Báu vật

14:40 05/03/2010
AZIt NêxinNgày xưa, nhà vua ở một nước nọ có một kho bạc. Nghe đồn rằng trong kho bạc của nhà vua cất giữ một báu vật vô giá duy nhất của nước đó. Mọi người đều tự hào về báu vật mà tổ tiên đã để lại cho họ. “Mặc dầu chúng ta chẳng có gì cả, nhưng tổ tiên đã để cho chúng ta giữ một vật quý”, họ thường tự hào như vậy mà quên đi cảnh túng thiếu của mình.

Do chỗ báu vật đó không thuộc về một hai người mà là tài sản chung của toàn dân nên mỗi người đều cho rằng trong đó cũng có phần của mình và vì thế đều ra sức bảo vệ nó bằng niềm tin và bằng chân lý.

Tuy báu vật là tài sản chung của toàn dân, song nơi bảo quản thích hợp nhất lại là kho bạc của nhà vua. Những đội vệ binh có vũ trang ngày đêm canh gác kho bạc hết sức cẩn mật. Ngay đến chim chóc cũng không thể bay ung dung qua nơi đó.

Cữ mỗi năm một lần, vào một ngày nhất định, nhà vua, quan tể tướng và các quan đại thần lại làm lễ tuyên thệ nguyện trung thành với báu vật thiêng liêng do cha ông để lại.

Một hôm nhà vua muốn biết cái vật thiêng liêng mà dân chúng giữ gìn như giữ gìn con ngươi của mắt mình là cái gì. Vua khao khát muốn nhìn thấy của báu nằm trong cái hòm bí mật. Rút cục, vua không kìm mình được và một mình đi vào kho bạc. Lính gác để cho vua đi vào. Vua, quan tể tướng và các đại thần bao giờ cũng được quyền tự do đến đó để kiểm tra xem báu vật mà họ được các thần dân giao trông coi có còn nguyên tại chỗ hay không. Muốn nhìn thấy cái hòm thiêng liêng phải vào phòng thứ nhất, rồi từ đó vào phòng thứ hai và tiếp đó sang phòng thứ ba. Cứ phải tuần tự đi qua bốn mươi phòng như vậy và ở mãi tận phòng thứ bốn mươi mốt mới là nơi đặt những cái hòm xếp lồng vào nhau. Báu vật nằm trong cái hòm thứ bốn mươi mốt.

Vua lần lượt mở bốn mươi cánh cửa, rồi bước vào phòng thứ bốn mươi mốt.

“ Cái vật mà chúng ta từng ấy năm bảo quản là cái gì nhỉ?” vua hồi hộp tự hỏi

Khi vua mở nắp hòm thứ bốn mươi mốt thì một báu vật đẹp chưa từng thấy trên đời hiện ra trước mắt vua. Nó sáng rực như lửa. Vàng chẳng phải là vàng, bạch kim chẳng phải bạch kim, còn bạc thì càng không phải. Sức quyến rũ của báu vật khiến vua cầm lòng không đặng. “ Ta sẽ lấy báu vật mà ông cha đã để lại. Nó sẽ thuộc về riêng một mình ta. Dù sao thì cũng chẳng ai biết cơ mà”.

Vua lấy báu vật thiêng liêng sáng rực như một mảnh mặt trời ra khỏi hòm và dút vào túi. Nhưng vua bỗng hoảng sợ: nhỡ có lúc mọi người biết được vụ đánh xoáy này thì sao? Và vua bèn quyết định: “ Ta sẽ lấy cái báu vật sáng chói này và đặt vào chỗ của nó một miếng bạch kim được nạm hồng ngọc, ngọc trai, xà cừ và ngọc bích. Chưa ai nhìn thấy cái vật thiêng này cả, bởi vậy nếu như có lúc nào đó người ta mở hòm ra thì cũng chẳng ai biết được sự đánh tráo của ta”. Nhà vua nghĩ sao làm vậy. Sau đó vua xếp lần lượt những cái hòm vào nhau, khóa lần lượt tất cả các phòng rồi bước ra khỏi kho bạc.

