Đầu năm 1980 Ban tổ chức kỷ niệm 600 năm ngày sinh Nguyễn Trãi yêu cầu tôi làm một bộ phim tài liệu để chiếu tại Hội nghị quốc tế về Nguyễn Trãi do UNESCO tổ chức vào cuối năm đó ở Hà Nội. Thực tình tôi rất lo lắng vì ngoài cuốn Ức Trai thi tập, hầu như tài liệu về ông không có gì ngoại trừ bức chân dung vẽ trên lụa còn lưu lại trong Viện Bảo tàng lịch sử. Nếu làm một phim tiểu sử thông thường thì không có đủ tư liệu để quay, chưa kể còn phải nói đến di sản thơ ca đồ sộ của ông nữa... Cuối cùng tôi đã chọn cho mình một cách thể hiện riêng: tôi sẽ làm một bộ phim không theo một thể loại nào đã có từ trước đến nay trong điện ảnh. Bộ phim của tôi sẽ là một tuỳ bút điện ảnh về Nguyễn Trãi, giống như một thứ tùy bút trong trong văn học vậy. Sở dĩ tôi có được quyết định đó là vì tôi nghĩ đến những tùy bút của Hoàng Phủ Ngọc Tường mà tôi đã được đọc và vô cùng khâm phục. Đương nhiên người viết thuyết minh cho phim tôi sẽ không phải là ai khác ngoài nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường. Và như vậy lần đầu tiên tôi đã đến với anh Tường để rồi từ đó chúng tôi trở thành bạn thân của nhau. Bộ phim tài liệu Nguyễn Trãi dài 30 phút đã được chiếu trước hơn 100 nhà văn hóa của Việt và thế giới tham dự Hội nghị quốc tế về Nguyễn Trãi vào cuối năm 1980. Bộ phim đã làm mọi người hài lòng, cảm động và về sau đã được tặng giải Bông sen Bạc tại Liên hoan phim Việt lần thứ 6. Thành công của phim có được một phần lớn nhờ chất uyên bác thâm trầm trong lời bình của nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường. Đó thực sự là một thiên tuỳ bút có giá trị mà về sau đã được đăng lại trên một tạp chí văn học. Hai năm sau chúng tôi lại có duyên nợ với nhau một lần nữa. Trước khi lên Lạng Sơn để quay phim truyện Thị xã trong tầm tay (bộ phim đầu tiên do tôi tự viết kịch bản) tình cờ tôi lại gặp anh Tường từ Huế ra để đi thực tế lên biên giới phía Bắc. Tôi liền rủ anh đi cùng. Anh đã lăn lộn với đoàn phim chúng tôi suốt một tháng trời ở Lạng Sơn. Trong những ngày ấy tôi có nhờ anh làm một bài thơ để nhạc sỹ Trịnh Công Sơn phổ nhạc, trở thành một ca khúc trong phim. Tôi còn nhớ hai câu đầu của bài thơ ấy như sau: Mãi còn nơi biên giới/ Mây trời và ải xưa/ Một miền đất nắng mưa/ Suốt đời tôi mang nặng... Những miền đất mà Hoàng Phủ Ngọc Tường mang nặng có nhiều lắm, suốt từ Bắc chí . Đó là những nơi anh đã từng đặt chân qua, cho dù đó chỉ là một lối mòn lau lách trên Trường Sơn... Nhưng có một miền đất mà anh nặng lòng hơn cả, đó là Huế. Chúng ta đã nghe nói nhiều về sự uyên bác, về cái hành trang văn hoá đầy đặn của anh. Đôi khi tôi tự hỏi, không biết bằng cách nào và từ lúc nào anh đã trang bị cho mình được cái vốn kiến thức đông tây kim cổ một cách toàn diện đến như vậy? Nền giáo dục nào đã nhào nặn nên con người văn hoá trong anh, một người chỉ có một văn bằng cử nhân Triết? (về điểm này những nhà cải cách giáo dục ngày nay nếu tìm hiểu chắc sẽ có nhiều điều bổ ích). Nhưng cái làm nên giá trị văn chương của Hoàng Phủ Ngọc Tường theo tôi nghĩ lại không nằm trong những kiến thức văn hoá uyên thâm ấy, mà nằm trong cái chất Huế của con người anh. Những tầng văn hoá kia, những suy ngẫm nọ trên