Shun Medoruma (sinh năm 1960) là một trong những nhà văn đương đại quan trọng nhất của Okinawa, Nhật Bản. Ông được giải Akutagawa Prize năm 1997 với truyện ngắn “Giọt nước” (Suiteki).
Nhà văn Nhật Bản Shun Medoruma - Ảnh: internet
SHUN MEDORUMA
Một tấm kính cửa sổ vỡ. Tôi mở cửa sổ phòng ngủ của tôi và đảo mắt nhìn xuống đường phố. Một gã đàn ông đang chạy trốn. Dưới bàn ăn trong bếp tôi thấy có một hòn đá cỡ nắm tay em bé. Tôi lấy mũi giày đẩy các mảnh kính vỡ lớn thành một đống vào cạnh vách tường, rồi lấy chổi quét các mảnh vỡ vụn. Tôi không muốn chạy máy hút bụi vào giữa đêm, vì vậy tôi để nó ở đó và quay trở lại giường ngủ.
Anh thấy đó là ai không?
Vợ tôi hỏi, cô nằm quay lưng về phía tôi.
Anh không biết. Trông giống mấy gã trai trẻ.
Anh không đuổi theo nó à?
Gì cơ?
Nó chưa thể đi quá xa đâu.
Đồng hồ trên chiếc tủ đứng điểm 5. 15. Tôi mặc quần áo thể dục vào và đi ra ngoài. Không khí luồn vào phổi buốt lạnh. Tôi tự ôm mình lại cho ấm, tay để trong nách, và hướng theo chỗ gã đàn ông đã biến mất. Tất cả những ngôi nhà của khu dân cư đều tối. Không có ai xung quanh, mặc dù thỉnh thoảng tôi nghe thấy vài chiếc xe chạy qua đường phố. Khi gần tới các góc đường, thần kinh của tôi căng lên. Tôi nín thở và lắng nghe, sau đó nhảy ra, nhưng nhìn trở lại chỉ là một con đường vắng vẻ. Ở phía trước siêu thị thực phẩm có cái máy bán hàng tự động gắn chiếc đèn đỏ đang xoay phía trên cao. Tiếng vo vo của thiết bị điện tử như từ trong đầu tôi rỉ ra.
Tôi bắt đầu chạy bộ để cố gắng thoát khỏi những tiếng ồn nhưng nó có ở tất cả mọi nơi. Tôi từ từ dừng lại. Mồ hôi chảy ướt cả người. Tất cả các căn nhà trong khu vực này trông giống nhau, và mặc dù tôi đã sống ở đây nhiều năm, chuyện nhầm đường vẫn dễ xảy ra. Có cảm giác như lần đầu tiên tôi đến ở đây. Tôi tiếp tục bước đi, đảo mắt khắp các phía đường phố bên cạnh, ngạc nhiên là mình đã đi xa hơn nhiều. Tôi sẽ phải đi. Bụng hết sức lo lắng. Thôi quay trở lại.
Mặc dù cảm thấy mình đã đi một quãng rất xa, cái máy bán hàng tự động gắn đèn xoay vẫn như nhấp nháy ngay trước mặt tôi. Tôi nhìn vào cổ tay để xem giờ, nhưng tôi đã bỏ quên đồng hồ ở nhà. Kể từ khi ra khỏi nhà đến giờ không thể quá một tiếng đồng hồ. Bầu trời ở phía đông đã bắt đầu hửng sáng. Khi tôi cố nhớ lại khoảng thời gian này trong năm mặt trời mọc lúc mấy giờ, tôi nhận ra tôi không thể nhớ được lần cuối cùng tôi đã thức dậy đón bình minh. Tôi đột nhiên mất hết tin tưởng về cảm giác thời gian của mình. Tôi nghĩ, có lẽ tốt hơn là tôi trở về nhà.
