Báu vật

14:40 05/03/2010
AZIt NêxinNgày xưa, nhà vua ở một nước nọ có một kho bạc. Nghe đồn rằng trong kho bạc của nhà vua cất giữ một báu vật vô giá duy nhất của nước đó. Mọi người đều tự hào về báu vật mà tổ tiên đã để lại cho họ. “Mặc dầu chúng ta chẳng có gì cả, nhưng tổ tiên đã để cho chúng ta giữ một vật quý”, họ thường tự hào như vậy mà quên đi cảnh túng thiếu của mình.

Do chỗ báu vật đó không thuộc về một hai người mà là tài sản chung của toàn dân nên mỗi người đều cho rằng trong đó cũng có phần của mình và vì thế đều ra sức bảo vệ nó bằng niềm tin và bằng chân lý.

Tuy báu vật là tài sản chung của toàn dân, song nơi bảo quản thích hợp nhất lại là kho bạc của nhà vua. Những đội vệ binh có vũ trang ngày đêm canh gác kho bạc hết sức cẩn mật. Ngay đến chim chóc cũng không thể bay ung dung qua nơi đó.

Cữ mỗi năm một lần, vào một ngày nhất định, nhà vua, quan tể tướng và các quan đại thần lại làm lễ tuyên thệ nguyện trung thành với báu vật thiêng liêng do cha ông để lại.

Một hôm nhà vua muốn biết cái vật thiêng liêng mà dân chúng giữ gìn như giữ gìn con ngươi của mắt mình là cái gì. Vua khao khát muốn nhìn thấy của báu nằm trong cái hòm bí mật. Rút cục, vua không kìm mình được và một mình đi vào kho bạc. Lính gác để cho vua đi vào. Vua, quan tể tướng và các đại thần bao giờ cũng được quyền tự do đến đó để kiểm tra xem báu vật mà họ được các thần dân giao trông coi có còn nguyên tại chỗ hay không. Muốn nhìn thấy cái hòm thiêng liêng phải vào phòng thứ nhất, rồi từ đó vào phòng thứ hai và tiếp đó sang phòng thứ ba. Cứ phải tuần tự đi qua bốn mươi phòng như vậy và ở mãi tận phòng thứ bốn mươi mốt mới là nơi đặt những cái hòm xếp lồng vào nhau. Báu vật nằm trong cái hòm thứ bốn mươi mốt.

Vua lần lượt mở bốn mươi cánh cửa, rồi bước vào phòng thứ bốn mươi mốt.

“ Cái vật mà chúng ta từng ấy năm bảo quản là cái gì nhỉ?” vua hồi hộp tự hỏi

Khi vua mở nắp hòm thứ bốn mươi mốt thì một báu vật đẹp chưa từng thấy trên đời hiện ra trước mắt vua. Nó sáng rực như lửa. Vàng chẳng phải là vàng, bạch kim chẳng phải bạch kim, còn bạc thì càng không phải. Sức quyến rũ của báu vật khiến vua cầm lòng không đặng. “ Ta sẽ lấy báu vật mà ông cha đã để lại. Nó sẽ thuộc về riêng một mình ta. Dù sao thì cũng chẳng ai biết cơ mà”.

Vua lấy báu vật thiêng liêng sáng rực như một mảnh mặt trời ra khỏi hòm và dút vào túi. Nhưng vua bỗng hoảng sợ: nhỡ có lúc mọi người biết được vụ đánh xoáy này thì sao? Và vua bèn quyết định: “ Ta sẽ lấy cái báu vật sáng chói này và đặt vào chỗ của nó một miếng bạch kim được nạm hồng ngọc, ngọc trai, xà cừ và ngọc bích. Chưa ai nhìn thấy cái vật thiêng này cả, bởi vậy nếu như có lúc nào đó người ta mở hòm ra thì cũng chẳng ai biết được sự đánh tráo của ta”. Nhà vua nghĩ sao làm vậy. Sau đó vua xếp lần lượt những cái hòm vào nhau, khóa lần lượt tất cả các phòng rồi bước ra khỏi kho bạc.

