TRỌNG NGUYỄN
Nhà nghiên cứu lịch sử Ngô Kha kể: “Tết năm 1966, một bà cụ từ bên Lại Bằng (huyện Hương Trà) lặn lội qua Phong Sơn (huyện Phong Điền) thuộc vùng giải phóng để xem chiếu bóng.
Bác Hồ với các đạo diễn, quay phim, diễn viên... tại Xưởng phim Hà Nội - Hãng phim truyện Việt Nam năm 1963
Khi trên màn ảnh xuất hiện những chiếc mô tô hai bánh đang phóng như bay, bà cụ nói với người ngồi cạnh:
- Bộ đội mình béo tốt rứa đó mà lính nói ngoài Bắc đói, có họ vô đây cho họ coi để họ hết nói bậy. - Rồi bà mẹ quay sang tôi, hỏi: - Không biết hôm ni có chiếu ảnh Cụ Hồ không anh? Tui già rồi sợ ngày giải phóng không được thấy Cụ, khi chiều anh bộ đội nói tối ni coi sẽ thấy Cụ, tôi mới nói thằng cháu dắt đi coi anh ạ.
Bà mẹ vừa nói thế thì hình ảnh Hồ Chủ tịch nhanh nhẹn bước vào Đại hội “thể thao quốc phòng” hiện trên màn ảnh. Bác đang tươi cười chào các đại biểu. Vừa thấy hình ảnh Bác, cả khối người xao động hẳn lên, tiếng vỗ tay lại rào rào vang lên.
- Bác Hồ! Bác Hồ! Hoan hô Bác Hồ!
- Bác ở mô chỉ cho mệ với cháu?
- Đó! Bác mặc áo ka-ki, chân đi dép cao su, tóc bạc trắng. Bác đang đi đó tề, thấy rõ chưa mệ?
- A! Thấy rồi cháu ạ, ôi, Cụ còn mạnh lắm. Cụ khỏe lắm. Cụ giơ tay chào bà con. Cụ chào cả mệ nữa.
Gần 12 giờ khuya, buổi chiếu bóng tan, bà mẹ được cháu dắt qua đò vượt sông Bồ về làng mình. Sáng hôm sau cụ nói với các bà xung quanh:
Tui có chết cũng thỏa. Tui đã được gặp Cụ Hồ rồi”(1)
Hình ảnh Bác Hồ trong nghệ thuật điện ảnh đã đi vào tâm thức nhiều thế hệ Việt Nam với nhiều tình cảm tốt đẹp như thế. Từ trước đến nay, phim tài liệu thời sự Việt Nam đã ghi lại được nhiều hình ảnh của Bác. Qua những thước phim đó, đồng bào ở bất cứ đâu cũng đều luôn được nhìn thấy Bác; học phong cách, đạo đức, sự giản dị của vị cha già dân tộc.
Những thước phim đầu tiên quay được về Bác Hồ của điện ảnh Việt Nam, đáng chú ý có hình ảnh Bác đọc “Tuyên ngôn Độc lập” ngày 2/9 ở Ba Đình; những thước phim do những nhà quay phim Việt Kiều ở Pháp quay năm 1946, lúc Bác nhân danh vị Chủ tịch đầu tiên của Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa sang thăm nước Pháp; những thước phim quay được về Bác lúc gian khổ trong kháng chiến… và những thước phim cuối cùng quay được về Bác trong bộ phim màu “Bác Hồ với thiếu nhi”, nhân dịp các cháu Trường Âm nhạc Việt Nam vinh dự vào biểu diễn cho Bác xem nhân 1/6/1969.
Phim tài liệu Việt Nam còn lưu trữ nhiều tư liệu về các hoạt động của Hồ Chủ tịch, những hình ảnh của Bác ở Việt Bắc những năm chống Pháp, chống Mỹ: Bác trên mình ngựa ung dung vượt suối; ngồi trên mô đá đưa ống nhòm quan sát mặt trận; Bác đọc sách bên khung cửa nhà sàn, xách bình nước tưới cây; Bác quàng tay cùng các chiến sĩ miền Nam dưới bóng cây trong Phủ Chủ tịch; đang âu yếm ôm một cháu nhỏ vào lòng… Không chỉ là người khơi nguồn để nền điện ảnh Cách mạng Việt Nam ra đời, Người còn truyền cảm hứng đến nhiều bộ phim sau này. Nhiều bộ phim sau này đã được sản xuất lấy đề tài từ cuộc đời, con người Hồ Chủ tịch, có thể kể đến như: Hẹn gặp lại Sài Gòn, Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông, Hà Nội mùa đông năm 46…
Trong phim tư liệu cũng có nhiều hình ảnh nhân dân Việt Nam vui mừng đón Bác, có cả những người mẹ già, em bé vẫy tay chào Bác bên bụi tre đường làng. Bác đến thăm hải quân, anh bộ đội hải quân trong khoang lái mắt rạng ngời hạnh phúc khi được Bác cầm chiếc mũ của anh đội lên đầu - chiếc mũ có hai dải lụa bay phần phật trong gió… Con sông, dòng suối, mái rạ, bờ tre, cánh đồng, nhà máy, công xưởng, trường học…; hình ảnh non nước Việt Nam trong những thước phim ấy như càng diễm lệ hơn khi có Bác. Những hình ảnh của Bác đều mang đến sức mạnh cảm hóa tự nhiên thấm sâu vào lòng mọi người.