Vua đã đi khỏi, nhưng liệu có ai dám đảm bảo rằng trò gian lận của nhà vua không bị phát hiện? Và để không ai biết rằng chính vua đã lấy trộm báu vật, bắt đầu từ ngày hôm đó, vua ra lệnh cho các thần dân mỗi năm hai lần đến tuyên thệ về lòng trung thành của mình đối với vật thiêng, chứ không phải mỗi năm một lần như trước kia. Từ đấy, cứ hai lần trong một năm, toàn thể dân chúng lại tụ tập trên quảng trường để thề thốt rằng, bằng niềm tin và chân lý, họ sẽ bảo vệ di vật thiêng liêng cha ông để lại.

Nghe nói quan tể tướng là một người sáng dạ. Ông ta bắt đầu suy nghĩ và phỏng đoán xem tại sao bỗng dưng nhà vua lại ra lệnh bắt mọi người tuyên thệ hai lần trong một năm, trong khi chỉ cần một lần như trước kia cũng đủ. “ Báu vật mà chúng ta từng ấy năm canh giữ là cái gì vậy?” Quan tể tướng thắc mắc. Và rốt cục, không nhịn được nữa, ông ta bèn vào kho. Sau khi đi qua bốn mươi phòng và mở bốn mươi mốt cái hòm, ông ta nhìn thấy vật báu. Thỏi bạch kim nạm những viên đá qúy mà nhà vua đem đặt trong hòm thay cho vật thiêng đã làm cho quan tể tướng sửng sốt. “Ta sẽ lấy báu vật này và thay vào đó một thỏi vàng nạm đá quý. Bởi lẽ không một ai biết mặt mũi cái vật thiêng đó ra sao - quan tể tướng nghĩ bụng - nếu như có một lúc nào đấy người ta mở hòm ra thì cũng không ai ngờ được rằng bảo vật đã bị đánh tráo”. Nói sao làm vậy. Nhưng để đề phòng trò gian lận bị lộ, quan tể tướng xin vua xuống chiếu bắt các thần dân đến tuyên thệ thường xuyên hơn. Từ đó hàng năm, xuân hạ thu đông, dân chúng kéo đến thề nguyền trước sân rồng.

Nghe nói trong số các quan đại thần có một người rất tinh ý. Ông ta bắt đầu suy nghĩ xem tại sao dân chúng lại đến tuyên thệ bốn lần trong một năm trong khi mới đây việc đó chỉ được tiến hành có hai lần. Lợi dụng quyền hành của mình và cũng không nói cho ai biết, một hôm ông ta lẳng lặng đi vào nhà kho. Ông ta đi qua bốn mươi phòng, mở bốn mươi mốt cái hòm. Và hai mắt ông ta bỗng sáng ngời khi nhìn thấy trong chiếc hòm thứ bốn mươi mốt một thỏi vàng nạm đá quý lóng lánh. “Ta sẽ thay thỏi vàng bằng một thỏi bạc”. Chẳng ai biết đâu mà sợ. Và ông đã làm đúng như vậy.

Để đề phòng việc lấy cắp có thể bị phát giác, quan đại thần đã quyết định bắt dân chúng hàng tháng phải đến làm lễ tuyên thệ.

Bằng cách đó, ông ta muốn chứng minh lòng trung thành của mình đối với kỷ vật thiêng liêng.

Từ đó dân chúng tháng nào cũng kéo nhau đến quảng trường thề sẽ bảo vệ vật thiêng liêng đến giọt máu cuối cùng.

Nghe nói một vị quan thượng thư cũng là người khá thông minh. Khi thấy dân chúng tháng nào cũng đến tuyên thệ, ông ta liền suy nghĩ: “ Ở đây có chuyện gì không ổn, ta sẽ đến xem cái vật lạ đó nó như thế nào”. Ông ta đi qua bốn mươi phòng, mở bốn mươi mốt cái hòm và nhìn thấy bảo vật. Quan thượng thư rất thích kỉ vật của tổ tiên nên nảy ra một ý: “ Chuyện gì sẽ xảy ra nếu ta lấy cái vật này đi và đặt một miếng đồng vào chỗ của nó. Có mà trời biết”. Và nghĩ sao làm vậy. Tuy nhiên quan thượng thư vẫn nơm nớp sợ câu chuyện bị bại lộ. Do đó ngài quyết định dân chúng hàng tuần phải đến tuyên thệ.

Quan thị vệ phụ trách đội quân canh gác kho bạc cũng suy nghĩ: “ Có chuyện gì vậy? Tuần nào chúng ta cũng phải bày tỏ lòng trung thành. Giờ ta thử xem có cái gì được cất giấu ở đó?”