Tôi quay lại và nhìn thấy một người phụ nữ trẻ chạy về phía tôi. Cô dừng một lúc ngắn ngủi. Hầu như không thể nhìn thấy khuôn mặt mờ mờ của cô dưới cái áo trùm đầu, nhưng cô không thể nào lớn hơn tuổi trung học cơ sở. Có lẽ tôi thấy quả là nguy hiểm cho một cô gái chạy ngoài đường một mình vào giờ này, nhưng rồi điều xảy ra cho tôi là cô ấy có thể lo lắng chính tôi là mối nguy hiểm. Khi tôi đứng đó lặng lẽ, cô đi ngang qua tôi một cách nhanh vội và đôi mắt nhìn xuống đường, tôi nghĩ, cô đang bảo vệ mình. Ngay khi tôi sắp chào hỏi thì nhanh như chớp cô biến mất bên góc phố. Cảnh chạy trốn tức thời của cô gái làm cho tôi nghĩ đến gã đàn ông.
Tôi đã đoán người tôi thoáng thấy từ cửa sổ là một gã đàn ông còn trẻ, nhưng bây giờ tôi không chắc đó là nam hay nữ, già hay trẻ. Tôi có cảm giác mình bị bắt giữ, cả trí nhớ cùng sự phán đoán của mình đang được làm rõ, và tôi chạy về nhà như để cố gắng thoát khỏi chúng. Khi tôi trở về, vợ tôi vẫn hướng mặt nơi khác để tránh tôi và nằm như bất động trên giường.
Anh không tìm thấy ai cả.
Cô không trả lời, nhưng tôi quá mệt mỏi nên cũng không làm gì hơn là nhắm mắt lại để có thể ngủ chút ít.
Khi tôi thức dậy, vợ tôi đã đi khỏi. Có cà phê lạnh và bánh mì nướng trên bàn ăn. Hơn 08:00. Tôi vội vã rửa mặt và khi sắp cạo râu thì nhận thấy có thứ gì đó màu trắng trong chòm râu trên cổ tôi.
Lo lắng nó có thể là một mảnh thủy tinh vỡ, tôi rà nhẹ vào - hóa ra là sợi tóc bạc. Tôi bắt đầu có tóc bạc từ khi nào nhỉ? Tôi quá trẻ để có tóc bạc, tôi nghĩ, và cười mình, nhưng cảm thấy thêm điều gì đó giống như tuyệt vọng. Tôi nhìn qua chỗ chân tường. Kính vỡ vẫn còn đó. Ngoài ra còn có rất nhiều mảnh vỡ lấp lánh dưới cửa sổ, nhưng tôi không có thời gian để dọn sạch chúng. Tôi đổ cà phê vào bồn rửa chén và lấy một mẩu bánh mì nướng trước khi vội vã ra khỏi cửa.
“Này, S. Cô có cái kim không?”
“Gì vậy, đứt nút à,? Lại đây, em kết cho”.
“Không, không phải cái đó. Tôi nghĩ mình bị mảnh kính đâm.”
Lúc tôi đến chỗ làm việc và lấy bút để ghi lại vài việc cần nhớ thì cảm thấy đầu ngón tay trỏ phải đột ngột nhói đau. Có vật gì đó chui vào, nằm trong lớp thịt của ngón tay. Khi tôi ấn vào đó thì có cảm giác bị vật bén đâm mạnh.
