Côn Đảo, tôi hít trọn vào lồng ngực những luồng khí trong lành từ biển, đặc biệt là những lúc chạy ngược gió trên đoạn đường Tôn Đức Thắng băng qua Nguyễn Chí Thanh gần Bãi Lò Vôi. Chỉ chạy bộ mới cảm nhận được sự tự do và yên bình trên đảo. Hàng đàn chim sẻ sà xuống ngay trước từng bước chân chạy tới, gợi liên tưởng những “con đường chim” xa xưa nơi xứ Huế quê tôi. Chim sẻ ở đây rất dạn, không e ngại con người bởi dường như chẳng có ai muốn làm mất đi một chút gì của Côn Đảo. Khi nắng sớm vừa nhô qua dãy núi bên hòn Bảy Cạnh, từng cánh chim nhảy nhót theo tia nắng. Đàn sẻ rướn người lên một chút để đặt đôi chân mỏng manh trên triền đê biển, nơi chúng có thể sưởi được nắng nhiều hơn và đón chào bình minh nồng nàn hơn. Cuối cùng, bọn chim sẻ cũng nói lời tạm biệt với tôi khi tôi chạy ngược trở về. Ngoái nhìn lại, những đôi chân mỏng manh vẫn lách tách hồn nhiên trên bãi Lò Vôi, chăm chỉ tô điểm cho bức tranh thiên nhiên sống động của Côn Đảo đang sáng dần lên trong nắng mới.
Cùng tham gia lúc bình minh với tôi là nhà thơ Võ Quê - cựu tù chính trị Côn Đảo giai đoạn 1972 - 1973 và họa sĩ Đặng Mậu Triết - người thực hiện cuộc triển lãm tranh “Ký họa Côn Đảo” tại Bảo tàng Côn Đảo dịp kỷ niệm 30 tháng 4 năm nay. Nếu như 12 bức bút sắt vẽ các cổng nhà lao Côn Đảo của họa sĩ Đặng Mậu Triết chứa đựng khát vọng bứt phá gông cùm “mạnh mẽ như nắng Côn Sơn” thì nhà thơ Võ Quê đến với đảo lần thứ bảy để sống lại lần nữa với cảm xúc mà ông đã viết trong tập Lục Bát Côn Đảo: “Chênh vênh đá tắm máu người/ Biển xao sóng vỗ trao lời nước non/ Đường vào địa ngục trần gian/ Dẫu trong nỗi chết giữ tròn hiếu trung” (Cầu Tàu - 1972). Tại cầu tàu 914 (đặt theo con số tù nhân khổ sai bỏ mạng để dựng cầu tàu), ba anh em chúng tôi cùng chụp những bức ảnh ngược sáng để tôn vinh nắng bình minh Côn Đảo.
Hòa vào dòng nước mát của biển Côn Đảo, chúng tôi dễ dàng vớt được những cọng rong biển ngay khi vừa chạm chân xuống. Đó là dấu hiệu cho thấy một môi trường biển hoàn toàn sạch, không bị ám ảnh của rác thải. Tôi đưa cọng rong biển xanh nhạt cho họa sĩ Đặng Mậu Triết. Anh tần ngần cầm trên tay như đang cảm nhận một sự trợ duyên nào đó từ biển. Không ngờ chỉ sau đó hai tuần, cái màu xanh nguyên sơ của rong biển Côn Đảo lại ẩn hiện đâu đó trong màu xanh mơn mởn của đọt su su Tam Đảo khi ông bạn họa sĩ vong niên của tôi vẽ bức sơn dầu trong một trại sáng tác ở vùng núi đá Đông Bắc. Tôi chưa kịp nói ra ý nghĩ đó với họa sĩ nhưng chắc chắn trong tâm trí ông, mảng xanh Côn Đảo hòa trong nắng sẽ còn lưu cữu trong những đêm vẽ mất ngủ của ông sau này.