Cũng như tất cả những người khác, y đi vào phòng thứ bốn mươi mốt, mở bốn mươi mốt cái hòm. Khi y nhìn thấy miếng đồng sáng loáng thì mặt mày rạng rỡ hẳn lên. “ Ta sẽ thay thế miếng đồng bằng miếng sắt. Và chuyện này cũng chẳng có ai biết”.

Nghĩ sao làm vậy. Nhưng việc này làm y mất an tâm. Để cố chứng minh rằng y không tiếc công sức và tính mạng để bảo vệ báu vật thiêng liêng, y bắt ngày nào dân chúng cũng phải đến tuyên thệ.

Qua một thời gian, trong dân chúng có một người nói:

- Đã nhiều năm nay chúng ta vẫn luôn luôn thề thốt rằng chúng ta không tiếc sức lực và tính mạng của mình để bảo vệ kỷ vật do tổ tiên chúng ta để lại. Và quả thật chúng ta đang ra sức nâng niu giữ gìn cái báu vật đó trong kho bạc. Nhưng nào ai trong số chúng ta có biết cái vật đó ra làm sao? Chúng ta có phải là cái nhà kho chứa đồ đạc đâu. Tại sao chúng ta lại không muốn biết nhỉ? Bây giờ chúng ta hãy cùng nhau vào đó, chúng ta sẽ mở các hòm ra và sẽ biết mặt mũi cái vật thiêng mà chúng ta giữ gìn cẩn thận.

Những lời đó như một quả bom nổ giữa ban ngày. Tất cả những kẻ đã đánh tráo kỷ vật đứng đầu là nhà vua, liền xúm lại quở mắng cái anh chàng dám ăn nói sàm sỡ như vậy, Kẻ nào cũng nghĩ rằng chỉ một mình hắn làm trò gian lận mà thôi, không biết gì đến hành động của những kẻ khác nên tất cả bọn chúng đều run như cầy sấy vì sợ bị vạch trần.

Do đó chúng càng nổi khùng lên với kẻ dám vi phạm sự an ninh và buộc anh ta vào tội xúc phạm đến vật thiêng:

- Chà, mi là tên khốn khiếp. Mi là cái thá gì mà dám đòi được nhìn báu vật của chúng ta!

Sau khi làm cho dân chúng tin rằng anh chàng nọ là kẻ có tội, chúng hùa nhau xông đến đánh đập anh ta rất tàn nhẫn. Anh ta sắp nguy đến nơi, nhưng vừa lúc đó nhà vua liền can thiệp:

- Nếu muốn giết hắn thì chúng ta sẽ làm điều đó một cách nghiêm minh theo pháp luật - vua nói.

Và thế là một đạo luật riêng được ban hành. Và sau đó tên tội phạm bị đem đi hành hình.

Nhưng không dễ gì bắt mọi người phải quên đi những lời của anh ta. Những lời này được truyền từ miệng người này sang miệng người khác và lan đi rất nhanh trong thiên hạ.

Một hôm lại có một người nữa muốn được trông thấy kỷ vật mà người ta cố sống cố chết giữ gìn. Nhưng vì biết rằng chuyện gì sẽ xảy ra với mình nên anh ta không nói cho ai biết ý đồ của mình. Tin vào mưu trí của mình, anh ta bí mật lẻn vào nhà kho. Nhưng vua, quan tể tướng, quan đại thần và tất cả những kẻ cắp khác do bị một nỗi sợ hãi thường xuyên ám ảnh rằng có một người nào đó sẽ đoán được mưu gian của chúng, nên chúng ra sức canh giữ vật thiêng, hay nói đúng hơn, cái vật mà chúng đã đánh tráo. Bởi vậy anh chàng lẻn vào kho đã rơi vào tay chúng. Anh ta họ tóm đúng vào lúc anh ta cầm báu vật định đưa cho toàn thể dân chúng xem. Hỡi ơi, trong tay anh ta chỉ là một mảnh sắt gỉ mà tên kẻ trộm sau cùng đã đặt thay thế vào chỗ kỷ vật.

- Nhưng kỷ vật thiêng liêng không phải là như thế! - quan thị vệ thốt lên.

- Không phải! - quan thượng thư hét lên.