S. đưa cho tôi một cây kim lấy từ túi đồ may cô để trong bàn của mình và tôi mang nó đến bên cửa sổ. Tôi liếm mũi kim rồi cẩn thận lách nó vào dưới da. Mặc dù tôi không thể nhìn thấy gì cả, nhưng chắc chắn có vật cứng và sắc nhọn mắc kẹt trong đó. Tôi khoét rộng hơn và cố gắng moi nó ra. Mỗi lần mũi kim có vẻ như bắt được nó thì nó trượt sang một bên và ăn sâu hơn vào thịt. Tôi dùng móng tay cái ép mạnh lên trên đầu ngón tay và thọc kim vào. Tôi cắn răng nén một tiếng kêu đau đớn. Khi tôi kéo ra thì cây kim dính ướt chất dịch màu vàng nhạt. Dính trên mũi kim là một mảnh kính rất nhỏ, lấp lánh. Khi tôi nghiêng qua để nhìn cho rõ hơn thì dường như nó biến mất. Tôi lấy khăn tay của mình lau cây kim rồi trả nó cho S. Cô cười và nói, “Đúng là ấn tượng.” Tôi quay trở lại bàn của mình và cố gắng tiếp tục công việc, nhưng ngón tay của tôi không thôi đau nhức. Khi tôi nhìn lên thì thấy S. gói cây kim vào khăn giấy và ném vào sọt rác dưới chân cô. Tôi cảm thấy có cái gì đó đang loáng thoáng trong đầu. Không mảy may bận lòng, tôi cố gắng tập trung vào công việc, để làm tan đi sự chú ý của mình vào cái đau ở ngón tay.
![]() |
Minh họa: ĐẶNG MẬU TỰU |
Chiều hôm đó tôi về sớm, nói là bị đau đầu. Trên đường về nhà, tôi ghé lại cửa hàng kính.
Tôi lên lịch sửa chữa cửa sổ và vẽ sơ đồ đánh dấu vị trí nhà tôi. Khi tôi cầm bản sơ đồ đưa cho chủ tiệm và sắp rời chân thì thấy một tấm kính dựa vào bức tường.
Tôi liền hỏi giá của nó, chủ tiệm nói ông sẽ cho tôi không lấy tiền bởi vì nó bị lỗi. Tôi cảm ơn và mang nó ra xe, nhưng trước khi để nó vào xe thì tôi cầm nó lên và ngắm mọi vật xung quanh qua tấm kính. Đúng vậy, nó có một vài khiếm khuyết. Nó hình vuông, viền màu xanh lá cây, dày khoảng năm li và mỗi cạnh khoảng năm mươi centimet, nhưng nó hơi vênh một chút. Tôi không thể nói chính xác nó bị lỗi chỗ nào, nhưng rõ ràng tấm kính sẽ không phù hợp với các loại cửa sổ. Tôi đặt nó ở ghế hành khách và lái xe đi. Theo một sự thúc giục bất ngờ, tôi vượt qua ngang nhà tôi và hướng về phía bắc đến bờ biển, tăng tốc trên đường đi.
Cô ấy áng chừng ở tuổi học đại học. Làn da trắng của cô có vẻ không như tự nhiên. Cô đưa máy ảnh cho tôi nhờ chụp ảnh giùm, rồi cười và chạy đến làm dáng cạnh một cô bạn khác. Họ đứng gần rìa của vách đá, quay lưng về phía chân trời. Gió từ biển thổi lên gần như làm tốc những cái mũ che nắng của họ. Tiếng cười vô tư của họ vang lên khi họ ép chặt cái mũ xuống đầu. Cảm thấy thoải mái hơn trước, tôi nhìn qua kính ngắm. Nhưng những hình ảnh nhỏ bé của các cô gái đang mỉm cười trong cái khung vuông dường như gây ra điều gì đó làm tôi không thể bấm máy. Cơn đau như dao đâm ở ngón tay của tôi quay trở lại. Một cái ớn lạnh lan truyền từ ngón tay vào vai, sau đó toàn bộ cánh tay của tôi tê liệt. Nụ cười của các cô gái biến mất.
“Anh có sao không? Tôi có thuốc nhức đầu cho anh uống.”
Tôi cảm thấy hơi thở ấm áp của cô gái rót vào tai tôi khi tôi cong người lên. Tôi xua tay và giao lại máy ảnh. Những ngón tay của cô mềm ẩm, như sâu bướm. Tôi không thể nhấc người lên để nhìn cô gái.
