Chuyện cổ tích

09:31 22/05/2020

MARK TWAIN  

M. Twain (1835 - 1910) là nhà văn lớn của Mỹ, từng phải lăn lóc nhiều nghề lao động chân tay trước khi trở thành nhà văn, do đó văn của ông rất được giới lao động ưa chuộng.

Ảnh: internet

Ông sống lang bạt đồng thời cộng tác với nhiều báo từ khoảng 1857. Đến 1863 ông mới cho ra đời bút danh Mark Twain và ông nổi tiếng từ 1864 với truyện ngắn “The Celebrated Jumping Frog of Calaveras County” (Con ếch nhảy xa lừng danh Hạt Calaveras). Những tác phẩm lớn của ông mang đậm chất hài hước và châm biếm xã hội nhưng rất hấp dẫn đại chúng và cả trẻ em vì nhiều nhân vật chính của ông là thiếu niên, như Tom Sawyer (1876), Life on Mississippi (1883; Cuộc sống trên dòng Mississippi), và Huckleberry Finn (1884). Truyện ngắn sau cũng mang chất châm biếm ấy.   







Hơn nghìn năm trước, miền đất nhỏ bé này là một vương quốc, có thể gọi là một vương quốc tí hon. Cuộc sống ở đó giản dị, con người ở đó phong nhã, lúc nào nó cũng chìm trong cơn mộng thái bình, ở đó chẳng có điều xấu, chẳng có ghen tị, tham vọng, chả hề có sự bất hạnh nào trên đời.

Vào thời đó, ông vua già băng hà và hoàng tử nhỏ tên Hubert lên nối ngôi. Tình yêu của dân chúng dành cho cậu ngày càng tăng. Cậu thật là tốt, thật thuần khiết và cao quý đến nỗi tình yêu đó dần dần trở thành một đam mê và hầu như là tôn sùng. Vào lúc cậu ra đời, các nhà chiêm tinh đã nghiên cứu các vì sao và tìm ra mấy điều ghi trong sách thánh về chuyện này:

Năm Hubert mười bốn tuổi sẽ xảy ra một biến cố quan trọng, con vật có tiếng hát ngọt ngào nhất đối với Hubert sẽ cứu mạng Hubert. Nếu nhà vua và cả nước vinh danh con vật này vì công trạng lớn lao ấy thì triều đại lâu đời này sẽ tồn tại mãi, đất nước sẽ không bị chiến tranh, dịch bệnh hay nghèo đói. Nhưng hãy coi chừng nếu lựa chọn sai lầm.

Và suốt năm hoàng tử được mười ba tuổi, các nhà chiêm tinh, chính khách, cả cái nghị viện tí xíu và toàn dân nữa, chỉ bàn về một chuyện là: Câu cuối của lời tiên tri phải hiểu như thế nào? Những câu đầu thì có vẻ như con vật cứu tử đó sẽ xuất hiện đúng lúc cần thiết, nhưng câu cuối lại như nói rằng nhà vua phải chọn trước và tuyên bố giọng con nào làm ngài hài lòng nhất, nếu ngài chọn đúng, con vật được chọn đó sẽ cứu mạng ngài, và triều đại cùng thần dân của ngài nữa, nhưng nếu “lựa chọn sai lầm” thì… hãy coi chừng!

Đến cuối năm, những ý kiến về vấn đề này vẫn rối lên y như hồi đầu năm, nhưng đa số kẻ thông thái cũng như chất phác đều đồng ý rằng phương kế tốt nhất là cho vị tiểu vương ấy lựa chọn trước, và càng sớm càng tốt. Thế là tất cả những ai có con vật nào hót được đều nhận lệnh phải mang đến đại sảnh của hoàng cung vào buổi sáng đầu năm mới. Lệnh được thi hành ngay. Khi mọi sự đã sẵn sàng cho cuộc lựa chọn thì chàng vua mới long trọng giá lâm cùng các đại thần, tất cả đều mặc lễ phục. Nhà vua bước lên ngai và sắp sửa phán quyết. Nhưng lúc đó chàng lại truyền:

“Tất cả đều hót một lượt như thế thì ồn quá, làm sao chọn gì được. Hãy đem tất cả ra và đưa vào từng con một.”