Tháng Tư ở Côn Đảo. Tôi nhìn thấy những tia nắng rạng ngời niềm tin trong ánh mắt của những người bạn mới quen. Đó là thầy giáo Tuyến, quê làng La Chữ, Thừa Thiên Huế, người đã có 8 năm gắn bó với mái trường Võ Thị Sáu. Đó là anh Dũng, nhà trong Thành Nội, ra đảo đã 25 năm, hiện đang thành công với nghề kinh doanh sinh vật cảnh. Cả hai tâm sự chưa từng có hai chữ “Côn Đảo” trong bộ nhớ nhưng những ngã rẽ cuộc đời lại đưa họ đến với hòn đảo giàu trầm tích này để xây dựng tương lai cho chính mình và cho cộng đồng hơn 8 ngàn người dân ở đảo. Đặc biệt hơn cả là trường hợp của Liên, cô chủ Khách sạn Sài Gòn 68, nơi chúng tôi lưu lại trong những ngày Côn Đảo. Quê miền Tây, Liên đã vực dậy sự nghiệp kinh doanh xuống cấp của gia đình tại thành phố Hồ Chí Minh sau những lần ra Nghĩa trang Hàng Dương viếng mộ “cô Sáu” (Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân Võ Thị Sáu). Trong những ngày bế tắc nhất của gia đình, những lời cầu nguyện tại mộ phần chị Sáu đã giúp Liên có thêm sức mạnh vượt qua mọi trở lực khi về lại đất liền. Một sức mạnh vô hình nào đó đã giúp gia đình Liên đồng lòng, đồng sức chống chọi thắng mọi trắc trở. Liên tự coi mình là người con, người em của chị Sáu. 37 tuổi, Liên quyết định rời đất liền, chọn Côn Đảo lập nghiệp lâu dài với dự định phát triển “du lịch xanh bền vững” để tri ân “cô Sáu”.
Buổi chiều cuối cùng ở Côn Đảo, tôi được Liên rủ đi chụp hình ở Vịnh Cá Mập. Mặt trời hạ dần sau Hòn Bà, thả chùm nắng xuống Vịnh làm biến sắc màu nước. Không biết nước có ấm không, riêng ống kính của tôi thì nóng lên khi một lần nữa quyết định chụp ngược sáng. Cô chủ khách sạn trẻ lần đầu tiên mặc áo dài ở Côn Đảo, đang đứng tạo dáng trên mỏm đá tỏa nắng tháng Tư.
Côn Đảo, cuối tháng Tư, 2018
B.X.H
(TCSH353/07-2018)
50 năm ngày mất Giáo sư Đặng Văn Ngữ
ĐẶNG NHẬT MINH
Nhân 110 năm ĐÔNG KINH NGHĨA THỤC (1907 - 2017)
TRẦN VIẾT NGẠC
NGUYỄN HOÀNG THẢO
Trước khi có chợ, bên ngoài cửa Ðông Ba (cửa Chánh Đông) dưới thời vua Gia Long có một cái chợ lớn mang tên “Qui Giả thị” - chợ của những người trở về.
NGUYỄN KỲ
Cuộc vận động tranh cử và “đấu tranh nghị trường” trong thời kỳ 1936 - 1939 do Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo là một bộ phận đặc biệt trong cuộc đấu tranh vì quyền dân sinh dân chủ ở Việt Nam.
DÃ LAN NGUYỄN ĐỨC DỤ
Thú thật với độc giả, một trong những điều vui thú nhất của tôi - cho tới nay tôi vẫn say mê - là sưu tầm khảo cứu về Phổ trạng (tức là lai lịch, nguồn gốc...) của các nhân vật lịch sử như Ngô Quyền, Nguyễn Xý, Nguyễn Trãi, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du, Phạm Ngũ Lão, Phạm Sư Mạnh...
LÂM QUANG MINH
Tôi không có vinh dự như nhiều anh chị em cán bộ, dũng sĩ từ miền Nam ra Bắc công tác, học tập hay chữa bệnh, được trực tiếp gặp Bác Hồ, được Bác ân cần động viên dạy bảo, được cùng ngồi ăn cơm với Bác, được Bác chia bánh chia kẹo... như người cha, người ông đối với các con cháu đi xa về.
THANH HẢI
Hồi ký
Tháng 10 năm 1962, tôi được vinh dự đi trong đoàn đại biểu mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam ra thăm miền Bắc. Lần đó một vinh dự lớn nhất của chúng tôi là được gặp Hồ Chủ Tịch.