Sắc lệnh thành lập ngành điện ảnh Việt Nam được Hồ Chủ tịch ký ngày 15/3/1953, trước chiến thắng Điện Biên Phủ không lâu. Kháng chiến chưa thành công mà điện ảnh Việt Nam đã ra đời, cho thấy Bác Hồ đã quan tâm đến nền điện ảnh non trẻ của Việt Nam từ rất sớm. Bác cũng tạo điều kiện cho các nhà làm phim có được những thước phim tốt nhất. Năm 1960, Bác đến thăm Xưởng phim Thời sự - Tài liệu, Bác đến bất ngờ không báo trước khiến các nhà làm phim sửng sốt và cảm động. Bác đi thăm khắp nơi, vào cả phòng in tráng phim. Các đạo diễn nước ngoài nghe kể chuyện này, đã reo lên thích thú, kinh ngạc: “Chủ tịch một nước mà đi tận vào phòng tối xem làm phim? Hạnh phúc thay những người làm công tác điện ảnh Việt Nam!”
Những nhà làm phim cũng có nhiều kỷ niệm sâu sắc với Bác. Năm 1951, nhà quay phim Lê Minh Hiền từ Nam Bộ ra chiến khu Việt Bắc mang theo một máy quay nhỏ và số lượng phim cũng rất hạn chế. Ông được Bác đồng ý cho quay hình ảnh Bác giữa rừng tre “sàn mây vách gió”, nơi Bác sống và làm việc. Có những lần, đạo diễn Lê Minh Hiền xin Bác mặc áo ka-ki để quay một số cảnh cần thiết, nhưng Bác nói: “Không cần đâu, Bác thế nào các chú cứ thế mà quay”. Nhờ vậy, đạo diễn Lê Minh Hiền may mắn quay được những thước phim rất chân thật về một số cảnh sinh hoạt của Bác; như quay được những cảnh Bác dậy sớm tập thể dục, những buổi ra suối ngồi câu cá, rào vườn trong giờ tăng gia sản xuất, đánh bóng chuyền cùng mọi người trong giờ nghỉ… Trong thực tế, hình ảnh Bác Hồ với bộ quần áo nâu bình thường đã trở thành quen thuộc, gần gũi trên phim ảnh Việt Nam.
Năm 1960, khi làm phim “Vài hình ảnh về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch”, các nhà làm phim đã được Bác tạo điều kiện hết sức để làm việc. Thiếu ánh sáng để quay, Bác đồng ý cho dỡ hẳn một phần mái nhà. Tại một cuộc họp trong rừng, Bác cho phép mang máy quay phim đến. Bác còn gợi ý cho cả chỗ đặt máy và lúc nào thì bấm máy để có những thước phim tạo hình đẹp nhất... Và có lần hiếm hoi, chiều theo ý chuyên môn, Bác đã miễn cưỡng mặc thêm áo ka-ki đứng trước ống kính...
Không chỉ đối với các nhà làm phim Việt, các nhà làm phim trên thế giới cũng được Bác quan tâm và họ cũng hết sức vinh dự được làm phim về Bác. Một nhà quay phim Nhật Bản được Bác đồng ý để ông quay phim. Cả đêm trước đó ông không ngủ, thao thức chờ đến sáng. Bác tiếp nhà quay phim trong buổi sáng ngoài vườn, trời mát mà ông cứ chã mồ hôi vì hồi hộp, bởi lo sợ phim không tốt. Đến khi tráng phim quá đạt yêu cầu, ông mừng, nói với đồng nghiệp Việt Nam: “Đây là những giờ phút cảm động và vinh dự nhất trong đời làm phim của chúng tôi, vì được Bác là một lãnh tụ vĩ đại tiếp thật chí tình. Ước mơ của chúng tôi đã toại nguyện”...
