Báo 'Dân' trong dòng chảy báo chí Cách mạng Thừa Thiên Huế và miền Trung

08:46 17/08/2018

NGUYỄN THÁI SƠN

Trong suốt quá trình lãnh đạo nhân dân làm cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta luôn quan tâm, xem báo chí như một thứ vũ khí tư tưởng sắc bén, là tiếng nói của Đảng và Nhà nước và cũng là diễn đàn xã hội rộng lớn của nhân dân.

Trên cả một chặng đường dài, lịch sử báo chí cách mạng luôn gắn liền với những bước chuyển mới, những mốc son chói lọi của lịch sử cách mạng dân tộc: Vận động thành lập Đảng; huấn luyện cán bộ; chuẩn bị cơ sở lý luận, chính trị, tư tưởng, tổ chức cho việc thành lập Đảng; cổ vũ nhân dân làm cao trào cách mạng 1930 - 1931, phong trào vận động dân chủ 1936 - 1939, tiến tới tổng khởi nghĩa giành chính quyền năm 1945; đấu tranh sắc bén trên mặt trận chính trị - tư tưởng trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước; tiếp tục thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới của quê hương, đất nước. Có thể khẳng định rằng, trong từng giai đoạn cách mạng, báo chí cách mạng do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta lãnh đạo thực sự giữ vai trò định hướng dư luận xã hội.

Trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, báo chí nói chung và báo chí có xu hướng yêu nước, cách mạng đều rất khó xuất bản và phát hành ở Huế, vì những quy định hà khắc của chế độ thực dân bởi những viên quan Khâm sứ Trung kỳ, Toàn quyền Đông Dương và áp lực kiểm duyệt của Chính phủ Nam Triều. Nhưng những nhà văn hóa, những trí thức yêu nước, những người hoạt động cách mạng, bằng cách này hay cách khác vẫn tổ chức và ra được các ấn phẩm báo chí để đấu tranh, tuyên truyền.

Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập (3/2/1930), nhiều địa phương trong cả nước khẩn trương xúc tiến việc thành lập chi bộ, đảng bộ để thống nhất lãnh đạo phong trào đấu tranh chống thực dân phong kiến. Theo tinh thần chỉ đạo của Đảng, trong thời gian ngắn đã có ít nhất 25 tờ báo thuộc hệ thống tổ chức từ Xứ ủy Trung Kỳ, Nam Kỳ, nhiều tỉnh ủy, huyện ủy, đảng ủy cho đến một số tổ chức quần chúng đã xuất hiện ở Việt Nam, làm nòng cốt cho phong trào đấu tranh của nhân dân ta chống ách đô hộ thực dân Pháp. Một số sách, báo của các tổ chức cộng sản đã được truyền bá, kể cả xuất bản tại Huế, như: Người Lao Khổ, Tin Tranh Đấu, Chỉ Đạo, Người Cộng Sản Chân Chính

Tháng 4/1930, Đảng bộ tỉnh Thừa Thiên Huế ra đời. Thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng về công tác “tuyên truyền chủ nghĩa cộng sản và cổ động quần chúng theo Đảng”, Tỉnh ủy đề ra phương hướng công tác trước mắt là tuyên truyền miệng, tích cực giải thích trong nhân dân về sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng bộ tỉnh Thừa Thiên Huế, kêu gọi nhân dân gia nhập các hội quần chúng, đấu tranh đòi những quyền lợi thiết thân hàng ngày… Đồng thời thông qua sách báo, truyền đơn, Đảng bộ tỉnh chủ trương vạch trần những thủ đoạn lừa bịp, đấu tranh tố cáo tội ác của thực dân Pháp, kêu gọi quần chúng ủng hộ Xô Viết Nghệ Tĩnh, “Bênh vực Nghệ An Đỏ”

Hai tháng sau (tháng 6/1930), Đảng bộ tỉnh cho xuất bản một số tờ báo, như: Con Đường Đấu Tranh (được xem là tờ báo đầu tiên của của Đảng bộ tỉnh Thừa Thiên Huế), Việt Thường… Thị ủy Thuận Hóa cho xuất bản tờ Học Trò… cũng chỉ mới dạng thô sơ và bí mật. Bên cạnh đó, dòng báo chí yêu nước, cảm tình với những người hoạt động cách mạng cũng đã xuất hiện những bài báo, tờ báo có nội dung tiến bộ, đứng về phía người lao động, phụ nữ, dân nghèo như tờ Phụ Nữ Tân Tiến