Vua đã đi khỏi, nhưng liệu có ai dám đảm bảo rằng trò gian lận của nhà vua không bị phát hiện? Và để không ai biết rằng chính vua đã lấy trộm báu vật, bắt đầu từ ngày hôm đó, vua ra lệnh cho các thần dân mỗi năm hai lần đến tuyên thệ về lòng trung thành của mình đối với vật thiêng, chứ không phải mỗi năm một lần như trước kia. Từ đấy, cứ hai lần trong một năm, toàn thể dân chúng lại tụ tập trên quảng trường để thề thốt rằng, bằng niềm tin và chân lý, họ sẽ bảo vệ di vật thiêng liêng cha ông để lại.

Nghe nói quan tể tướng là một người sáng dạ. Ông ta bắt đầu suy nghĩ và phỏng đoán xem tại sao bỗng dưng nhà vua lại ra lệnh bắt mọi người tuyên thệ hai lần trong một năm, trong khi chỉ cần một lần như trước kia cũng đủ. “ Báu vật mà chúng ta từng ấy năm canh giữ là cái gì vậy?” Quan tể tướng thắc mắc. Và rốt cục, không nhịn được nữa, ông ta bèn vào kho. Sau khi đi qua bốn mươi phòng và mở bốn mươi mốt cái hòm, ông ta nhìn thấy vật báu. Thỏi bạch kim nạm những viên đá qúy mà nhà vua đem đặt trong hòm thay cho vật thiêng đã làm cho quan tể tướng sửng sốt. “Ta sẽ lấy báu vật này và thay vào đó một thỏi vàng nạm đá quý. Bởi lẽ không một ai biết mặt mũi cái vật thiêng đó ra sao - quan tể tướng nghĩ bụng - nếu như có một lúc nào đấy người ta mở hòm ra thì cũng không ai ngờ được rằng bảo vật đã bị đánh tráo”. Nói sao làm vậy. Nhưng để đề phòng trò gian lận bị lộ, quan tể tướng xin vua xuống chiếu bắt các thần dân đến tuyên thệ thường xuyên hơn. Từ đó hàng năm, xuân hạ thu đông, dân chúng kéo đến thề nguyền trước sân rồng.

Nghe nói trong số các quan đại thần có một người rất tinh ý. Ông ta bắt đầu suy nghĩ xem tại sao dân chúng lại đến tuyên thệ bốn lần trong một năm trong khi mới đây việc đó chỉ được tiến hành có hai lần. Lợi dụng quyền hành của mình và cũng không nói cho ai biết, một hôm ông ta lẳng lặng đi vào nhà kho. Ông ta đi qua bốn mươi phòng, mở bốn mươi mốt cái hòm. Và hai mắt ông ta bỗng sáng ngời khi nhìn thấy trong chiếc hòm thứ bốn mươi mốt một thỏi vàng nạm đá quý lóng lánh. “Ta sẽ thay thỏi vàng bằng một thỏi bạc”. Chẳng ai biết đâu mà sợ. Và ông đã làm đúng như vậy.

Để đề phòng việc lấy cắp có thể bị phát giác, quan đại thần đã quyết định bắt dân chúng hàng tháng phải đến làm lễ tuyên thệ.

Bằng cách đó, ông ta muốn chứng minh lòng trung thành của mình đối với kỷ vật thiêng liêng.

Từ đó dân chúng tháng nào cũng kéo nhau đến quảng trường thề sẽ bảo vệ vật thiêng liêng đến giọt máu cuối cùng.

Nghe nói một vị quan thượng thư cũng là người khá thông minh. Khi thấy dân chúng tháng nào cũng đến tuyên thệ, ông ta liền suy nghĩ: “ Ở đây có chuyện gì không ổn, ta sẽ đến xem cái vật lạ đó nó như thế nào”. Ông ta đi qua bốn mươi phòng, mở bốn mươi mốt cái hòm và nhìn thấy bảo vật. Quan thượng thư rất thích kỉ vật của tổ tiên nên nảy ra một ý: “ Chuyện gì sẽ xảy ra nếu ta lấy cái vật này đi và đặt một miếng đồng vào chỗ của nó. Có mà trời biết”. Và nghĩ sao làm vậy. Tuy nhiên quan thượng thư vẫn nơm nớp sợ câu chuyện bị bại lộ. Do đó ngài quyết định dân chúng hàng tuần phải đến tuyên thệ.