Tôi cảm thấy cô di chuyển rồi dừng lại cúi xuống mấy lần ngắn ngủi. Khi tôi gượng dậy được, tôi nhìn thấy cô ấy đứng gần bạn cô, hai người nhìn tôi ấp úng. Một lần nữa cô gái hỏi tôi có sao không và tôi lại xua tay. Đột nhiên cô thấy sợ hãi. Họ vội vàng đi tới chiếc xe màu xanh và lái xe đi, tung lên một đám mây bụi.
Gió từ biển thổi tới quất vào quần áo của tôi. Nhưng tôi không cảm thấy nó trên mặt, ở cổ hoặc ở tay và chân tôi - giống như da của tôi được bọc nhựa. Tôi lấy tấm kính trong xe mang tới rìa vách đá. Nhìn nước phía dưới cách chừng sáu mươi hoặc bảy mươi mét. Từ nơi tôi đang đứng, tôi không thể nhìn thấy nơi vách đá giáp với nước, các sườn vách đá đã bị sóng biển gặm mòn. Những mũi đá từ rạn ngầm bật lên trên làn nước xanh thẫm, sóng vỗ trắng xóa xung quanh. Duy nhất có một đôi giày màu đỏ nằm trên một khối đá san hô. Tôi đỡ kính lên và nhìn xuyên qua nó. Sự chuyển động của nước đã chậm lại và biển càng lúc càng trở nên bình lặng hơn. Ngón tay của tôi nóng như đốt. Tôi thả tấm kính. Nó nghiêng về phía trước, lúc rơi nó trở nên nhỏ hơn. Tất cả chỉ xảy ra trong cùng một lúc. Những con sóng âm thầm tung phá.
Tôi đi về phía nam xuống đường cao tốc về lại thị trấn.
Tôi ra khỏi xe và đi bộ qua các đường phố. Dường như bất cứ khi nào tôi đi ngang qua một ai đó thì họ quay lại lén liếc nhìn vào phía sau tôi. Lo lắng trong tôi lớn lên và bước chân của tôi giục giã hơn.
Bằng cách nào để biết mấy giờ rồi?
Tôi để đồng hồ của mình ở đâu đó nhưng không thể nhớ chỗ. Xét đoán từ nhiều người vẫn lui tới có lẽ chưa phải là muộn. Nhưng tôi không thể biết chắc chắn. Tôi theo cùng một đường với những người đi bộ khác cho đến khi tôi nhận ra còn một mình tôi lang thang trên các con đường tối. Chỉ có một căn hộ mở đèn ở cửa sổ tầng hai. Qua bức màn kéo ra tôi có thể nhìn thấy cái bóng của một cô gái. Đó là cô gái sáng nay, tôi nghĩ. Cô ấy trông giống như cô gái ngồi ở bàn học. Có cái gì đó khi nhìn một bên chiếc cằm nhọn của cô làm cho ngực tôi nhói đau. Đầu ngón tay cào trên đá, lạnh khủng khiếp. Cái bóng mảnh mai đứng lên và quay sang đối mặt với tôi. Nó kéo dài cánh tay thật rộng và ngay lúc đó tôi nghe thấy tiếng kính vỡ vang lên. Các mảnh vỡ của cô gái đổ ập xuống.
“Chính là nó!”
Tôi nghe thấy một giọng nói cộc lốc và tiếng chân bước về phía tôi từ đầu kia của đường phố. Tôi chui vào một con hẻm và chạy hộc tốc. Hơi thở của tôi đứt quãng và chân của tôi như văng ra khi nhìn thấy căn hộ của mình. Tôi tung cửa và cả tay chân rớt xuống bàn ăn, thở hổn hển ở đó cho đến khi hơi thở trở lại bình thường. Kính vỡ trên sàn nhà đã được dọn sạch và cửa sổ mới đã được lắp đặt.
Nhìn qua cái cửa sổ mới thì bề nào cũng sinh động hơn, dường như ngày hôm sau đã ló dạng, trong khi phần còn lại của thế giới vẫn còn đang ngủ. Tôi quăng chiếc áo sơ mi tuột cúc ướt đẫm mồ hôi xuống ghế sofa và bò vào giường. Từ phía trong, vợ tôi đang hướng về phía tôi. Cô rùng mình. Giọng nói của cô run run.