Trong phong trào vận động dân chủ 1936 - 1939 ở Huế, báo chí là công cụ đắc lực. Báo chí cách mạng xuất bản công khai đã ra sức truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin, chủ trương, đường lối, phương hướng hoạt động của Đảng. Trong thời kỳ này, các tờ báo lần lượt ra đời, như: Nhành Lúa, Kinh Tế Tân Văn, Sông Hương Tục Bản, Dân, Dân Tiến và Dân Muốn… đóng vai trò quan trọng trong cuộc vận động dân chủ của Đảng.

Trước khi Báo Dân ra đời và hoạt động vào năm 1938, báo chí cách mạng giai đoạn vận động dân chủ 1936 - 1939 ở Thừa Thiên Huế và miền Trung có tờ Nhành Lúa, được cấp phép và đi vào hoạt động vào năm 1936, báo do Nguyễn Xuân Lữ làm Giám đốc, Hải Triều làm Tổng Thư ký Tòa soạn, đồng chí Nguyễn Chí Diểu, Ủy viên Trung ương Đảng trực tiếp chỉ đạo. Báo Nhành Lúa đã tích cực tuyên truyền những chủ trương của Đảng về Đông Dương Đại hội, đón Godart, hướng dẫn quần chúng đấu tranh công khai, hợp pháp. Báo không chỉ phát hành ở Huế mà còn phát hành ở nhiều nơi khác. Giai đoạn này, đồng chí Phan Đăng Lưu được Xứ ủy phân công tổ chức bằng được Hội nghị báo giới Trung Kỳ tại Huế để tập hợp những người viết báo tiến bộ, đồng thời hướng vào các cuộc đấu tranh chung của dân tộc. Vào ngày 27/3/1937, Hội nghị báo giới Trung Kỳ khai mạc tại Đông Pháp Lữ quán. Các đại biểu tham dự Hội nghị kêu gọi lập mặt trận thống nhất của những người làm báo ở Đông Dương, yêu cầu được tự do xuất bản và thành lập Hội ái hữu báo giới Trung Kỳ. Sự kiện này có ý nghĩa rất quan trọng, đã mở đầu cho cuộc vận động mở hội nghị báo giới ở các địa phương khác. Lo sợ trước những hoạt động tích cực của Báo Nhành Lúa, nhà cầm quyền đã tịch thu giấy phép và đóng cửa báo vào ngày 19/3/1937. Mặc dù chỉ tồn tại hơn 2 tháng với 13 số báo, nhưng Nhành Lúa đã tạo được một chuyển động đặc biệt trong đời sống báo chí Huế và miền Trung, thực hiện có hiệu quả cuộc vận động đấu tranh đòi tự do dân chủ.

Sau khi Báo Nhành Lúa bị rút giấy phép, Báo Kinh Tế Tân Văn ra đời do Hoàng Trọng Khanh làm Tổng lý, Phạm Bá Nguyên làm Giám đốc, Lê Quế làm Chủ nhiệm. Báo Kinh Tế Tân Văn đóng vai trò như người phát ngôn của Đại hội báo Giới Trung Kỳ. Báo ra được 4 số rồi cũng bị cấm hoạt động.