Quan thị vệ phụ trách đội quân canh gác kho bạc cũng suy nghĩ: “ Có chuyện gì vậy? Tuần nào chúng ta cũng phải bày tỏ lòng trung thành. Giờ ta thử xem có cái gì được cất giấu ở đó?”

Cũng như tất cả những người khác, y đi vào phòng thứ bốn mươi mốt, mở bốn mươi mốt cái hòm. Khi y nhìn thấy miếng đồng sáng loáng thì mặt mày rạng rỡ hẳn lên. “ Ta sẽ thay thế miếng đồng bằng miếng sắt. Và chuyện này cũng chẳng có ai biết”.

Nghĩ sao làm vậy. Nhưng việc này làm y mất an tâm. Để cố chứng minh rằng y không tiếc công sức và tính mạng để bảo vệ báu vật thiêng liêng, y bắt ngày nào dân chúng cũng phải đến tuyên thệ.

Qua một thời gian, trong dân chúng có một người nói:

- Đã nhiều năm nay chúng ta vẫn luôn luôn thề thốt rằng chúng ta không tiếc sức lực và tính mạng của mình để bảo vệ kỷ vật do tổ tiên chúng ta để lại. Và quả thật chúng ta đang ra sức nâng niu giữ gìn cái báu vật đó trong kho bạc. Nhưng nào ai trong số chúng ta có biết cái vật đó ra làm sao? Chúng ta có phải là cái nhà kho chứa đồ đạc đâu. Tại sao chúng ta lại không muốn biết nhỉ? Bây giờ chúng ta hãy cùng nhau vào đó, chúng ta sẽ mở các hòm ra và sẽ biết mặt mũi cái vật thiêng mà chúng ta giữ gìn cẩn thận.

Những lời đó như một quả bom nổ giữa ban ngày. Tất cả những kẻ đã đánh tráo kỷ vật đứng đầu là nhà vua, liền xúm lại quở mắng cái anh chàng dám ăn nói sàm sỡ như vậy, Kẻ nào cũng nghĩ rằng chỉ một mình hắn làm trò gian lận mà thôi, không biết gì đến hành động của những kẻ khác nên tất cả bọn chúng đều run như cầy sấy vì sợ bị vạch trần.

Do đó chúng càng nổi khùng lên với kẻ dám vi phạm sự an ninh và buộc anh ta vào tội xúc phạm đến vật thiêng:

- Chà, mi là tên khốn khiếp. Mi là cái thá gì mà dám đòi được nhìn báu vật của chúng ta!

Sau khi làm cho dân chúng tin rằng anh chàng nọ là kẻ có tội, chúng hùa nhau xông đến đánh đập anh ta rất tàn nhẫn. Anh ta sắp nguy đến nơi, nhưng vừa lúc đó nhà vua liền can thiệp:

- Nếu muốn giết hắn thì chúng ta sẽ làm điều đó một cách nghiêm minh theo pháp luật - vua nói.

Và thế là một đạo luật riêng được ban hành. Và sau đó tên tội phạm bị đem đi hành hình.

Nhưng không dễ gì bắt mọi người phải quên đi những lời của anh ta. Những lời này được truyền từ miệng người này sang miệng người khác và lan đi rất nhanh trong thiên hạ.

Một hôm lại có một người nữa muốn được trông thấy kỷ vật mà người ta cố sống cố chết giữ gìn. Nhưng vì biết rằng chuyện gì sẽ xảy ra với mình nên anh ta không nói cho ai biết ý đồ của mình. Tin vào mưu trí của mình, anh ta bí mật lẻn vào nhà kho. Nhưng vua, quan tể tướng, quan đại thần và tất cả những kẻ cắp khác do bị một nỗi sợ hãi thường xuyên ám ảnh rằng có một người nào đó sẽ đoán được mưu gian của chúng, nên chúng ra sức canh giữ vật thiêng, hay nói đúng hơn, cái vật mà chúng đã đánh tráo. Bởi vậy anh chàng lẻn vào kho đã rơi vào tay chúng. Anh ta họ tóm đúng vào lúc anh ta cầm báu vật định đưa cho toàn thể dân chúng xem. Hỡi ơi, trong tay anh ta chỉ là một mảnh sắt gỉ mà tên kẻ trộm sau cùng đã đặt thay thế vào chỗ kỷ vật.