Anh đang ướt như tắm kia.
Tôi trả lời mà lẩm bẩm không thành tiếng.
Mắt tôi nhắm lại và một giấc ngủ đè nặng lên người tôi.
Xa xa, có tiếng kính vỡ vang lên.
Dương Đức dịch
Nguồn: http://wordswithoutborders.org/article/
(TCSH376/06-2020)
MISHIMA YUKIO (Nhật Bản)Nhà văn Nhật Bản Mishima Yukio (1925 - 1970) bắt đầu in các tác phẩm của mình từ những năm 20 tuổi. Ông được tặng nhiều giải thưởng văn học và ba lần được đề cử vào giải Nobel văn chương.
PAUXTÔPXKIChúng ta yêu mến thứ ánh sáng bảo hiểm của những ngọn hải đăng nhưng ít khi nhìn thẳng vào nó. Thường chỉ có những người bảo vệ và các tay lái tàu dán mắt vào hải đăng để kiểm tra bí mật độ loé sáng của nó. Bởi vì tất cả hải đăng trên biển đều nháy và nhấp nhánh khác nhau, theo những tín hiệu đó, người ta có thể biết được hải đăng nào và con tàu đang ở đâu.
SLAWOMIR MROZEK (Ba Lan)(Lê Bá Thự dịch từ nguyên bản tiếng Ba Lan)
ALPHONSE DAUDETSự kiện phản ánh trong truyện xảy ra năm 1871, thời kỳ chiến tranh Pháp - Phổ, khi quân đội Phổ (Đức) đã chiếm đóng và sáp nhập hai tỉnh Alsace và Lorraine của Pháp vào lãnh thổ Đức.
DOMINIQUE DE VILLEPINTác giả Dominique de Villepin, sinh năm 1953, đương kim Bộ trưởng Ngoại giao Pháp, là người phát ngôn cho chính sách hòa bình đối lập với đường lối chiến tranh Bush-Blair trong vụ tập kích Irak đầu năm 2003. Nơi đầu sóng ngọn gió của bang giao quốc tế, ông đã đồng thời cho xuất bản một khảo luận về Thơ, Ngợi ca những Người Cướp Lửa, tượng trưng cho Người Làm Thơ, qua hình ảnh mượn của Arthur Rimbaud, lấy từ huyền thoại Prométhée.
MARK TWAINTwain, Mark, (Samuel Langhorne Clemens), nhà văn Mỹ, (1835-1910). Sinh tại Florida, bang Missouri. Là con thứ tư trong một gia đình thương nhân nghèo. Chưa đầy 12 tuổi, Clemens đã phải thôi học để học nghề sắp chữ in, rồi làm đủ nghề. Năm 1853, bị thôi thúc bởi ý muốn tìm hiểu thế giới, lên đường đi nhiều nơi, làm thợ in công nhật ở St. Louis, New York và Philadelphia. Đến sông Mississipi, hành trình dự kiến đi Brazil bị đình lại vì Clemens lại mơ ước trở thành hoa tiêu trên sông.
HARUKI MURAKAMI (Nhật Bản)Chàng và nàng đang đi trên một con đường. Dọc bãi tha ma. Lúc nửa đêm. Sương mờ vây phủ. Họ tuyệt nhiên không định đi ở nơi chốn này vào lúc này. Nhưng vì các nguyên do khác nhau họ đã buộc phải đi. Họ bước vội vàng, nắm chặt tay nhau.