Thế là từng con chim với giọng ngọt ngào kế tiếp nhau véo von bên tai vua và lần lượt được đem ra nhường chỗ cho con khác. Nhưng nhà vua thấy khó mà lựa chọn được, và còn khó hơn nữa vì việc chọn sai sẽ chịu hình phạt khủng khiếp khiến nhà vua không dám tin ở tai mình nữa. Chàng thấy bồn chồn và long nhan đượm vẻ u sầu. Các đại thần nhận thấy ngay vì họ không rời mắt khỏi nhà vua lấy một giây. Bây giờ họ tự nhủ: “Ngài đã mất tự tin, không còn bình tĩnh nữa, ngài sẽ sai lầm. Ngài, triều đại và thần dân của ngài sẽ diệt vong mất!”

Sau nhiều giờ, nhà vua ngồi bất động hồi lâu rồi phán: “Mang con sẻ lanh vào.”

Giữa tràng véo von của con sẻ, chàng đã toan giơ vương trượng lên như dấu hiệu lựa chọn, nhưng chàng chợt nghĩ lại và phán:

“Nhưng để an tâm, hãy đem chim hoét vào cho chúng cùng hót.”

Chim hoét được mang vào và cả hai cùng hót. Nhà vua ngẫm nghĩ, rồi ý quyết định rõ dần. Mọi người có thể thấy điều đó trên nét mặt chàng. Hy vọng hồi sinh trong tim các lão thần, nhịp đập của chúng dồn hơn, vương trượng đang từ từ giơ lên thì… Thật là một cú cắt ngang kinh hoàng! Đó là một âm thanh như thế này… ngay ở ngoài cửa điện:

“Hi… hô! Hi… hô! Hi… hô! Hi… hô!...”

Minh họa: NGÔ LAN HƯƠNG


Mọi người giật nẩy mình. Kế đó, một cô bé nhà quê xinh xắn, độ chín tuổi, chạy vào trong điện, đôi mắt ánh lên vẻ nhiệt tình trẻ thơ, nhưng khi trông thấy hàng ngũ quan lại và những bộ mặt giận dữ thì cô sựng lại và òa khóc. Chẳng ai chào đón cô, chẳng ai thương hại cô. Thế rồi cô ngước nhìn lên qua màn lệ và nói:

“Tâu đức vua, xin ngài tha tội vì tôi không có ý làm bậy. Tôi mồ côi cha mẹ, chỉ có một con dê và một con lừa. Chúng là tất cả của tôi. Con dê cho tôi sữa, còn con lừa này khi nó kêu lên thì tôi thấy chẳng có thứ âm nhạc nào bằng. Nên khi nghe nói con vật nào có giọng hót ngọt ngào nhất sẽ cứu được đức vua và cả nước, nên tôi mang tới đây…”.

Cả triều phá ra cười, cô bé khóc lóc chạy ra không nói tiếp được. Ông tể tướng ra lệnh đưa cô bé và con lừa ra khỏi hoàng cung.

Rồi cuộc lựa chọn tiếp tục. Hai con hót hay lắm nhưng vương trượng vẫn bất động trong tay vua. Dân chúng bên ngoài chờ đến phát điên lên. Hoàng hôn xuống, bóng tối phủ dần. Nhà vua và triều thần không còn nhìn rõ mặt nhau nữa, nhưng chẳng ai nói gì, chẳng ai thắp đèn. Cuộc lựa chọn có vẻ như đã thất bại. Mọi người muốn giấu mặt vào bóng tối và che kín nỗi lo lắng trong lòng.

Sau cùng… Nghe kìa! Một giọng hót tròn trịa sung mãn với âm điệu du dương ngọt ngào từ mãi cuối sân điện tràn vào. Giọng của con sơn ca!