- Nhưng kỷ vật thiêng liêng không phải là như thế! - quan thị vệ thốt lên.

- Không phải! - quan thượng thư hét lên.

- Không phải nó! - cả bọn, đứng đầu là nhà vua kêu ầm lên.

Lúc ấy anh chàng cầm mảnh sắt gỉ cũng nói thật to:

- Tại sao các ông biết được rằng đây không phải là kỷ vật thiêng liêng? Như vậy có nghĩa là các ông đã nhìn thấy báu vật thật sự rồi chứ gì?

Không ai trong bọn chúng há miệng trả lời được một câu. Mỗi tên đều hiểu rằng cái vật mà hắn đặt vào chỗ kỷ vật đã bị tên kẻ trộm sau đánh tráo mất rồi. Chúng bèn nhanh chóng thanh toán kẻ bị bắt rồi đem mảnh sắt gỉ đặt vào chỗ cũ trong cái hòm thứ bốn mươi mốt. Sau đó chúng lồng tất cả các hòm vào với nhau, khóa thật kỹ cửa của bốn mươi mốt phòng rồi đánh bài chuồn. Nhưng vì trong bụng vẫn còn lo ngay ngáy, chúng bèn ra một đạo luật mới về việc bảo quản kỷ vật thiêng liêng. Theo đạo luật này, toàn thể dân chúng mỗi ngày phải đến tuyên thệ ba lần vào buổi sáng, buổi trưa và buổi tối.

Dân chúng chấp hành pháp luật rất nghiêm chỉnh. Và không một ai trong số những người đến tuyên thệ lại biết được rằng vật thiêng liêng mà họ ra sức bảo vệ, chỉ vẻn vẹn là một mảnh sắt gỉ.

LÊ SƠN
dịch
(131/01-2000)





 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • BỒ TÙNG LINHLang Mỗ quê ở Bành Thành, con nhà học thức. Ngày nhỏ đã được nghe cha nói đến các sách quý và các sách khác trong nước, lại thường được nghe cha luận bàn với các bạn bè của ông về các loại sách và các nhà thơ cổ đại.

  • AZIT NÊXIN (1915 - 1995)Một con chó chạy xồng xộc vào tòa báo "Tin tức đô thành”.

  • Nhà văn Mỹ Carson Mc Cullers sinh 1917. Các tác phẩm chính của bà là: Trái tim là kẻ đi săn cô độc (1940), Thành viên của đám cưới (1946), Khúc ballad của quán cà phê buồn (1951), Ngọt như dưa chua và sạch như heo (1954)…

  • Kamala Das tên thật là Kamala Suraiyya, sinh ngày 31.3.1934 tại Punnayurkulam, quận Thrissur, thành phố Kerala, vùng tây nam Ấn Độ. Bà là nhà văn nữ nổi tiếng của Ấn Độ. Bà sáng tác truyện ngắn bằng tiếng Malayalam. Bà sáng tác thơ và tiểu thuyết ngắn bằng tiếng Anh. Bà chủ yếu nổi tiếng trong thể loại truyện ngắn. Trong sự nghiệp sáng tác, bà đã có nhiều giải thưởng văn học, trong số đó là: Asian Poetry Prize, Kent Award for English Writing from Asian Countries, Asan World Prize, Ezhuthachan Award và một số giải thưởng khác nữa. Ngày 31 tháng Năm, 2009, bà mất tại bệnh viện thành phố Pune, Ấn Độ, thọ 75 tuổi.

  • HERTA MULLERHerta Mueller vừa được trao giải Nobel văn học 2009 vì đã mô tả cảnh tượng mất quyền sở hữu bằng một lối thơ cô đọng và một lối văn thẳng thắn. Truyện ngắn này rút từ tập truyện Nadirs (1982) là tác phẩm đầu tay của bà.