GRAHAM GREENE (Anh)Có tám người đàn ông Nhật đang ăn bữa tối ở nhà hàng cá nổi tiếng Bentley's. Họ chỉ trao đổi với nhau dăm ba câu bằng thứ tiếng mẹ đẻ khó hiểu của họ, nhưng luôn có nụ cười nhã nhặn và thường mỗi câu lại kèm một cử chỉ cúi đầu lịch thiệp. Tất cả tám người, trừ có một, đều đeo kính. Thỉnh thoảng cô gái xinh đẹp ngồi phía cửa sổ lại đưa một cái nhìn lướt qua họ, nhưng xem ra chuyện của cô ta quá quan trọng, khiến cô ta không thể thực sự chú ý tới bất kỳ ai trên đời ngoài chính mình và người ngồi cùng bàn.
VICTORIA CHIE (ÚC)Cảm giác xấu hổ như kẻ đang làm điều mờ ám, Anne Peterson đặt bút run run ghi tên mình vào phần trống trong bản tự giới thiệu của văn phòng môi giới hôn nhân. Chẳng lẽ lại đến nông nổi này sao? 49 tuổi, trông còn rất trẻ, duyên dáng, đầy sức sống, thành đạt, vật chất đầy đủ, đã ly dị, thế mà phải nhờ môi giới kiếm cho một tấm chồng. Mà anh ta là ai, cũng là một kẻ nào đấy tìm đến đây với những dòng tự giới thiệu cứng nhắc. Thôi, đành vậy chứ biết sao, chỉ vì quá yêu con gái Cindy mà Anne đã phải chịu đựng nỗi trống trải cô đơn ròng rã suốt bao năm trời.
NGÔ KIM LƯƠNG (Trung Quốc)"Nếu còn gặp người, nhất định phải nói", Trần Tĩnh đang nghĩ, ngước mắt lên nhìn ánh đèn vàng vọt trong ngõ nhỏ. Đêm khuya rồi, khắp nơi là hình ảnh kỳ quái của một màn đêm đen kịt. "Ai cha! Chiếc xe đạp xui xẻo này!" - Cô đẩy chiếc xe, không biết phải nói thế nào.Sau lưng vang lên một hồi chuông xe đạp, Trần Tĩnh "ai cha" một tiếng, chàng trai cưỡi xe đạp đã lướt vèo qua rồi.
S.MROZEKCó một lần tôi đi du lịch.Vì không có tàu trực tiếp đến nơi tôi cần tới nên tôi phải xuống một ga dọc đường để chuyển sang tàu khác.Hôm đó là một buổi tối. Mãi sáng hôm sau con tàu tiếp theo tôi sẽ phải đi mới đến.Tôi rời nhà ga, vào thị trấn để kiếm nơi ở trọ.
JOYCE BEGG (Úc)Bà Firbank trở thành hàng xóm của chúng tôi đã lâu, dễ đến sáu bảy năm nay, nhưng thật sự trong chúng tôi chẳng ai dám khẳng định mình biết rõ về người đàn bà này. Xung quanh bà ta lúc nào cũng bao phủ một bầu không khí bí hiểm, ma quái, ngay cả toà dinh thự cổ của bà ta cũng gợi cho người ta cái vẻ rờn rợn, lạnh lẽo giống như nơi trú ẩn của những linh hồn cõi âm.
KRISHNAN VARMAKrishnan Varma sinh ở Kerala, Ấn Độ. Ông viết bằng hai thứ tiếng Anh và Malayalam. Trong nhiều tác phẩm của mình, ông chia sẻ sự quan sát đối với cuộc sống của lớp người cùng khổ trên đất nước ông.
ARTURO VIVANTELời giới thiệu: Nhà văn Arturo Vivante sinh năm 1923 ở Rome, tốt nghiệp cử nhân đại học McGill, Canada, 1945, tốt nghiệp y khoa đại học Rome, 1949. Ông hành nghề bác sĩ toàn khoa, đồng thời sinh hoạt và nghiên cứu về văn chương ở một số trường đại học Mỹ. Vivante là nhà văn rất nổi tiếng với các truyện cực ngắn và các giai thoại.