“Đây rồi!” nhà vua kêu lên. “Rung chuông lên, báo cho mọi người biết ta đã chọn xong và ta không sai lầm. Ngôi báu, triều đại và toàn dân đã được cứu thoát. Từ phút này hãy vinh danh loài sơn ca. Bất kỳ ai coi thường hay làm đau một con sơn ca sẽ bị tử hình. Ta phán như thế.”

Cả cái vương quốc tí xíu đó uống say với niềm vui. Lửa hội bùng lên trước cung điện và trong thành phố suốt đêm. Người ta nhảy nhót, nhậu nhẹt và ca hát. Tiếng chuông không lúc nào ngưng.

Từ ngày đó, sơn ca trở thành loài chim thiêng. Nhà nhà lắng nghe nó hót. Các thi sĩ làm thơ ca tụng nó, các họa sĩ vẽ nó. Tượng nó mọc lên khắp nơi, trên các bức tường, cổng vòm và dinh thự. Nó còn được đưa vào Hội đồng Cơ mật và không một vấn đề quan trọng nào của đất nước được quyết định trước khi các nhà chiêm tinh đưa nó ra trước mặt con sơn ca hoàng triều, rồi chuyển dịch cho hội đồng biết con chim thiêng đã hót gì về vấn đề đó.

*

Vị vua trẻ rất ham săn bắn. Mùa hè đó, một ngày nọ, chàng rong ngựa đi săn với lũ chim ưng và bầy chó, cùng mấy tùy tùng. Trong một cánh rừng, chàng bị lạc. Chàng cứ nghĩ rằng tới đàng kia là gặp lại họ, nhưng đó chỉ là ảo tưởng. Chàng cứ phóng ngựa mãi, ban đầu còn đầy hy vọng, rồi sau cùng chỉ còn lại nỗi sợ hãi. Hoàng hôn đã xuống mà chàng vẫn một mình trên đất lạ.

Trong ánh sáng lờ mờ, chàng thúc ngựa nhảy qua một bụi cây mọc nhô ra bên bờ vực. Cả hai rơi xuống, con ngựa gãy cổ còn chàng thì gãy chân. Vị vua trẻ tội nghiệp đành nằm đó chịu đau, mỗi phút trôi qua dài như một tháng. Chàng lắng nghe xem có âm thanh nào mang lại hy vọng giải cứu không, nhưng chẳng có gì cả. Không một tiếng tù và hay chó sủa. Sau cùng, chàng không còn hy vọng gì nữa và tự nhủ, “Thôi, cứ mặc cho Thần Chết tới!”

Ngay lúc đó, có tiếng sơn ca hót ngọt ngào vọng tới.

“Thoát rồi!” nhà vua kêu lên. “Đây là chim thiêng và lời tiên tri đã thành sự thực. Chính thần thánh đã giúp ta khỏi lựa chọn sai lầm.”

Chàng không kìm nổi niềm vui. Chàng tưởng như có tiếng người giải cứu đang tiến tới. Nhưng mỗi giây phút qua là thêm thất vọng. Chả có cứu giúp gì cả, chỉ có con chim thiêng hót mãi. Chàng bắt đầu nghĩ mình đã chọn sai. Đến bình minh, chim thôi hót. Buổi sáng đến cùng cơn đói và khát nhưng chẳng ai tới cứu. Ngày thứ nhì qua đi. Sau cùng nhà vua nguyền rủa con sơn ca.

Ngay lúc đó, có tiếng hót của sẻ lanh vang trong rừng. Vua thầm nghĩ, “Đây mới là con chim đích thực. Mình chọn sai rồi, sẽ có người tới ngay thôi.”

Nhưng chẳng có ai đến. Chàng nằm bất tỉnh hồi lâu. Khi tỉnh lại, có tiếng chim hoét đang hót. Chàng lắng nghe, lòng đầy ác cảm. Niềm tin đã mất. “Bọn chim này,” chàng nghĩ, “chẳng được tích sự gì. Ta, dòng họ và dân tộc tiêu vong rồi.”