  • SHERMAN ALEXIENgay sau khi mất việc ở văn phòng giao dịch của người Anh điêng, Victor mới biết cha anh đã qua đời vì một cơn đau tim ở Phoenix, Arizoan. Đã mấy năm nay Victor không gặp cha, anh chỉ nói chuyện với ông qua điện thoại một hay hai lần gì đó, nhưng đó là một căn bệnh di truyền, có thực và xảy ra đột ngột như xương bị gãy vậy.

  • KOMATSU SAKYOKomatsu Sakyo sinh tại Osaka (Nhật Bản) (28/1/1931). Nhà văn chuyên viết  truyện khoa học giả tưởng nổi tiếng của Nhật Bản. Tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Kyoto, chuyên ngành Văn học Italia. Từ năm 1957 là phóng viên đài phát thanh Osaka và viết cho một số báo. Năm 1961 chiến thắng trong cuộc thi truyện ngắn giả tưởng xuất sắc do tạp chí “SF Magasines” tổ chức. Tác phẩm của Komatsu đã được dịch ra rất nhiều thứ tiếng trên thế giới. Có bốn tiểu thuyết đã được dựng thành phim.

  • FRANK R- STOCKTONCách đây năm năm, một sự kiện kì lạ đã xảy đến với tôi. Cái biến cố này làm thay đổi cả cuộc đời tôi, cho nên tôi quyết định viết lại nó. mong rằng nó sẽ là bài học bổ ích cho những người lâm vào tình cảnh giống tôi.

  • MIKHAIN SÔLÔKHỐP                Truyện ngắn Mùa xuân thanh bình đầu tiên đã về lại trên sông Đông sau những năm tháng chiến tranh. Vào cuối tháng Ba, những cơn gió ấm áp cũng đã thổi đến, và chỉ sau hai ngày tuyết cũng đã bắt đầu tan trên đôi bờ sông Đông. Khắp mọi ngả đường việc đi lại cũng vô cùng khó khăn.

  • KAHLIL GIBRANNguồn: A Treasury of Kahlil Gibran (Một kho tàng của Kahlil Gibran), Anthony Rizcallah Ferrris dịch từ tiếng Arập, Martin L. Wolf biên tập, Nxb Citadel Press, New York, HK, 1951.

  • ROBERT ZACKS (ANH)Nhân ngày quốc tế phụ nữ, tôi và anh tôi bàn nhau mua quà tặng mẹ. Đây là lần đầu tiên trong đời chúng tôi thực hiện điều này.

  • GUY DE MAUPASSANTÔng Marrande, người nổi tiếng và lỗi lạc nhất trong các bác sĩ tâm thần, đã mời ba đồng nghiệp cùng bốn nhà bác học nghiên cứu khoa học tự nhiên đến thăm và chứng kiến, trong vòng một giờ đồng hồ, một trong những bệnh nhân tại nhà điều trị do ông lãnh đạo.

  • GUY DE MAUPASSANTGia đình Creightons rất tự hào về cậu con trai của họ, Frank. Khi Frank học đại học xa nhà, họ rất nhớ anh ấy. Nhưng rồi anh ấy gửi thư về, và rồi cuối tuần họ lại được gặp nhau.

  • JAMAICA KINCAIDNhà văn hậu hiện đại Anh J. Kincaid sinh năm 1949. Mười sáu tuổi, bà đến New York làm quản gia và giữ trẻ. Bà tự học là chính. Tuyển tập truyện ngắn đầu tiên của bà: “Giữa dòng sông” (1984) nhận được giải thưởng của viện hàn lâm Văn chương và Nghệ thuật Mỹ; còn các tiểu thuyết “Annie” (1985), “Lucky” (1990) được đánh giá cao.