KÔNXTANTIN PAUXTÔPXKI Mùa Thu. Những hạt sương mai tháng Chín lạnh giá, mọng nước rơi tung tóe từ những tán lá trên cao xuống và bắn cả vào người tôi. Sương từ các nhành cây nhỏ giọt xuống mặt nước sông đen thẫm, tạo thành những vòng tròn và chậm rãi lan ra xung quanh.
LTS: Mario Bendetti sinh tại Paso de los Toros (Tacuarembó ) ngày 14 tháng 9 năm 1920. Ông theo học tại trường tiểu học tiếng Đức ở Montevideo và trường trung học Miranda, đã từng làm nhiều nghề như nhân viên bán hàng, tốc kí, kế toán, viên chức nhà nước và phóng viên. Từ năm 1938 đến 1941 ông sống chủ yếu ở Buenos Aires . Năm 1945, khi trở về Montevideo, ông viết bài cho tuần báo nổi tiếng Marcha, qua đó trở thành phóng viên bên cạnh Carlos Quijano và rồi trở thành một thành viên trong ê-kíp của ông này cho tới tận năm 1974 khi tuần báo ngừng xuất bản.Năm 1973, vì lí do chính trị, ông phải rời bỏ tổ quốc,bắt đầu cuộc sống lưu vong kéo dài mười hai năm ở những quốc gia: Ác-hen-ti- na và Tây Ban Nha. Quãng thời gian này đã để lại những dấu ấn vô cùng sâu sắc trong cuộc đời ông cũng như trong văn nghiệp.
YUKIO MISHIMA (Nhật Bản)YUKIO MISHIMA tên thật là HIRAOKA KIMITAKE (1925-1970). Sinh tại Tokyo.Tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Tokyo . Nhà văn, kịch tác gia, đạo diễn sân khấu và điện ảnh, diễn viên.Năm 16 tuổi đã xuất bản truyện vừa lãng mạn Khu rừng nở hoa. Tiểu thuyết Lời thú tội của chiếc mặt nạ ra năm 1949 đã khẳng định tên tuổi của nhà văn trẻ tài năng và trở thành tác phẩm được đánh giá là kinh điển của nền văn học Nhật Bản.
KOMASHU SAKIO (Nhật Bản)Sinh 28/1/1931 tại Osaka (Nhật Bản). Nhà văn chuyên viết truyện khoa học giả tưởng nổi tiếng của Nhật Bản.Tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Kyoto , chuyên ngành Văn học Italia.Từ năm 1957 là phóng viên Đài Phát thanh Osaka và viết cho một số các báo. Năm 1961 chiến thắng trong cuộc thi truyện ngắn giả tưởng xuất sắc do tạp chí "SF Magasines" tổ chức.Tác phẩm của Komatsu đã được dịch ra rất nhiều thứ tiếng trên thế giới.
S. MROZEK (Ba Lan)Có lần tôi bắt gặp một con chó ác bụng đang rượt đuổi một con mèo. Bởi tôi là người yêu động vật nên tôi bèn vớ ngay một cục đá to sụ quẳng vào con chó khiến nó ngã lăn quay, nằm đứ đừ một hồi lâu. Chú mèo nhỏ không nhà, con vật bé xíu nom mệt phờ râu. Không chút do dự - tôi cho nó nương nhờ. Đây quả là một con mèo đẹp mã, lông mịn màng, mắt long lanh. Tôi đem nhốt nó vào trong nhà, đoạn bỏ đi chơi bời trác táng.
KITA MORIO (Nhật Bản)Kita Morio (sinh năm 1927) là nhà văn thuộc thế hệ hậu chiến của Nhật Bản. Tốt nghiệp Đại học Y. Năm 1960 được trao giải thưởng mang tên Akutagawa với truyện ngắn Trong bóng tối đêm, cốt truyện xảy ra trong một bệnh viện tâm thần ở Đức thời kì Chiến Tranh Thế Giới thứ II. Nổi tiếng với các tác phẩm giả tưởng khoa học và chống chiến tranh.