Giáo sư Bửu Ý, tên đầy đủ là Nguyễn Phước Bửu Ý, sinh năm 1937 tại Huế. Ông vừa là nhà giáo, nhà văn, vừa là dịch giả của các tiểu thuyết nổi tiếng như Nhật kí của Anna Frank, Đứa con đi hoang trở về, Bọn làm bạc giả của André Gide, Con lừa và tôi của Juan Ramón Jiménez; Thư gửi con tin của Antoine de Saint-Exupéry… đăng trên các tạp chí Mai, Văn, Diễn đàn, Phố Văn (trước 1975).
I. Nhớ hơn bốn mươi năm về trước, vào khoảng đầu mùa đông năm 1974 - mùa dỡ củ dong riềng - tôi đi chợ Chũ (Lục Ngạn), mua được tập truyện Khúc sông. Trên lối mòn đường rừng, bước thấp bước cao, tôi vừa đi vừa tranh thủ đọc. Ngày ấy, tôi chỉ biết tên tác giả là Nguyễn Thiều Nam, nào có biết đẳng cấp của ông trong làng văn ra sao!
Sinh thời, cha tôi – họa sỹ Trịnh Hữu Ngọc, hầu như không bao giờ nhắc đến những năm học vẽ ở Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương (MTĐD).
HỒ QUỐC HÙNG
(Thân mến tặng các bạn lớp Văn K9 - Đại học Tổng hợp Huế)
Ai cũng có kho ký ức riêng cho chính mình như một thứ tài sản vô hình. Ký ức lại có những vùng tối, vùng sáng và lúc nào đó bất chợt hiện lên, kết nối quá khứ với hiện tại, làm cho cuộc sống thêm ý vị.
TRẦN VĂN KHÊ
Hồi ký
Có những bài thơ không bao giờ được in ra thành tập.
Có những bài thơ chỉ còn ghi lại trong trí nhớ của tác giả và của đôi người may mắn đã được đọc qua một đôi lần.
Ngắm nhìn vẻ đẹp tinh khiết của cô nữ sinh Đồng Khánh dưới vành nón Huế, trong chiếc áo dài trắng tinh khôi, không ai nghĩ chỉ ít năm sau ngày chụp bức ảnh chân dung ấy, chị chính là nạn nhân của một chế độ lao tù tàn bạo và nghiệt ngã.
Trong quy hoạch một đô thị văn minh, vỉa hè là khoảng công cộng dành cho người đi bộ. Còn theo kiến trúc, vỉa hè là đường diềm, trang trí cho phố phường tạo ra sự hài hòa giữa đường và nhà mặt phố. Người Pháp đã làm những điều đó ở Hà Nội từ cuối thế kỷ 19.
TRẦN PHƯƠNG TRÀ
Hồi những năm 1950, làng Trúc Lâm quê tôi thuộc vùng du kích ven thành phố Huế.
QUẾ HƯƠNG
Ngày 15/7/2017 tới đây, ngôi trường hồng diễm lệ nằm cạnh trường Quốc Học, từng mang tên vị vua yểu mệnh Đồng Khánh chạm ngưỡng trăm năm.
THÁI KIM LAN
Trong những hình ảnh về ngày Tết mà tôi còn giữ được thời thơ ấu, thì Tết đối với tôi là Tết Bà, mà tôi gọi là Tết Mệ Nội chứ không phải Tết Mạ. Bởi vì mỗi khi Tết đến, cả đại gia đình chúng tôi đều kéo nhau lên nhà Từ đường “ăn Tết", có nghĩa quây quần chung quanh vị phu nhân trưởng tộc của dòng họ là bà nội tôi.
TRẦN VIẾT NGẠC
Báo Xuân xưa nay luôn là số báo đẹp nhất, phong phú nhất trong một năm. Bài vở số Xuân được tòa soạn đặt bài trước cho các cây bút thân quen, nổi tiếng từ mấy tháng trước.
NGUYÊN HƯƠNG
Trong đời, người ta ai cũng nên phải lòng một vùng đất. Cảm giác đó thật đặc biệt, giống như khi ta một mình đi đêm về sáng, bỗng gặp đóa hoa cô đơn thức sớm nở ngoài thềm, thấy thương.
BÙI KIM CHI
Tôi đã rất xúc động. Lòng rưng rưng bồi hồi khi tình cờ nghe được bài hát “Quê hương tuổi thơ tôi” của Từ Huy trong VCD họp mặt Đồng Hương Sịa lần đầu tiên ở Little Sài Gòn, Nam Cali…