  • SAM GREENLEE (MỸ)Sam Greenlee sinh tại Chicago, nổi tiếng với thể loại tiểu thuyết.Ông cũng đóng góp nhiều truyện ngắn, bài báo trong “Thế giới da màu” (Black World); và xem như là bộ phận không thể tách rời trong văn nghiệp, bởi ông là nhà văn da màu. Tuy nhiều truyện ngắn của ông vẫn được thể hiện theo lối truyền thống, nghĩa là vào cửa nào ra cửa ấy; nhưng cái cách mở rộng câu chuyện ở giữa truyện, bằng lối kể gần gũi nhiều kinh nghiệm; đã gây được sự thú vị. Đọc “Sonny không buồn” qua bản dịch, dĩ nhiên, khó thấy được cái hay trong lối kể, bởi nếp nghĩ và văn hoá rất khác nhau; nhiều từ-câu-đoạn không tìm được sự tương đương trong tiếng Việt. Cho nên đọc truyện này, chỉ có thể dừng lại ở mức, cùng theo dõi những diễn tiến bên ngoài cũng như sự tưởng tượng bên trong của Sonny về môn bóng rổ, cả hai như một và được kể cùng một lúc.

  • DƯƠNG UÝ NHIÊN (Trung Quốc)Tôi không thể thay đổi được thói quen gần gũi với cô ấy nên đành trốn chạy ra nước ngoài. Tôi đã gặp được em. Khi đăng tác phẩm “Không thể chia lìa” trên một tạp chí xa tít tắp và dùng bút danh, tôi cho rằng mình không một chút sơ hở. Tôi nhận tiền nhuận bút và mua hai chai rượu quý nồng độ cao trên đường trở về. Tôi muốn nói với em điều gì đó nhân kỷ niệm ngày cưới.

  • S. MROZEK (Ba Lan)Tại thủ đô của một vương quốc nọ có một viện bảo tàng, trong đó có khu trưng bày về nền nghệ thuật phương Đông. Trong vô số các hiện vật trưng bày tại khu này có nhiều báu vật cực hiếm, giá trị văn hoá và giá trị bằng tiền của chúng vô cùng lớn. Trong số các vật hiếm này có một báu vật đầu bảng, bởi đó là bản duy nhất thuộc loại đó và cũng là bản duy nhất trên toàn cầu. Vì là hiện vật cực hiếm nên giá trị văn hoá của nó là độc nhất vô nhị, còn giá trị bằng tiền thời không tính xuể.

  • WILLIAM SAROYAN (Mỹ)Cả thế giới muốn tôi làm một chầu hớt tóc. Cái đầu tôi thì quá bự cho thế giới. Quá nhiều tóc đen, thế giới nói thế. Mọi người đều nói, khi nào thì mày định đi làm một chầu hớt tóc vậy hả nhóc kia?

  • SOMERSET MAUGHAM (ANH)Trang trại nằm giữa thung lũng, giữa những mỏm đồi ở Sômôsetsi. Ngôi nhà xây bằng đá theo mốt cũ được bao bọc bởi những kho củi, sân nhốt súc vật và những công trình bằng gỗ khác. Thời điểm xây dựng được chạm trổ trên cổng bằng những chữ số cổ đẹp đẽ: 1673.

  • SORBON (Tajikistan)Sorbon sinh năm 1940 tại làng Amondar  trong một gia đình nông dân  thuộc  tập đoàn sản  xuất nông nghiệp. Năm 1963 ông tốt nghiệp Đại học Lenin của Tajikistan với bằng tiến sĩ ngôn ngữ học. Các tác phẩm của Sorbon xuất hiện lần đầu vào năm 1965. Tuyển tập truyện ngắn đầu tiên của ông “Không phải tất cả đã được nói ra” xuất bản năm 1969. Nhiều truyện ngắn của ông mau chóng được thu thập lại, trong đó có truyện “Ngày đầu tiên đến trường” nói về một phụ nữ Tajikistan  trong Thế chiến thứ Hai, “Sự phòng thủ của đá” và “Người du mục” nói về sự thiết lập chính quyền Xô Viết tại ngôi làng ven sông Zeravshan, và “Áo khoác đồ sộ” nói về một cậu bé bị mất cha trong chiến tranh. Sorbon là nhà văn có tiếng tăm lớn của nền văn xuôi Tajikistan ở thập niên bảy mươi. Truyện ngắn “Người đánh bẫy chim” được viết năm 1974.