Trong thời điểm đang chuẩn bị tham gia tranh cử vào Viện Dân biểu Trung kỳ mà các Báo Nhành Lúa Kinh Tế Tân Văn bị cấm hoạt động, Xứ ủy Đảng Cộng sản Đông Dương không còn báo chí trong tay, giữa lúc đó Báo Sông Hương của Phan Khôi ra đến số 32 tự ngưng phát hành. Xứ ủy Trung Kỳ đã chủ trương mua lại để lấy thế hợp pháp, khỏi phải xin phép ra báo mới và lấy tên là Sông Hương nhưng thêm vào hai chữ Tục Bản, báo do Nguyễn Cửu Thạnh, một nhân sĩ dân chủ làm Chủ nhiệm, Ngô Đức Mậu ở Vinh đứng tên Thư ký Tòa soạn. Bài viết chính được các đồng chí Phan Đăng Lưu và Tôn Quang Phiệt phụ trách, viết ở Huế và gửi ra Vinh cho đồng chí Ngô Đức Mậu sắp xếp, trình bày, in tại nhà in thành phố Vinh, in xong phát hành tại Vinh rồi đưa về Huế. Báo Sông Hương Tục Bản tiếp tục nhiệm vụ của tờ Nhành Lúa cổ vũ cho cuộc đấu tranh đòi tự do dân chủ, tự do báo chí, bỏ thuế thân, giảm thuế điền, đặc biệt báo cổ động cho các đại biểu tiến bộ ứng cử vào Viện Dân biểu Trung Kỳ.

Phản ứng trước tác động chính trị mạnh mẽ của tờ Sông Hương Tục Bản, nhà cầm quyền ra lệnh cấm báo hoạt động vào ngày 14/10/1937. Trước tình hình đó, Xứ ủy và Tỉnh ủy tìm cách ra các tờ báo khác để tiếp tục đấu tranh và đã vận động các nhà báo, nghị viên dân biểu tiến bộ là ông Nguyễn Trác, Nguyễn Đan Quế, Nguyễn Xuân Các đứng tên xin phép để ra tờ báo công khai lấy tên là Dân. Ngày 26/3/1938, Toàn quyền Đông Dương đã ký nghị định cho thành lập. Trên măng-sét Tuần báo Dân ghi là Tiếng nói của cơ quan liên hiệp tất cả các lực lượng cấp tiến trong xứ, nhưng thực chất Báo Dân là cơ quan ngôn luận hợp pháp của Xứ ủy Đảng Cộng sản Đông Dương Trung Kỳ với danh nghĩa của nhóm “Dân biểu xã hội” trong Viện Dân biểu Trung Kỳ. Nội dung chính do đồng chí Phan Đăng Lưu, Xứ ủy viên Trung Kỳ trực tiếp chỉ đạo, số 01 ra ngày 6/7/1938. Tham gia Ban Biên tập có các đồng chí Nguyễn Chí Diểu, Bùi San, Hải Triều, Hải Thanh, Lâm Mộng Quang, Tôn Quang Phiệt, Trịnh Xuân An, Lê Bồi sau vài số bổ sung thêm Tố Hữu…

Kế tục đường hướng hoạt động của các Báo Nhành Lúa, Kinh Tế Tân Văn, Sông Hương Tục Bản, Báo Dân cho đăng nhiều bài theo chủ trương đấu tranh để thực hiện đường lối Mặt trận Dân chủ Huế và Trung Kỳ, đoàn kết các lực lượng quần chúng trong mặt trận thống nhất, thường xuyên phản ánh nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân, đòi cải cách thuế khóa, đòi tự do dân chủ, đòi thả tù chính trị, đòi tự do thành lập Hội ái hữu và nghiệp đoàn; đồng thời vạch trần bộ mặt thối nát của chế độ thực dân phong kiến.

Mùa thu năm 1938, chính quyền thực dân dự kiến tăng thuế thân và thuế điền thổ. Đảng bộ tỉnh chủ trương lãnh đạo quần chúng đấu tranh dưới các hình thức mitting, biểu tình, gửi bản dân nguyện đòi bác bỏ Dự án tăng thuế. Báo Dân đã đóng góp tích cực vào phong trào đấu tranh chống tăng thế ở Trung Kỳ. Tòa soạn thường xuyên nhận được thư, điện tín từ các nơi gửi đến, đón nhận nguyện vọng của các đoàn thể, tiếp đại biểu của các ngành, các giới quần chúng. Đến thời điểm phong trào chống thuế lên cao, sáng ngày 13/9/1938, tiểu thương chợ Đông Ba gửi một bản yêu sách lên Viện Dân biểu Trung Kỳ đòi giảm thuế chợ, bỏ thuế môn bài, không đánh thuế hai lần. Nông dân và tiểu thương chợ Phú Vang, Phú Lộc, Quảng Điền cũng tham gia phong trào chống dự án tăng thuế. Nhờ sự kết hợp đấu tranh từ bên trong và cả bên ngoài nghị trường, trong phiên họp ngày 16/9/1938, toàn thể các nghị viên đã đồng thanh bác bỏ dự án tăng thuế thân và dự án tăng thuế điền khổ do Khâm sứ Pháp đưa ra.