Bác cũng có những lần nêu ý kiến bày tỏ quan điểm làm phim. Có lần Bác góp ý với các đạo diễn: “Phim của các chú tốt, có nhiều phim hay. Nhưng có phim còn nhanh, đồng bào xem không hiểu. Làm phim cho đồng bào xem mà đồng bào chưa hiểu, chưa thấy bổ ích thì không thể gọi là tốt và hay”. Những năm tháng ấy, đồng bào, nhất là đồng bào vùng núi cao tiếp xúc với ngôn ngữ điện ảnh còn ít, những căn dặn của Bác Hồ là hết sức cần thiết, thể hiện sự quan tâm rất mực của lãnh tụ.
Bác quan tâm đến mọi người, vậy mà riêng mình, Bác vẫn giữ một cuộc sống giản dị, đến mức đơn sơ. Đạo diễn Quang Huy kể những ngày làm phim về Bác, có hôm ê kíp làm phim xin phép được vào thăm chỗ Bác ở. Nhân lúc Bác còn làm việc ở phòng ngoài, ông bước vào phòng riêng và...: “Cảm nghĩ của chúng tôi lúc đó thật là sững sốt và ngoài sức tưởng tượng, mặc dù đã biết Bác sống rất bình dị. Một căn phòng nhỏ bày biện thật đơn sơ: một chiếc giường gỗ trải chiếc chiếu con mộc mạc, đầu giường một cái gối vải xếp ngay ngắn. Dưới gầm có một đôi guốc đã cũ. Góc phòng một chiếc tủ nhỏ xinh xinh; ở trong, một bên treo hai bộ áo quần ka-ki thường thấy Bác vẫn mặc. Một bên, tuy có ba ngăn nhưng chẳng ngăn nào đầy. Một cái va li nhỏ, một cái chăn dạ, và dưới cùng là hai đôi giày. Vẻn vẹn chỉ có thế mà rất gọn gàng, ngăn nắp. Chúng tôi hết sức xúc động khi ghi những hình ảnh đó”...(2)
Tấm gương tinh thần tận tụy hy sinh phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân suốt đời chẳng quản, và đạo đức cần kiệm liêm chính cao đẹp của Bác đã bao trùm lên tất cả.
T.N
(SHSDB30/09-2018)
.......................................
Chú thích:
(1) “Một ngày nhớ bao ngày xưa ấy”, Ngô Kha, Nxb. Thuận Hóa, 2014.
(2) “Muôn vàn tình thương yêu” (Nxb. Văn Hóa, Nhiều tác giả, Hà Nội, 7/1975, trang 27).
TRẦN PHƯƠNG TRÀ
Cuối năm 1961, tôi rời Vụ Báo chí Bộ Ngoại giao về làm biên tập viên chương trình Tiếng thơ Đài Tiếng nói Việt Nam. Chương trình này nằm trong Phòng Văn học do nhà văn Trọng Hứa làm Trưởng phòng.
KIMO
Mười Cents, một đồng xu nhỏ nhất, mỏng nhất được gọi là “dime” và đồng xu nầy được đúc với chất liệu 90 phần trăm bạc và 10 phần trăm đồng như đồng xu năm cents và 25 cents nhưng lại khác với đồng xu một cent.
HƯỚNG TỚI 70 NĂM THÀNH LẬP LIÊN HIỆP CÁC HỘI VHNT THỪA THIÊN HUẾ
TÔ NHUẬN VỸ
HƯỚNG TỚI KỶ NIỆM 70 NĂM NGÀY THÀNH LẬP LIÊN HIỆP CÁC HỘI VHNT THỪA THIÊN HUẾ
NGUYỄN KHẮC PHÊ
KỶ NIỆM 40 NĂM GIẢI PHÓNG THỪA THIÊN HUẾ
NGÔ KHA
LTS: Dưới đây là một ghi chép của cố nhà báo, nhà nghiên cứu lịch sử Ngô Kha về những ngày đầu đoàn quân giải phóng về thành Huế dịp 26/3/1975. Rất ngắn gọn, song đoạn ghi chép đã gợi lại cho chúng ta không khí sôi nổi, nô nức những ngày đầu.
Lời nói đầu: Mỗi khi về nhà ở Quỳnh Mai, tôi luôn hình dung thấy Cha tôi đang ngồi đâu đó quanh bàn làm việc của mình. Trong một lần về nhà gần đây, sau khi thắp hương cho Cha, chờ hương tàn bèn mang máy đánh chữ, là vật hết sức gần gũi đã gắn bó với Cha tôi cho tới khi mất, để lau chùi, làm vệ sinh.