- Không phải nó! - cả bọn, đứng đầu là nhà vua kêu ầm lên.

Lúc ấy anh chàng cầm mảnh sắt gỉ cũng nói thật to:

- Tại sao các ông biết được rằng đây không phải là kỷ vật thiêng liêng? Như vậy có nghĩa là các ông đã nhìn thấy báu vật thật sự rồi chứ gì?

Không ai trong bọn chúng há miệng trả lời được một câu. Mỗi tên đều hiểu rằng cái vật mà hắn đặt vào chỗ kỷ vật đã bị tên kẻ trộm sau đánh tráo mất rồi. Chúng bèn nhanh chóng thanh toán kẻ bị bắt rồi đem mảnh sắt gỉ đặt vào chỗ cũ trong cái hòm thứ bốn mươi mốt. Sau đó chúng lồng tất cả các hòm vào với nhau, khóa thật kỹ cửa của bốn mươi mốt phòng rồi đánh bài chuồn. Nhưng vì trong bụng vẫn còn lo ngay ngáy, chúng bèn ra một đạo luật mới về việc bảo quản kỷ vật thiêng liêng. Theo đạo luật này, toàn thể dân chúng mỗi ngày phải đến tuyên thệ ba lần vào buổi sáng, buổi trưa và buổi tối.

Dân chúng chấp hành pháp luật rất nghiêm chỉnh. Và không một ai trong số những người đến tuyên thệ lại biết được rằng vật thiêng liêng mà họ ra sức bảo vệ, chỉ vẻn vẹn là một mảnh sắt gỉ.

LÊ SƠN
dịch
(131/01-2000)





 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • MISHIMA YUKIO (Nhật Bản)Nhà văn Nhật Bản Mishima Yukio (1925 - 1970) bắt đầu in các tác phẩm của mình từ những năm 20 tuổi. Ông được tặng nhiều giải thưởng văn học và ba lần được đề cử vào giải Nobel văn chương.

  • PAUXTÔPXKIChúng ta yêu mến thứ ánh sáng bảo hiểm của những ngọn hải đăng nhưng ít khi nhìn thẳng vào nó. Thường chỉ có những người bảo vệ và các tay lái tàu dán mắt vào hải đăng để kiểm tra bí mật độ loé sáng của nó. Bởi vì tất cả hải đăng trên biển đều nháy và nhấp nhánh khác nhau, theo những tín hiệu đó, người ta có thể biết được hải đăng nào và con tàu đang ở đâu.

  • SLAWOMIR MROZEK (Ba Lan)(Lê Bá Thự dịch từ nguyên bản tiếng Ba Lan)

  • ALPHONSE DAUDETSự kiện phản ánh trong truyện xảy ra năm 1871, thời kỳ chiến tranh Pháp - Phổ, khi quân đội Phổ (Đức) đã chiếm đóng và sáp nhập hai tỉnh Alsace và Lorraine của Pháp vào lãnh thổ Đức.

  • DOMINIQUE DE VILLEPINTác giả Dominique de Villepin, sinh năm 1953, đương kim Bộ trưởng Ngoại giao Pháp, là người phát ngôn cho chính sách hòa bình đối lập với đường lối chiến tranh Bush-Blair trong vụ tập kích Irak đầu năm 2003. Nơi đầu sóng ngọn gió của bang giao quốc tế, ông đã đồng thời cho xuất bản một khảo luận về Thơ, Ngợi ca những Người Cướp Lửa, tượng trưng cho Người Làm Thơ, qua hình ảnh mượn của Arthur Rimbaud, lấy từ huyền thoại Prométhée.

  • MARK TWAINTwain, Mark, (Samuel Langhorne Clemens), nhà văn Mỹ, (1835-1910). Sinh tại Florida, bang Missouri. Là con thứ tư trong một gia đình thương nhân nghèo. Chưa đầy 12 tuổi, Clemens đã phải thôi học để học nghề sắp chữ in, rồi làm đủ nghề. Năm 1853, bị thôi thúc bởi ý muốn tìm hiểu thế giới, lên đường đi nhiều nơi, làm thợ in công nhật ở St. Louis, New York và Philadelphia. Đến sông Mississipi, hành trình dự kiến đi Brazil bị đình lại vì Clemens lại mơ ước trở thành hoa tiêu trên sông.