Tuy nhiên, chỉ sau cuộc họp của Viện Dân biểu Trung Kỳ một tuần, trên Báo Dân số 15, ngày 23/9/1938, có đoạn viết “Đông Sa đảo, một quần đảo của quần đảo Hoàng Sa đã bị Nhật chiếm”. Do viết nhầm một chữ, nên ngay số 16, ngày 30/9/1938, Báo Dân đã chủ động kịp thời cải chính “Một quần đảo gần đảo Hoàng Sa” nhưng Tòa án Nam Triều đã truy tố, kết tội Nguyễn Đan Quế, Nguyễn Xuân Các đăng không thật, làm náo loạn nhân tâm. Sau số 17, ngày 7/10/1938, Báo Dân bị đóng cửa.

Hành động đàn áp này đã tạo ra làn sóng phản đối mạnh mẽ. Hầu hết các tờ báo tiến bộ của ba kỳ đều viết bài lên tiếng bảo vệ Báo Dân. Trong báo cáo gửi Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản về tình hình chính trị ở Đông Dương, đồng chí Nguyễn Ái Quốc viết: “Hai đảng viên xã hội người bản xứ, nghị viên dân biểu và biên tập viên báo Dân bị tước quyền đại biểu, quyền công dân và bị tống giam. Tờ báo Dân bị đóng cửa”.

Bấy giờ ở châu Âu, chủ nghĩa phát xít đã châm ngòi lửa chiến tranh thế giới, phong trào Bình dân ở Pháp thất bại rời vũ đài quyền lực. Tại Đông Dương, thực dân Pháp ra tay khủng bố những người cộng sản gắt gao hơn trước, chúng tìm cách bóp nghẹt báo chí. Thành phố Huế lúc này là trung tâm chính trị của nhà nước bảo hộ và chế độ vua quan phong kiến Nam Triều. Tiếng nói của Đảng, của quần chúng cách mạng rất khó tồn tại được bằng hình thức báo chí. Sau khi Báo Dân bị cấm, tận dụng điều kiện ra báo dễ dãi hơn ở Nam Kỳ, Xứ ủy Đảng cộng sản Đông Dương Trung Kỳ chuyển hướng ra Báo Dân Tiến đặt trụ sở tại Sài Gòn, với danh nghĩa “Cơ quan liên hiệp tất cả các lực lượng cấp tiến”. Báo do Huỳnh Văn Thanh làm Quản lý, Lưu Quý Kỳ làm Thư ký Tòa soạn mà thực chất là do đồng chí Phan Đăng Lưu chỉ đạo để tiếp tục xu hướng đấu tranh của Báo Dân. Bài vở đều chuẩn bị ở Huế, đưa vào Sài Gòn in tại nhà in Bảo Tồn, phát hành ở Sài Gòn, Huế và các tỉnh miền Trung, số 01 ra ngày 27/10/1938 đã tố cáo trường hợp Báo Dân ở Huế bị rút giấy phép một cách vô lý, chuyên quyền. Báo chỉ ra được 5 số, sau số 5, ngày 12/12/1938, Báo Dân Tiến bị đóng cửa. Xứ ủy Trung kỳ lại tiếp tục ra Báo Dân Muốn, trụ sở tòa soạn đặt tại Sài Gòn, nhưng nội dung bài vở được chuẩn bị tại Huế, báo do Phan Văn Tạo đứng tên Chủ nhiệm, Lưu Quý Kỳ là Thư ký Tòa soạn và đồng chí Phan Đăng Lưu vẫn thay mặt Xứ ủy Trung Kỳ chỉ đạo. Số 01 ra ngày 20/12/1938, nhưng sau số 02, ngày 25/1/1939, Báo Dân Muốn bị cấm.