từng trang tuỳ bút của anh đều được phản chiếu qua một tâm hồn rất Huế. Những rung động trong anh là những rung động của một tâm hồn rất Huế. Có thể nói cái chất Huế đầy ắp trong con người anh. Nếu có một ai đó muốn tìm hiểu thế nào là một tâm hồn Huế, thiết nghĩ chỉ cần đọc tuỳ bút của Hoàng Phủ Ngọc Tường là có thể biết được phần nào. Thật vậy, không một người Huế nào lại không bắt gặp trong văn thơ của anh một chút trạng thái tâm hồn của chính mình. Anh đã nói hộ cho họ rất nhiều. Anh đã biến cái tầm thường trở nên có ý nghĩa, biến cái bình dị trở nên cao siêu và biến cái cao siêu trở nên gần gũi bình dị. Hãy để các nhà nghiên cứu chuyên môn phân tích xem cái chất Huế ấy gồm những tố chất gì? Riêng tôi, tôi chỉ biết cảm nhận được nó mà thôi. Đối với tôi Huế là cha mẹ tôi, là chú bác cô gì nội ngoại của tôi... và Huế là Hoàng Phủ NgọcTường. Những bút ký của anh từ lâu đã nuôi dưỡng, đánh thức dậy cái chất Huế trong tôi. Điều đó vô cùng quan thiết đối với tôi, một người làm sáng tác điện ảnh. Cái chất Huế đó bàng bạc khắp trong các phim mà tôi đã làm mặc dù đề tài của các phim rất khác nhau. Người ta đã tôn tạo, bảo tồn rất nhiều lâu đài thành quách ở cố đô này. Nhưng mảnh đất này sẽ không quyến rũ đến như vậy nếu không có những tâm hồn Huế, cái chất Huế. Về phương diện này có thể nói Hoàng Phủ Ngọc Tường là người đã miệt mài nuôi dưỡng, bảo tồn những giá trị phi vật thể đó. Những gì vô hình sẽ còn lại mãi mãi với thời gian. Xin cám ơn anh, một tâm hồn rất Huế. |
Vậy mà, đã hơn 50 năm, từ những năm tháng trẻ tuổi… Huế, ngày ấy đã xa. Đã là kỷ niệm. Đã mất đi nhưng vẫn không ngừng sinh nở. Như những câu thơ, một thời…
Việt Đức - Võ Quê - Phạm Xuân Phụng - Nguyễn Thiền Nghi - Nguyễn Văn Vũ - Lê Phùng - Thùy Phương - Trần Băng Khuê
Trại sáng tác văn học với chủ đề “Vinh Xuân - Mùa biển gọi” do Hội Nhà văn Thừa Thiên Huế phối hợp với UBND xã Vinh Xuân tổ chức, diễn ra trong thời gian từ ngày 3/5 đến ngày 10/5/2024, gồm 14 nhà văn, nhà thơ và 1 nhạc sĩ khách mời, đã cho ra đời 58 tác phẩm.
TRẦN NHẬT THU
LÊ XUÂN VIỆT
DƯƠNG PHƯỚC THU
Ngày 18/9/1945, tại số 43 đường Trần Hưng Đạo, thành phố Thuận Hóa, Liên đoàn Văn hóa cứu quốc Thừa Thiên - tiền thân của Liên hiệp các hội Văn học Nghệ thuật Thừa Thiên Huế ngày nay được thành lập.
CHU SƠN
Cuối năm 1963 tôi từ Hội An ra Huế để nhận lại tập thơ Quê Nhà và giấy phép xuất bản tại nha thông tin Trung Việt.
TRẦN DZẠ LỮ
Gần một đời người làm thơ, sống giữa Sài Gòn với bao nhiêu thăng trầm dâu bể, có những ngày đói rách, lang thang. Bạn bè thì nhiều, có kẻ nhớ người quên sống khắp cùng đất nước, nơi đâu cũng để lại trong tôi ít nhiều kỷ niệm.
(SHO) Những người tôi gặp ở Huế trẻ hay già thường ngưỡng mộ anh là Thầy, một vị Thầy của môn âm nhạc, của tiếng, của lời, thân hay sơ mỗi người đều như chịu ít nhiều ân huệ của anh. Nhưng thoạt mơ hồ tôi hiểu danh hiệu ấy khác hơn khi được ngồi với anh, bên bàn cơm, khi vui ca, khi đi dạo, khi nghe anh hát, khi thấy anh ngồi yên giữa bạn bè, anh hiện ra là vị Thầy bên trên âm nhạc...
Mặc dù được các bác sĩ tận tình cứu chữa nhưng GS-TS Trần Văn Khê đã vĩnh viễn ra đi vào lúc 2 giờ 55 phút ngày 24.6. Ông thọ 94 tuổi.