  • HARUKI MURAKAMI (Nhật Bản)Chàng và nàng đang đi trên một con đường. Dọc bãi tha ma. Lúc nửa đêm. Sương mờ vây phủ. Họ tuyệt nhiên không định đi ở nơi chốn này vào lúc này. Nhưng vì các nguyên do khác nhau họ đã buộc phải đi. Họ bước vội vàng, nắm chặt tay nhau.

  • GRAHAM GREENE (Anh)Có tám người đàn ông Nhật đang ăn bữa tối ở nhà hàng cá nổi tiếng Bentley's. Họ chỉ trao đổi với nhau dăm ba câu bằng thứ tiếng mẹ đẻ khó hiểu của họ, nhưng luôn có nụ cười nhã nhặn và thường mỗi câu lại kèm một cử chỉ cúi đầu lịch thiệp. Tất cả tám người, trừ có một, đều đeo kính. Thỉnh thoảng cô gái xinh đẹp ngồi phía cửa sổ lại đưa một cái nhìn lướt qua họ, nhưng xem ra chuyện của cô ta quá quan trọng, khiến cô ta không thể thực sự chú ý tới bất kỳ ai trên đời ngoài chính mình và người ngồi cùng bàn.

  • VICTORIA CHIE (ÚC)Cảm giác xấu hổ như kẻ đang làm điều mờ ám, Anne Peterson đặt bút run run ghi tên mình vào phần trống trong bản tự giới thiệu của văn phòng môi giới hôn nhân. Chẳng lẽ lại đến nông nổi này sao? 49 tuổi, trông còn rất trẻ, duyên dáng, đầy sức sống, thành đạt, vật chất đầy đủ, đã ly dị, thế mà phải nhờ môi giới kiếm cho một tấm chồng. Mà anh ta là ai, cũng là một kẻ nào đấy tìm đến đây với những dòng tự giới thiệu cứng nhắc. Thôi, đành vậy chứ biết sao, chỉ vì quá yêu con gái Cindy mà Anne đã phải chịu đựng nỗi trống trải cô đơn ròng rã suốt bao năm trời.

  • NGÔ KIM LƯƠNG (Trung Quốc)"Nếu còn gặp người, nhất định phải nói", Trần Tĩnh đang nghĩ, ngước mắt lên nhìn ánh đèn vàng vọt trong ngõ nhỏ. Đêm khuya rồi, khắp nơi là hình ảnh kỳ quái của một màn đêm đen kịt. "Ai cha! Chiếc xe đạp xui xẻo này!" - Cô đẩy chiếc xe, không biết phải nói thế nào.Sau lưng vang lên một hồi chuông xe đạp, Trần Tĩnh "ai cha" một tiếng, chàng trai cưỡi xe đạp đã lướt vèo qua rồi.

  • S.MROZEKCó một lần tôi đi du lịch.Vì không có tàu trực tiếp đến nơi tôi cần tới nên tôi phải xuống một ga dọc đường để chuyển sang tàu khác.Hôm đó là một buổi tối. Mãi sáng hôm sau con tàu tiếp theo tôi sẽ phải đi mới đến.Tôi rời nhà ga, vào thị trấn để kiếm nơi ở trọ.

  • JOYCE BEGG (Úc)Bà Firbank trở thành hàng xóm của chúng tôi đã lâu, dễ đến sáu bảy năm nay, nhưng thật sự trong chúng tôi chẳng ai dám khẳng định mình biết rõ về người đàn bà này. Xung quanh bà ta lúc nào cũng bao phủ một bầu không khí bí hiểm, ma quái, ngay cả toà dinh thự cổ của bà ta cũng gợi cho người ta cái vẻ rờn rợn, lạnh lẽo giống như nơi trú ẩn của những linh hồn cõi âm.

  • KRISHNAN VARMAKrishnan Varma sinh ở Kerala, Ấn Độ. Ông viết bằng hai thứ tiếng Anh và Malayalam. Trong nhiều tác phẩm của mình, ông chia sẻ sự quan sát đối với cuộc sống của lớp người cùng khổ trên đất nước ông.