Trong 3 năm, từ năm 1937 đến năm 1939, ở Huế xuất hiện liên tục các tờ Báo Nhành Lúa, Kinh Tế Tân Văn, Sông Hương Tục Bản, Dân, Dân Tiến, Dân Muốn, tờ này bị đình bản, tờ khác lại ra đời; báo chí đóng cửa thì mua lại báo khác; không ra được báo ở Huế thì vào Sài Gòn ra báo để đưa về phát hành tại Huế, thể hiện tính linh hoạt, quyết bám trận địa công khai để đấu tranh chi phối hoạt động nghị trường và dư luận xã hội của Xứ ủy Đảng Cộng sản Đông Dương Trung Kỳ, một hiện tượng độc đáo của báo chí dân chủ ở Huế giai đoạn vận động thành lập Mặt trận Dân chủ 1936 - 1939.

Diễn đàn báo chí Huế thời này đã là đất dụng võ, hun đúc nên những khuôn mặt nhà báo, nhà văn lừng lẫy, những chiến sĩ cách mạng kiên trung của Đảng, như: Huỳnh Thúc Kháng, Phan Bội Châu, Phan Khôi, Đào Duy Anh, Hải Triều, Nguyễn Khoa Văn, Hoài Thanh, Lê Đình Thám. Riêng Báo Dân có hẳn một Ban Biên tập hùng hậu, là những người hoạt động cách mạng, các đồng chí ấy đều là những cán bộ cấp cao của Đảng. Khi báo thành lập, người trực tiếp chỉ đạo nội dung, biên tập là đồng chí Phan Đăng Lưu, Ủy viên Thường vụ Trung ương Đảng. Trong giai đoạn vận động dân chủ, với trọng trách của mình, đồng chí Phan Đăng Lưu đã thể hiện rõ vai trò là linh hồn của các cuộc đấu tranh đòi dân sinh dân chủ ở Huế và Trung Kỳ. Cùng với đồng chí, đồng nghiệp, đồng chí đã góp phần vào việc vận động thành lập mặt trận báo chí dân chủ, cùng nhau đấu tranh đòi tự do báo chí, thành lập nghiệp đoàn báo giới, vận động, tổ chức Hội nghị báo giới Trung Kỳ và thúc đẩy việc tổ chức Hội nghị báo giới toàn quốc. Đồng chí trực tiếp chỉ đạo các tờ Báo Sông Hương Tục Bản, Dân, Dân Tiến, Dân Muốn… vừa đấu tranh ngôn luận công khai, vừa trực tiếp đào tạo, đoàn kết tập hợp lực lượng báo giới, đặc biệt là các trí thức trẻ. Bên cạnh đó, tài năng viết chính luận, tiểu phẩm… cả tiếng Việt và tiếng Pháp, đồng chí tích cực đấu tranh cách mạng dưới nhiều bút danh khác nhau trên các Báo Nhành Lúa, Sông Hương Tục Bản, Dân… Tham gia Ban Biên tập Báo Dân còn có các đồng chí Nguyễn Chí Diểu - Ủy viên Trung ương Đảng, đồng chí Bùi San - Xứ ủy viên Trung Kỳ, nhà văn Hải Triều - phụ trách Tuyên huấn Tỉnh ủy Thừa Thiên, nhà báo Hải Thanh, nhà thơ Trịnh Xuân An, nhà báo Lâm Mộng Quang, nhà giáo Tôn Quang Phiệt và nhà thơ Tố Hữu… là những đồng chí hoạt động các mạng, những cán bộ lãnh đạo trung kiên của Đảng. Do những quy định của chế độ quản lý báo chí của chính quyền thực dân, ông Nguyễn Trác, ông Nguyễn Đan Quế và Nguyễn Xuân Các, dưới danh nghĩa nhà báo, nghị viên Viện Dân biểu Trung Kỳ, nhưng thực chất là những người hoạt động cách mạng dưới sự lãnh đạo của những người cộng sản.