LTS: Ngày 17-7-1988 nhà thơ THANH TỊNH đã qua đời tại Hà Nội sau một cơn bệnh nặng, thọ 77 tuổi. Tưởng niệm nhà thơ, người anh người đồng nghiệp đáng kính của anh em văn nghệ sĩ Bình Trị Thiên, chúng tôi xin giới thiệu bài viết của anh Hoàng Trung Thông và đoạn trích trong Điếu văn đọc tại lễ tưởng niệm nhà thơ tại trụ sở Hội văn nghệ B.T.T ngày 19-7-1988.
DƯƠNG THỊ NHỤN
Tôi biết nhà văn Bùi Ngọc Tấn qua chị Dung là hàng xóm cũ của tôi những năm 90 của thế kỉ trước. Chị Dung là cháu ruột lại gần nhà ông ở phố Điện Biên Phủ nên rất thân thiết với ông. Tôi chỉ nghe chuyện và đọc truyện của nhà văn Bùi Ngọc Tấn qua chị Dung.
LGT: Thúc Tề và Trần Kim Xuyến là hai nhà báo có nhiều đóng góp cho cách mạng Việt Nam. Một vấn đề đặt ra là: trong hai nhà báo liệt sĩ nói trên, ai mới đúng là “Nhà báo liệt sĩ đầu tiên của báo chí cách mạng Việt Nam?”. Nhiều ý kiến công nhận nhà báo Trần Kim Xuyến là nhà báo liệt sĩ đầu tiên, trong khi các tư liệu lại cho chúng ta thấy Thúc Tề mới đúng là nhà báo liệt sĩ đầu tiên.
TÔ NHUẬN VỸ
Trong số bạn bè thân tình của tôi, Ngô Minh rất “lạ”. Lạ đầu tiên là… nhỏ thó. Người thấp bé, tròn vo, tròn vo từ mấy chục năm ni luôn, chừ lại suốt ngày (e cả suốt đêm) ngồi máy tính viết bài.
Nhà văn Bùi Ngọc Tấn, tác giả của những tác phẩm nổi tiếng như: Nhằm thẳng quân thù mà bắn; Thuyền trưởng; Rừng xưa xanh lá ;Kiếp chó; Những người rách việc; Chuyện kể năm 2000... đã qua đời vào lúc 6 giờ sáng ngày 18.12. Nhà văn Bùi Ngọc Tấn sinh năm 1934 tại Thủy Nguyên, Hải Phòng. Ông bước vào sáng tác văn chương từ năm 20 tuổi và đã có một bút lực dồi dào để lại cho đời nhiều tác phẩm có giá trị.
Nguyễn Hữu Đang sinh năm 1913 , quê làng Trà Vi, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. Ông tham gia Hội Sinh viên thị xã Thái Bình thuộc Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội và bị Pháp bắt vào cuối năm 1930 và bị giam hai tháng rưỡi tại thị xã Thái Bình.
Thi sĩ Kiên Giang là tác giả những bài thơ nổi tiếng Hoa trắng thôi cài lên áo tím, Tiền và lá, Ngủ bên chân mẹ… Ông cũng là soạn giả của những vở cải lương quen thuộc như Áo cưới trước cổng chùa, Người vợ không bao giờ cưới, Lưu Bình - Dương Lễ, Trương Chi - Mỵ Nương và hàng trăm bản vọng cổ. Như người bạn văn tâm giao Sơn Nam và thi sĩ đàn anh Nguyễn Bính, Kiên Giang cả một đời phiêu bạt sống rày đây mai đó, cho đến khi trái tim đột ngột ngừng đập”...
Ở tuổi 89, nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý - tác giả của ca khúc nổi tiếng "Dư âm" sống nghèo túng, bệnh tật và cô đơn trong căn nhà nhỏ giữa lòng Sài Gòn.
NGÔ ĐÌNH HẢI
Nhà văn Trần Áng Sơn sinh ngày 12/7/1937 tại Hải Phòng, lớn lên ở Huế, trưởng thành ở Sài Gòn, mất ngày: 18/5/ 2014.
QUANG VIÊN
Đại tướng Nguyễn Chí Thanh là vị tướng tài năng và đức độ. “Ông là một danh tướng, một nhà chính trị và nhà quân sự lỗi lạc” - Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt thốt lên khi nhớ về Đại tướng Nguyễn Chí Thanh như vậy. Trong cuộc sống tình cảm gia đình, cũng như ứng xử với văn hóa văn nghệ, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh cũng hết sức chí tình, có những việc làm rất đáng khâm phục. Nhà thơ Tố Hữu đã viết về ông rất hay: “Sáng trong như ngọc một con người”…