Chàng kiệt sức vì đói khát và đau đớn, rồi thấy cái chết gần kề. Thực tình chàng cũng mong được chết. Nhiều giờ qua, chàng nằm đó, không suy nghĩ, cảm giác hay cử động. Rồi chàng tỉnh lại. Bình minh của ngày thứ ba đã rạng. Ôi, thế giới như vô cùng xinh đẹp trước mắt chàng. Đột nhiên, lòng khát sống nổi lên dữ dội, chàng muốn thấy lại hoàng cung và bè bạn một lần nữa. Ngay lúc đó chợt vọng lại một âm thanh mỏng manh, xa xôi. Mà ôi! Sao nghe nó ngọt ngào dịu dàng vậy.

“Hi… hô! Hi… hô! Hi… hô! Hi… hô!...”

“Ôi! Tiếng hót ngọt ngào, ngàn lần ngọt ngào hơn lũ sơn ca sẻ lanh hay chim hoét, vì nó không chỉ mang lại hy vọng mà còn mang lại sự cứu giúp. Mạng của ta và thần dân ta sẽ được cứu vớt.”

Âm thanh tuyệt vời ấy cứ tới gần, ngày càng rõ và ngọt ngào hơn với đôi tai của kẻ đang khốn khổ. Con lừa nhỏ xuất hiện. Nó thấy xác con ngựa và nhà vua. Nó bước tới ngửi loanh quanh, chỉ vì tò mò thôi. Nhà vua vỗ lưng nó và nó nằm phục xuống như mỗi lần cô chủ nhỏ muốn leo lên lưng nó. Dù hết sức đau đớn và khó khăn, vị vua trẻ vẫn bò được lên lưng nó. Con lừa vừa đi vừa kêu và mang chàng vua về lều cô bé nhà quê. Cô dọn giường, vắt sữa dê cho chàng rồi chạy đi báo tin cho nhóm tìm kiếm cô gặp đầu tiên trên đường.

Nhà vua khỏe lại. Việc đầu tiên là chàng tuyên cáo rằng con lừa là linh vật, thứ nhì là đưa ngay con lừa cứu mạng ấy vào hội đồng cơ mật và phong nó làm tể tướng. Việc thứ ba là cho phá hủy mọi hình tượng chim sơn ca trên toàn quốc và thay vào đó là hình tượng con lừa. Thứ tư, chàng tuyên bố rằng cô bé nhà quê, khi đủ mười lăm tuổi, sẽ được phong làm hoàng hậu. Và chàng đã giữ đúng lời mình.

*

Đó là chuyện cổ tích. Chuyện này giải thích tại sao hình ảnh con lừa có mặt ở mọi bức tường, cổng vòm và nó cũng lý giải tại sao, trong nhiều thế kỷ, con lừa cứ là tể tướng trong Hội đồng Cơ mật của các triều đình, thậm chí trong hầu hết những nội các thời nay cũng vẫn còn như thế. Nó cũng giải thích tại sao, trong tiểu vương quốc đó suốt bao thế kỷ, mọi bài thơ tuyệt tác, mọi diễn văn hùng biện, mọi pho kinh điển lớn, mọi buổi đại lễ và mọi chiếu chỉ tuyên cáo của triều đình đều khởi đầu bằng cái giọng lừa rất hào hứng:

“Hi… hô! Hi… hô! Hi… hô! Hi… hô!...”.

Phạm Viêm Phương dịch  
(SHSDB36/03-2020)



 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • LTS: Trong 24 bài trong tập Cỏ dại của nhà văn Lỗ Tấn do GS. Trần Đình Sử dịch, Sông Hương số tháng 10 năm 2011 đã giới thiệu đến bạn đọc 3 bài “Sau khi chết”, “Sự giã từ của cái bóng” và “Sự run rẩy trên đường đồi bại”. Kỳ này Sông Hương xin giới thiệu tiếp với bạn đọc 4 bài chọn lọc từ Cỏ dại.

  • VILIAM KHÂYNÊXEN (Đan Mạch)

    Khi Lêô tỉnh giấc, trong tai anh vẫn còn vang lên những lời của ông giáo sĩ giảng đạo.