Báo Dân là tờ báo công khai khổ lớn đầu tiên ở Huế và của Xứ ủy Đảng cộng sản Đông Dương Trung Kỳ. Việc tận dụng thời cơ được hoạt động công khai, hợp pháp và bằng các hoạt động linh hoạt, phong phú, Báo Dân đã đoàn kết, động viên, giác ngộ chính trị cho hàng vạn quần chúng nhân dân trong cuộc đấu tranh chính trị rộng khắp từ thành thị đến nông thôn, qua đó góp phần làm nên cuộc cách mạng vĩ đại của nhân dân Thừa Thiên Huế anh hùng.

Báo Dân đã góp phần quan trọng vào thành quả chung của báo chí cách mạng Thừa Thiên Huế và miền Trung, làm nên diện mạo của một nơi từng là trung tâm báo chí của cả nước. Khẳng định vai trò của Báo Dân trong dòng chảy báo chí cách mạng, đồng thời rút ra những bài học kinh nghiệm về quản lý và phát huy vai trò định hướng của báo chí vẫn luôn là vấn đề có ý nghĩa thời sự.

N.T.S  
(TCSH354/08-2018)

---------------------
* UVTV, Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế.


Tài liệu tham khảo:

1. Lịch sử Đảng bộ Thừa Thiên Huế, tập 1 (1930 - 1954), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội 1995.
2. Lịch sử cộng tác Tuyên giáo của Đảng bộ tỉnh Thừa Thiên Huế (1930 - 2005), Nxb. Thuận Hóa, Huế 2008.
3. Lịch sử Báo Đảng bộ tỉnh Thừa Thiên Huế, Nxb. Thuận Hóa, Huế 2014.
4. Lịch sử Báo Chí Huế, tác giả Nguyễn Xuân Hoa, Nxb. Thuận Hóa, Huế 2013.






 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • 50 năm ngày mất Giáo sư Đặng Văn Ngữ

    ĐẶNG NHẬT MINH

  • Nhân 110 năm ĐÔNG KINH NGHĨA THỤC (1907 - 2017)   

    TRẦN VIẾT NGẠC

  • NGUYỄN HOÀNG THẢO

    Trước khi có chợ, bên ngoài cửa Ðông Ba (cửa Chánh Đông) dưới thời vua Gia Long có một cái chợ lớn mang tên “Qui Giả thị” - chợ của những người trở về.

  • NGUYỄN KỲ

    Cuộc vận động tranh cử và “đấu tranh nghị trường” trong thời kỳ 1936 - 1939 do Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo là một bộ phận đặc biệt trong cuộc đấu tranh vì quyền dân sinh dân chủ ở Việt Nam.

  • DÃ LAN NGUYỄN ĐỨC DỤ

    Thú thật với độc giả, một trong những điều vui thú nhất của tôi - cho tới nay tôi vẫn say mê - là sưu tầm khảo cứu về Phổ trạng (tức là lai lịch, nguồn gốc...) của các nhân vật lịch sử như Ngô Quyền, Nguyễn Xý, Nguyễn Trãi, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du, Phạm Ngũ Lão, Phạm Sư Mạnh...

  • LÂM QUANG MINH

    Tôi không có vinh dự như nhiều anh chị em cán bộ, dũng sĩ từ miền Nam ra Bắc công tác, học tập hay chữa bệnh, được trực tiếp gặp Bác Hồ, được Bác ân cần động viên dạy bảo, được cùng ngồi ăn cơm với Bác, được Bác chia bánh chia kẹo... như người cha, người ông đối với các con cháu đi xa về.

  • THANH HẢI
            Hồi ký

    Tháng 10 năm 1962, tôi được vinh dự đi trong đoàn đại biểu mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam ra thăm miền Bắc. Lần đó một vinh dự lớn nhất của chúng tôi là được gặp Hồ Chủ Tịch.

  • Giáo sư Bửu Ý, tên đầy đủ là Nguyễn Phước Bửu Ý, sinh năm 1937 tại Huế. Ông vừa là nhà giáo, nhà văn, vừa là dịch giả của các tiểu thuyết nổi tiếng như Nhật kí của Anna Frank, Đứa con đi hoang trở về, Bọn làm bạc giả của André Gide, Con lừa và tôi của Juan Ramón Jiménez; Thư gửi con tin của Antoine de Saint-Exupéry… đăng trên các tạp chí Mai, Văn, Diễn đàn, Phố Văn (trước 1975).