Những năm 1973-1976, đến Paris tôi bắt đầu công việc sinh viên, vừa làm vừa học là ký tên và đánh số giùm tranh litho cho Họa sĩ Lê Bá Đảng.
SƠN TÙNG
Một ngày giáp Tết Canh Dần - tháng 2/1950, gặp dịp đi qua làng Sen, tôi ghé vào thăm nơi đã lưu lại những kỷ niệm tuổi thơ của Người.
L.T.S: Vương Đình Quang nguyên là thư ký tòa soạn báo "Tiếng Dân" do Huỳnh Thúc Kháng làm chủ biên, vừa là thư ký riêng của nhà yêu nước Phan Bội Châu, chuyên giúp Phan Bội Châu hoàn chỉnh những văn bản tiếng Việt trong mười lăm năm cuối đời sống và sáng tác tại Huế. Bài này trích từ "Hồi ký về cụ Phan và cụ Huỳnh" do chính tác giả viết tại quê hương Nam Đàn Nghệ Tĩnh khi tác giả vừa tròn 80 tuổi (1987).
NGUYỄN NGUYÊN
Tháng 6-1966, ở Sài Gòn, giữa cái rừng báo chí mấy chục tờ báo hằng ngày, báo tháng, báo tuần, bỗng mọc thêm một từ bán nguyệt san: Tin Văn.
Cứ vào những ngày cuối năm, khi làm báo tết, trong câu chuyện cà phê sáng, làng báo Sài Gòn hay nhắc đến họa sĩ Choé, tác giả những bức tranh biếm - hí họa từng không thể thiếu trên khắp các mặt báo. Có thể nói, cùng với nhà văn Sơn Nam, nhà thơ Bùi Giáng, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, họa sĩ Ớt - Huỳnh Bá Thành, danh ca Út Trà Ôn, danh hài Văn Hường,… họa sĩ tuổi Mùi - Choé là một trong những “quái kiệt” của Sài Gòn.
(Lược thuật những hoạt động nhân kỷ niệm 5 năm Sông Hương)
(Bài phát biểu của nhà văn Tô Nhuận Vỹ - Nguyên Tổng biên tập tạp chí Sông Hương trong lễ kỷ niệm 5 năm)
(SHO). Huế đầu đông. Mưa lâm thâm,dai dẳng. Mưa kéo theo các cơn lạnh se lòng. Cái lạnh không đậm đà như miền Bắc không đột ngột như miền Nam, nó âm thầm âm thầm đủ để làm xao xuyến nổi lòng người xa quê... Ngồi một mình trong phòng trọ, con chợt nhớ, một mùa mưa, xa rồi...
(SHO). Mùa mưa cứ thế đến, những nỗi nhớ trong tôi lại từng cái từng cái ùa về, thổi qua và tôi chợt nhận ra trong lúc ngây ngốc tôi đã bỏ quên nhiều thứ như vây; bỏ quên những người thân yêu trong nỗi nhớ của tôi, ở trong kỉ niệm đã qua và giờ tôi nhớ ra cảm giác hạnh phúc, vui vẻ khi ở bên họ, để từ đó tôi quý trọng hơn nữa những giây phút bên cạnh những người mà tôi yêu thương.
NGUYỄN ĐẮC XUÂN
Sau một thời gian bị bệnh hiểm nghèo, ca sĩ Hà Thanh đã qua đời vào lúc 19 giờ 30 ngày 1 tháng 1 năm 2014 (giờ Boston) tại thành phố Boston, tiểu bang Massachusetts, Hoa Kỳ.
ĐẶNG VĂN NGỮ
Hồi ký
Cha tôi lúc còn nhỏ tự học chữ nho có tiếng là giỏi, nhưng đến tuổi đi thi thì thực dân Pháp đã bãi bỏ các kỳ thi chữ nho.
TÔ NHUẬN VỸ
Lớp sinh viên chúng tôi tốt nghiệp Khoa Văn - Sử trường Đại học Sư phạm Hà Nội năm 1964, đúng vào thời điểm Mỹ đánh phá miền Bắc và Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam kêu gọi con em miền Nam đang ở miền Bắc hãy trở về chiến đấu cho quê hương.
Giải phóng quân Huế với phong trào Nam tiến
PHẠM HỮU THU
Sau ba năm đi giang hồ Trung Quốc. Nguyễn Du trở về, ở tại Thăng Long từ cuối năm 1790 cho đến năm 1794. Đó là ba năm «Chữ tình chốc đã ba năm vẹn», lưu lại trong Lưu Hương Ký của Hồ Xuân Hương.