  • LGT: Nhà văn, nhà nghiên cứu sử học và văn hóa Mỹ Jon Holmes sinh ra tại tiểu bang Texas, Hoa Kỳ. Sau khi tốt nghiệp trường cao đẳng công nghệ Texas nơi ông từng tham gia phong trào nhân quyền và phản chiến, Jon Holmes chuyển đến New York làm việc cho một tạp chí nhiếp ảnh và phụ trách một chương trình sưu tầm các tác phẩm nghệ thuật của các nghệ sĩ hiện đại cho một đại công ty ở Bos- ton.

  • KNUT HAMSUN (*)

    Do tôi viết. Viết vào ngày hôm nay cho trái tim vơi nhẹ đi. Tôi đã mất chỗ làm ở tiệm cà phê cùng những ngày sung sướng của tôi. Tất thảy mọi thứ, tôi đã mất hết. Và tiệm cà phê ấy là tiệm cà phê Mắcximilăng.

  • HENRY JAMES 
         (Tiếp theo Sông Hương số 290 tháng 4/2013)

    Một buổi sáng (tôi cho là ở gần La Spezia) Harold đang vẽ bên gốc cây, không xa quán trọ, tôi ngồi cạnh, lớn tiếng đọc Shelley(18) - người có thể chứng tỏ được trìu mến hơn bất cứ ai.

  • ELENA PUCILLO TRUONG

    Nỗi khắc khoải đã kéo dài từ bao lâu?
    Có lẽ một năm. Quá nhiều. Lấy cớ đi vào toilette, hai tay tôi nắm chặt chiếc bồn rửa mặt trong nhà hàng như muốn bẻ làm đôi. Bao nhiêu bức bối đang dồn vào trong... bao nhiêu đau đớn... đau đến nỗi tôi không dám ngẩng mặt nhìn bóng mình trong gương.

  • Henry James (1843 - 1916), nhà văn Mỹ viết tiểu thuyết, truyện ngắn, phê bình văn học; đặc biệt yêu văn học và nghệ thuật Pháp. Ông định cư ở Londres, Anh từ 1876. Tác phẩm: 112 truyện ngắn (1864 - 1910), Toàn tập (1990 - 2009), nội dung thể hiện ở nhiều chủ đề như: ý thức, tâm lý, mơ mộng, tình cảm, vẻ đẹp, chân lý nghệ thuật.

  • FRANÇOIS CHENG
    (Trích từ tác phẩm Khi những linh hồn lang thang trở về)

    Dưới gầm trời này, dưới cái gầm trời rất thấp này, tất cả đều có thăng có trầm, tất cả đều bị biến đổi. Tác phẩm về Những đột biến đã chỉ rõ điều đó, tổ tiên chúng ta đã nói: “Cứ năm năm thì có chuyển biến nhỏ, cứ năm trăm năm thì có đại đột biến”.

  • L.T.S: Sherwood Anderson (1876 - 1941) là nhà văn lớn của Mỹ. Ông có nhiều tư tưởng tiến bộ, và thường tỏ thiện cảm với những lực lượng vô sản cách mạng Mỹ, đặc biệt là trong những năm 1931 - 1935. Truyện ngắn "Những ngọn đèn chưa thắp" (Unlighted Lamps) của ông dưới đây được liệt vào một trong những chuyện ngắn xuất sắc trong nền văn học Mỹ từ trước đến nay. Câu chuyện về bi kịch nội tâm của những con người không phá vỡ nổi bức tường ngăn cách giữa những tình thân và cho đến khi nhắm mắt vẫn chưa kịp thắp lên ngọn lửa thông cảm.

  • Elena Pucillo Truong là người Ý, Tiến sĩ Ngôn ngữ và Văn học nước ngoài (Đại học Milano Italia). Cô dạy tiếng Pháp và Văn minh Pháp tại Milano từ năm 1982 và gần đây có dạy tiếng Ý tại Nhạc Viện, tại phòng lãnh sự danh dự Ý và tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP HCM.