  • I. Nhớ hơn bốn mươi năm về trước, vào khoảng đầu mùa đông năm 1974 - mùa dỡ củ dong riềng - tôi đi chợ Chũ (Lục Ngạn), mua được tập truyện Khúc sông. Trên lối mòn đường rừng, bước thấp bước cao, tôi vừa đi vừa tranh thủ đọc. Ngày ấy, tôi chỉ biết tên tác giả là Nguyễn Thiều Nam, nào có biết đẳng cấp của ông trong làng văn ra sao!

  • Sinh thời, cha tôi – họa sỹ Trịnh Hữu Ngọc, hầu như không bao giờ nhắc đến những năm học vẽ ở Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương (MTĐD).

  • HỒ QUỐC HÙNG
    (Thân mến tặng các bạn lớp Văn K9 - Đại học Tổng hợp Huế)

    Ai cũng có kho ký ức riêng cho chính mình như một thứ tài sản vô hình. Ký ức lại có những vùng tối, vùng sáng và lúc nào đó bất chợt hiện lên, kết nối quá khứ với hiện tại, làm cho cuộc sống thêm ý vị.

  • TRẦN VĂN KHÊ
                Hồi ký

    Có những bài thơ không bao giờ được in ra thành tập.
    Có những bài thơ chỉ còn ghi lại trong trí nhớ của tác giả và của đôi người may mắn đã được đọc qua một đôi lần.

     

  • Ngắm nhìn vẻ đẹp tinh khiết của cô nữ sinh Đồng Khánh dưới vành nón Huế, trong chiếc áo dài trắng tinh khôi, không ai nghĩ chỉ ít năm sau ngày chụp bức ảnh chân dung ấy, chị chính là nạn nhân của một chế độ lao tù tàn bạo và nghiệt ngã.

  • Trong quy hoạch một đô thị văn minh, vỉa hè là khoảng công cộng dành cho người đi bộ. Còn theo kiến trúc, vỉa hè là đường diềm, trang trí cho phố phường tạo ra sự hài hòa giữa đường và nhà mặt phố. Người Pháp đã làm những điều đó ở Hà Nội từ cuối thế kỷ 19.

  • TRẦN PHƯƠNG TRÀ

    Hồi những năm 1950, làng Trúc Lâm quê tôi thuộc vùng du kích ven thành phố Huế.

  • QUẾ HƯƠNG

    Ngày 15/7/2017 tới đây, ngôi trường hồng diễm lệ nằm cạnh trường Quốc Học, từng mang tên vị vua yểu mệnh Đồng Khánh chạm ngưỡng trăm năm.

  • THÁI KIM LAN

    Trong những hình ảnh về ngày Tết mà tôi còn giữ được thời thơ ấu, thì Tết đối với tôi là Tết Bà, mà tôi gọi là Tết Mệ Nội chứ không phải Tết Mạ. Bởi vì mỗi khi Tết đến, cả đại gia đình chúng tôi đều kéo nhau lên nhà Từ đường “ăn Tết", có nghĩa quây quần chung quanh vị phu nhân trưởng tộc của dòng họ là bà nội tôi.

  • TRẦN VIẾT NGẠC  

    Báo Xuân xưa nay luôn là số báo đẹp nhất, phong phú nhất trong một năm. Bài vở số Xuân được tòa soạn đặt bài trước cho các cây bút thân quen, nổi tiếng từ mấy tháng trước.

  • NGUYÊN HƯƠNG

    Trong đời, người ta ai cũng nên phải lòng một vùng đất. Cảm giác đó thật đặc biệt, giống như khi ta một mình đi đêm về sáng, bỗng gặp đóa hoa cô đơn thức sớm nở ngoài thềm, thấy thương.

  • BÙI KIM CHI

    Tôi đã rất xúc động. Lòng rưng rưng bồi hồi khi tình cờ nghe được bài hát “Quê hương tuổi thơ tôi” của Từ Huy trong VCD họp mặt Đồng Hương Sịa lần đầu tiên ở Little Sài Gòn, Nam Cali…