  • ARTURO VIVANTELời giới thiệu: Nhà văn Arturo Vivante sinh năm 1923 ở Rome, tốt nghiệp cử nhân đại học McGill, Canada, 1945, tốt nghiệp y khoa đại học Rome, 1949. Ông hành nghề bác sĩ toàn khoa, đồng thời sinh hoạt và nghiên cứu về văn chương ở một số trường đại học Mỹ. Vivante là nhà văn rất nổi tiếng với các truyện cực ngắn và các giai thoại.

  • KÔNXTANTIN PAUXTÔPXKI Mùa Thu. Những hạt sương mai tháng Chín lạnh giá, mọng nước rơi tung tóe từ những tán lá trên cao xuống và bắn cả vào người tôi. Sương từ các nhành cây nhỏ giọt xuống mặt nước sông đen thẫm, tạo thành những vòng tròn và chậm rãi lan ra xung quanh.

  • LTS: Mario Bendetti sinh tại Paso de los Toros (Tacuarembó ) ngày 14 tháng 9 năm 1920. Ông theo học tại trường tiểu học tiếng Đức ở Montevideo và trường trung học Miranda, đã từng làm nhiều nghề như nhân viên bán hàng, tốc kí, kế toán, viên chức nhà nước và phóng viên. Từ năm 1938 đến 1941 ông sống chủ yếu ở Buenos Aires . Năm 1945, khi trở về Montevideo, ông viết bài cho tuần báo nổi tiếng Marcha, qua đó trở thành phóng viên bên cạnh Carlos Quijano và rồi trở thành một thành viên trong ê-kíp của ông này cho tới tận năm 1974 khi tuần báo ngừng xuất bản.Năm 1973, vì lí do chính trị, ông phải rời bỏ tổ quốc,bắt đầu cuộc sống lưu vong kéo dài mười hai năm ở những quốc gia: Ác-hen-ti- na và Tây Ban Nha. Quãng thời gian này đã để lại những dấu ấn vô cùng sâu sắc trong cuộc đời ông cũng như trong văn nghiệp.

  • YUKIO MISHIMA (Nhật Bản)YUKIO MISHIMA tên thật là HIRAOKA KIMITAKE (1925-1970). Sinh tại Tokyo.Tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Tokyo . Nhà văn, kịch tác gia, đạo diễn sân khấu và điện ảnh, diễn viên.Năm 16 tuổi đã xuất bản truyện vừa lãng mạn Khu rừng nở hoa. Tiểu thuyết Lời thú tội của chiếc mặt nạ ra năm 1949 đã khẳng định tên tuổi của nhà văn trẻ tài năng và trở thành tác phẩm được đánh giá là kinh điển của nền văn học Nhật Bản.

  • KOMASHU SAKIO (Nhật Bản)Sinh 28/1/1931 tại Osaka (Nhật Bản). Nhà văn chuyên viết truyện khoa học giả tưởng nổi tiếng của Nhật Bản.Tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Kyoto , chuyên ngành Văn học Italia.Từ năm 1957 là phóng viên Đài Phát thanh Osaka và viết cho một số các báo. Năm 1961 chiến thắng trong cuộc thi truyện ngắn giả tưởng xuất sắc do tạp chí "SF Magasines" tổ chức.Tác phẩm của Komatsu đã được dịch ra rất nhiều thứ tiếng trên thế giới.

  • S. MROZEK (Ba Lan)Có lần tôi bắt gặp một con chó ác bụng đang rượt đuổi một con mèo. Bởi tôi là người yêu động vật nên tôi bèn vớ ngay một cục đá to sụ quẳng vào con chó khiến nó ngã lăn quay, nằm đứ đừ một hồi lâu. Chú mèo nhỏ không nhà, con vật bé xíu nom mệt phờ râu. Không chút do dự - tôi cho nó nương nhờ. Đây quả là một con mèo đẹp mã, lông mịn màng, mắt long lanh. Tôi đem nhốt nó vào trong nhà, đoạn bỏ đi chơi bời trác táng.

  • KITA MORIO (Nhật Bản)Kita Morio (sinh năm 1927) là nhà văn thuộc thế hệ hậu chiến của Nhật Bản. Tốt nghiệp Đại học Y. Năm 1960 được trao giải thưởng mang tên Akutagawa với truyện ngắn Trong bóng tối đêm, cốt truyện xảy ra trong một bệnh viện tâm thần ở Đức thời kì Chiến Tranh Thế Giới thứ II. Nổi tiếng với các tác phẩm giả tưởng khoa học và chống chiến tranh.