NGUYỄN THỊ PHƯỚC LIÊN
(Thương nhớ Cẩm Nhung của Hương, Lại, Nguyệt, Liên)
Tranh của HS Tôn Nữ Tường Hoa - Ảnh: internet
Anh tôi, một người Huế đang ở Huế ngon lành bỗng dưng khăn gói vô Phan Thiết dạy học. Nghe nói cuộc tình của anh với người đẹp hoa khôi Đồng Khánh không làm bác tôi vừa lòng. Buồn tình, anh bỏ xứ. Nhân lúc cùng anh mạn đàm về màu tím Huế, tự nhiên anh đem trút lên cái đầu nhỏ dại của tôi nỗi buồn giận của anh qua màu tím Huế, thật vô cùng phi lý. Khi đó tôi hỏi anh:
- Vậy màu tím Huế ra răng. Có phải màu ni không? - Tôi chỉ cành hoa ngoài cửa sổ.
- Không. - Anh đáp. Tôi lại chỉ màu chỉ trên khung thêu của tôi, anh cũng nói không phải.
- Màu tím hoa cà hả?
- Màu hoa cà là màu hoa cà…
Tôi nổi khùng, gay gắt với anh:
- Màu chi đẹp mà khó khăn quá. Răng mê chi nó cho mệt. À, Còn màu tím than là chi? Là than nó tím dễ sợ phải không? - Tôi còn thách thức hỏi: Nếu mặc áo tím Huế, em có đẹp không?
- Không.
- Sao vậy?
- Tại vì mi Charlot, Văm, Lolita, mặc vô làm hư nhan sắc, hư luôn màu tím của tau.
Tôi bật cười vì hình ảnh anh hề Charlot, còn “Văm” và “Lolita” là gì, sau này tôi mới biết. Qua anh tôi, tôi lờ mờ nhận ra đặc trưng của màu tím Huế.
Tím dìu dặt trong không gian mờ sương, tím bâng khuâng trong nắng chiều bảng lảng và chỉ một Huế của sông Hương núi Ngự, của đền đài lăng miếu và thành quách cung điện, màu sắc kia tự nó nói nên lời. Tôi biết chị ấy đi qua cuộc đời của anh tôi bằng màu sắc đó để anh mang vết thương lòng tội nghiệp. Bác tôi sợ cái định mệnh báo trước của màu tím mà chị ưa thích cộng với sắc đẹp hơn người ấy thì khi sống với chị, anh tôi “phải chết” bởi mệnh thương phu của chị điển hình quá, nó lộ hẳn ra!
Một sáng đẹp trời trên “kinh đô nước mắm” của tôi bỗng nhiên xuất hiện một bóng giai nhân trong tà áo tím rất Huế. Từ trên con dốc cầu Gia Long đổ dài theo đường Rue de Hué mà bên này là vườn hoa tháp nước, bên kia là tòa nhà tiểu khu Bình Thuận tọa lạc trên một gò cao, người đẹp áo tím tay ôm cặp, đầu đội nón lá, chân mang guốc mộc, ung dung bước những bước nhỏ yểu điệu khiến người đi đường phải ngẩn ngơ dòm ngó, trong đó có tôi. Hôm ấy tôi đang đi học, tới ngã tư ty Ngân Khố, tôi đứng lại, tò mò chờ áo tím đi xuống con dốc ngay đó để nhận diện. Chu cha ơi, Loan! Tôi xáp vô Loan nói liền: “Bữa ni đi học mặc áo tím đẹp ghê!”. Không nói với tôi một lời nào, bên tôi Loan dửng dưng bước, cười mỉm miệng. Tôi bắt đầu sôi gan, biết chắc mẩm ai đã rao giảng, đã “mớm” cho Loan về một màu sắc, không chừng họ đã cùng nhau bát phố, lục tìm cho ra chính gốc cái màu tím ấy, hay là ngoài Huế vừa gửi vô…
Gia đình Loan ở đường Ngư Ông, trong xóm hàm hộ giàu có, họ chủ trương “Văn chương không bằng xương mắm mòi”. Xương mắm mòi thực tế là đồ vứt đi nhưng các chủ vườn ở Đà Lạt mua về làm phân bón, họ cũng có tiền, thì hơi sức đâu phải… mặc áo tím của hạng văn chương toàn những mơ với mộng. Tại sao anh tôi, người thầy dạy Sử Địa của chúng tôi, không nói cho tôi biết chuyện Loan vừa sắm áo tím Huế. Và tại sao ở lớp, tôi và Loan ngồi khít bên nhau, có khi cùi chỏ đứa này làm nhăn tập vở của đứa kia mà Loan cũng làm thinh. Có bao giờ tôi giấu Loan những vui buồn của tôi đâu. Vả lại, vươn tới cái đẹp là điều bình thường, ai cũng muốn. Loan mặc áo tím đẹp thì tôi vui, có mờ ám chi mà họ phải giấu.