  • LGT: Etgar Keret sinh ngày 20/8/1967 tại Ramat Gan, Israel. Nhà văn nổi tiếng với truyện ngắn và kịch bản phim, có ảnh hưởng lớn tới lớp nhà văn trẻ hiện nay ở Israel.

  • L.T.S: Narayan là nhà văn miền Nam Ấn Độ, sáng tác bằng tiếng Anh. Sinh 10/10 năm 1906 tại làng Madras (mất 13/5/2001), từng sống ở thành phố Mysore cổ kính của quê hương ông.

  • Ferit Edgu sinh năm 1936, từng sống sáu năm ở Paris học chuyên ngành gốm. Trong nhiều năm ông là người viết kịch bản quảng cáo và rồi điều hành một nhà xuất bản. Sự vô lý của cuộc đời, những ám ảnh dục tính, sự sa đọa và sự bất hòa của người trí thức là những chủ đề của ông.

  • HEINRICH BÖLL (CHLB Đức)

    (Heinrich Böll sinh 1917, mất 7-85 - giải thưởng Nôbel văn học 1972)

  • Ngoài các tác phẩm lớn về Việt Nam như Vạn Xuân, Lãn Ông, mấy năm gần đây, nữ văn sĩ Pháp Yveline Feray đã cho ra đời những tập truyện thần thoại và dân gian của các nước châu Á như Việt Nam, Trung Hoa, Campuchia, Tây Tạng. Vào cuối năm 2010, bà đã cho xuất bản tập “Chuyện kể của bà ngoại Ấn Độ”.

  • AKUTAHAVA RIUNÔXKÊ (Nhật Bản)

    Hôm ấy một mình Đức Phật đi dạo ven bờ đầm trên Niết bàn.
    Cả đầm toàn là sen trắng trong như ngọc, và nhị sen vàng tỏa ra xung quanh một mùi thơm ngọt, ngạt ngào.

  • L.T.S: LANGSTON HUGHES (1902 - 1967), nhà văn, nhà thơ, nhà viết kịch và dịch giả người Mỹ da đen, sinh ở Joplin, bang Missouri. Ông đã xuất bản 35 tác phẩm. Thơ của ông đã được dịch sang tiếng Việt. Những tác phẩm của ông phần lớn tập trung chủ đề đấu tranh cho quyền bình đẳng giữa người da đen và da trắng tại nước Mỹ. Truyện sau đây dịch trong tập truyện "The ways of white Folks".

  • Hình ảnh rồng Việt Nam từ xa xưa đã sớm đi vào nghệ thuật với nhiều loại hình khác nhau. Trong lịch sử nghệ thuật điêu khắc, nhiều công trình điêu khắc lấy con rồng làm đề tài đã trở thành những tác phẩm có giá trị văn hóa, trong đó không ít công trình điêu khắc đá được xem như là những tác phẩm mang dấu ấn phong cách nghệ thuật của một thời kỳ.

  • Nhà văn Phillip Van Doren Stern sinh ra tại Wyalusing, bang Pennsylvania và lớn lên tại Brooklyn, New York. The Greatest Gift là truyện ngắn nổi tiếng nhất của ông. Phillip Van Doren Stern đã từng gửi câu truyện này đi nhiều báo và tạp chí nhưng không nơi nào nhận đăng. Cuối cùng ông cho in truyện lên 200 tấm thiệp năm mới và phát cho bạn bè.

  • LTS: Butribabu tên thật là Sivarazu Vencata Xubarao (1916 - 1967) là một nhà văn lớn của Ấn Độ, tác giả của tiểu thuyết nổi tiếng “Còn lại gì?” và 10 tập truyện ngắn trong đó tập đầu tay “Năm truyện ngắn” xuất bản năm 1933. Ông sáng tác bằng tiếng Telugu truyện ngắn “Khasima Bi” in trong tập “Tuyển tập sáng tác của các nhà văn Nam Á” của nhà xuất bản “Văn học”, Mat-xcơva, 1980.