Hôm ấy, những chàng trai lớp tôi học hành có phần lo ra vì không khí thâm u mơ màng của tím Huế. Kể từ đó Loan chết danh “Loan tím Huế” để phân biệt những Loan khác của trường.
Sau này đám bạn của chúng tôi, ai cũng nghĩ anh tôi sẽ cưới “Loan tím Huế”. Ba mạ tôi cũng tin như vậy, sắm sẵn cho họ đôi bông tai hình giọt nước. Có lẽ nào một lần nữa, định mệnh lại hiện về, ứng vào giọt nước của đôi bông là giọt nước mắt khiến trái tim anh tôi đột ngột rẽ hướng.
Đúng là màu tím than! “Loan tím Huế” ngày nào giờ đây buồn hết chỗ nói, hơn cả nỗi buồn phải bỏ xứ của anh tôi. Năm 197… bỏ lại áo tím, bỏ thầy, bỏ bạn, bỏ đường xưa lối cũ, bỏ cả Tổ quốc thân yêu, Loan âm thầm vượt biển, mãi đến bây giờ không tin tức.
Anh tôi cũng đã mất rồi. Gặp anh dưới đó, chắc chắn Loan buồn lắm, không thèm nói với anh dẫu chỉ nửa lời.
Vài chục năm sau, tôi gặp lại màu tím thân thương ấy ở đâu nữa… À, nhớ rồi, ở Hà Tiên, nhờ cô Hỷ Khương. Cô về đây dự lễ kỷ niệm 100 năm ngày sinh của cố nhà thơ Đông Hồ. Ở hội trường rất đông người, gặp cô, tự nhiên tôi cầm tà áo cô reo lên: “Cô… áo tím Huế đẹp quá!”. Cô cười: “Đẹp chi mô, có cái ni mặc hoài. Thấy tui là thấy áo tím, như áo trong tranh, khi mô cũng rứa”.
Tôi nói: “Cháu* thích áo tím Huế như ri nhưng không dám mặc”.
- Răng rứa? - Cô tròn xoe mắt.
Tôi làm thinh, chả nhẽ nói: “Dạ thưa cô, vì rứa chơ răng”.
Cũng người Huế mà tôi không thể mang thông điệp về chiếc áo màu tím Huế cho ai được. Không phải vì anh tôi đã tước mất niềm vinh dự ấy của tôi ngay từ khi tôi mới biết mộng mơ, ấp ủ mà vì trước sau tôi không được đẹp để sử dụng nó. Tôi sợ rằng mình sẽ làm mất đi cái màu tím sang trọng quý phái và lãng mạn vốn từ lâu đã đi vào văn học.
Trong kho tàng văn hóa Huế, màu tím Huế được nhắc đến như một niềm kiêu hãnh. Đem tím Huế nhân rộng ở nhiều nơi không phải Huế, là điều mơ ước cả hãnh diện của người con Huế phương xa.
N.T.P.L
(SDB12/03-14)
.................................
* Theo gia phả Nguyễn Phước Tộc, tôi phải gọi cô Hỷ Khương bằng cô, xưng cháu
Kỷ niệm 100 năm Trường Đồng Khánh
BÙI KIM CHI
50 năm ngày mất Giáo sư Đặng Văn Ngữ
ĐẶNG NHẬT MINH
Nhân 110 năm ĐÔNG KINH NGHĨA THỤC (1907 - 2017)
TRẦN VIẾT NGẠC
NGUYỄN HOÀNG THẢO
Trước khi có chợ, bên ngoài cửa Ðông Ba (cửa Chánh Đông) dưới thời vua Gia Long có một cái chợ lớn mang tên “Qui Giả thị” - chợ của những người trở về.
NGUYỄN KỲ
Cuộc vận động tranh cử và “đấu tranh nghị trường” trong thời kỳ 1936 - 1939 do Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo là một bộ phận đặc biệt trong cuộc đấu tranh vì quyền dân sinh dân chủ ở Việt Nam.
DÃ LAN NGUYỄN ĐỨC DỤ
Thú thật với độc giả, một trong những điều vui thú nhất của tôi - cho tới nay tôi vẫn say mê - là sưu tầm khảo cứu về Phổ trạng (tức là lai lịch, nguồn gốc...) của các nhân vật lịch sử như Ngô Quyền, Nguyễn Xý, Nguyễn Trãi, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du, Phạm Ngũ Lão, Phạm Sư Mạnh...
LÂM QUANG MINH
Tôi không có vinh dự như nhiều anh chị em cán bộ, dũng sĩ từ miền Nam ra Bắc công tác, học tập hay chữa bệnh, được trực tiếp gặp Bác Hồ, được Bác ân cần động viên dạy bảo, được cùng ngồi ăn cơm với Bác, được Bác chia bánh chia kẹo... như người cha, người ông đối với các con cháu đi xa về.
THANH HẢI
Hồi ký
Tháng 10 năm 1962, tôi được vinh dự đi trong đoàn đại biểu mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam ra thăm miền Bắc. Lần đó một vinh dự lớn nhất của chúng tôi là được gặp Hồ Chủ Tịch.
Giáo sư Bửu Ý, tên đầy đủ là Nguyễn Phước Bửu Ý, sinh năm 1937 tại Huế. Ông vừa là nhà giáo, nhà văn, vừa là dịch giả của các tiểu thuyết nổi tiếng như Nhật kí của Anna Frank, Đứa con đi hoang trở về, Bọn làm bạc giả của André Gide, Con lừa và tôi của Juan Ramón Jiménez; Thư gửi con tin của Antoine de Saint-Exupéry… đăng trên các tạp chí Mai, Văn, Diễn đàn, Phố Văn (trước 1975).
I. Nhớ hơn bốn mươi năm về trước, vào khoảng đầu mùa đông năm 1974 - mùa dỡ củ dong riềng - tôi đi chợ Chũ (Lục Ngạn), mua được tập truyện Khúc sông. Trên lối mòn đường rừng, bước thấp bước cao, tôi vừa đi vừa tranh thủ đọc. Ngày ấy, tôi chỉ biết tên tác giả là Nguyễn Thiều Nam, nào có biết đẳng cấp của ông trong làng văn ra sao!
Sinh thời, cha tôi – họa sỹ Trịnh Hữu Ngọc, hầu như không bao giờ nhắc đến những năm học vẽ ở Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương (MTĐD).
HỒ QUỐC HÙNG
(Thân mến tặng các bạn lớp Văn K9 - Đại học Tổng hợp Huế)
Ai cũng có kho ký ức riêng cho chính mình như một thứ tài sản vô hình. Ký ức lại có những vùng tối, vùng sáng và lúc nào đó bất chợt hiện lên, kết nối quá khứ với hiện tại, làm cho cuộc sống thêm ý vị.
TRẦN VĂN KHÊ
Hồi ký
Có những bài thơ không bao giờ được in ra thành tập.
Có những bài thơ chỉ còn ghi lại trong trí nhớ của tác giả và của đôi người may mắn đã được đọc qua một đôi lần.
Ngắm nhìn vẻ đẹp tinh khiết của cô nữ sinh Đồng Khánh dưới vành nón Huế, trong chiếc áo dài trắng tinh khôi, không ai nghĩ chỉ ít năm sau ngày chụp bức ảnh chân dung ấy, chị chính là nạn nhân của một chế độ lao tù tàn bạo và nghiệt ngã.
Trong quy hoạch một đô thị văn minh, vỉa hè là khoảng công cộng dành cho người đi bộ. Còn theo kiến trúc, vỉa hè là đường diềm, trang trí cho phố phường tạo ra sự hài hòa giữa đường và nhà mặt phố. Người Pháp đã làm những điều đó ở Hà Nội từ cuối thế kỷ 19.
TRẦN PHƯƠNG TRÀ
Hồi những năm 1950, làng Trúc Lâm quê tôi thuộc vùng du kích ven thành phố Huế.
QUẾ HƯƠNG
Ngày 15/7/2017 tới đây, ngôi trường hồng diễm lệ nằm cạnh trường Quốc Học, từng mang tên vị vua yểu mệnh Đồng Khánh chạm ngưỡng trăm năm.
THÁI KIM LAN
Trong những hình ảnh về ngày Tết mà tôi còn giữ được thời thơ ấu, thì Tết đối với tôi là Tết Bà, mà tôi gọi là Tết Mệ Nội chứ không phải Tết Mạ. Bởi vì mỗi khi Tết đến, cả đại gia đình chúng tôi đều kéo nhau lên nhà Từ đường “ăn Tết", có nghĩa quây quần chung quanh vị phu nhân trưởng tộc của dòng họ là bà nội tôi.
TRẦN VIẾT NGẠC
Báo Xuân xưa nay luôn là số báo đẹp nhất, phong phú nhất trong một năm. Bài vở số Xuân được tòa soạn đặt bài trước cho các cây bút thân quen, nổi tiếng từ mấy tháng trước.
NGUYÊN HƯƠNG
Trong đời, người ta ai cũng nên phải lòng một vùng đất. Cảm giác đó thật đặc biệt, giống như khi ta một mình đi đêm về sáng, bỗng gặp đóa hoa cô đơn thức sớm nở ngoài thềm, thấy thương.