PHAN QUANG
Hồi ký
Vua Hàm Nghi ghé làng tôi. Vua nghỉ lại ở nhà tôi. Điều đó xảy ra một trăm năm về trước. Và nhà ấy là nhà của ông nội tôi.
Ảnh: internet
Thế nhưng tôi vẫn giữ câu đạo ngữ(1) "giật gân" ấy để mở đầu bài viết về một mẩu ký ức, nó là niềm tự hào của tuổi thơ và cũng là một nỗi canh cánh vẫn cộm lên nơi lòng tôi trong gần suốt cuộc đời sống xa quê hương.
Cha tôi có ngôi nhà nhỏ trên bờ sông Nhùng, ở vào khoảng nửa chặng đường dài chừng mươi ki lô mét trên con đường thiên lý từ thị xã Quảng Trị cũ vào lỵ sở phủ Hải Lăng (thôn Diên Sanh, nay thuộc xã Hải Thọ, huyện Triệu Hải).
Cha tôi thường kể: vườn mình xưa kia rộng lắm: nó trải từ bờ sông ra đến gần sát đường quan, cách đường có một dải ruộng rộc. Vì cảnh nhà sa sút, khoảnh vườn phải chia bốn xẻ ba, còn lại có thế này.
Cha lại kể: nhà mình xưa kia giàu lắm. Những ngày nắng mới, bà nội xếp bạc nén ra nong phơi, trắng lòa cả sân.
Cả đời tôi cho đến bây giờ chưa từng trông thấy nén bạc bao giờ, cho nên hồi ấy tôi càng không chút băn khoăn: tại sao bạc lại phải đem phơi. Tuổi ấu thơ mường tượng nén bạc chắc hẳn như phong bánh khảo để dành, gặp trời nồm phải đưa ra hong cho khỏi mốc.
Vì sao nhà mình nghèo đi? Tôi hỏi.
Cha thì thầm: Vì vua đến rồi vua đi. Bất kỳ nhà ai, hễ vua ghé rồi vua ra đi thì nhà đó sẽ sa sút.
Vua nào vậy? Trẻ thơ bao giờ cũng tò mò.
Cha ghé sát vào tai tôi; tiếng thì thầm càng nhỏ hơn:
- Đức Hàm Nghi.
Hai tiếng Hàm Nghi đâu có ý nghĩa gì nhiều đối với chú bé là tôi. Nhưng do thái độ trang trọng bí ẩn của cha, mặc dù còn rất nhỏ, tôi vẫn nhớ kỹ tên đức vua ấy cho đến ngày lớn khôn.
Những chi tiết khác chung quanh việc vua ghé nhà hấp dẫn tôi hơn. Nào là cả bức vườn rất rộng - một vườn cau - nằm đầy lính tráng. Nào là hai thớt tượng, không đưa được vào trong vườn, phải để ngoài đường cái, chỗ gần quán mụ Thập Giụ bây giờ. (Tên một người đàn bà góa mở quán nước cạnh đường quan).
- Đức vua đi hia, đội mũ dát ngọc và mặc áo thêu rồng chứ?
Cha tôi lắc đầu:
- Nào có ai được phép ngó mặt vua!
Cha tôi sinh năm 1880. Lúc vua Hàm Nghi bỏ kinh thành Huế ra Quảng Bình (tháng 5 năm Ất Dậu 1885 - theo Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim) cha tôi đã lên sáu, chắc hẳn đã đủ trí khôn để ghi vào ký ức nhiều điều nghe thấy lúc bấy giờ.
Cha tôi còn kể: Trong làng có một số người yêu nước lần ấy theo vua Hàm Nghi ra đi kháng chiến và không bao giờ trở về.
Cha ông lý Bản là một. Nhà ông lý cách nhà tôi có một lối đi, nối đường quan đến bờ sông, nó là cái ngõ dùng chung cho mấy gia đình trong xóm.
Tôi có được mấy lần theo cha sang ăn kỵ bên nhà hàng xóm. Cha tôi nói nhỏ với tôi trước khi đi: "Hôm nay không đúng là ngày kỵ thật đâu. Không ai biết "ổong" mất ngày nào. Con cháu chỉ lấy ngày ông bỏ làng cùng với vua ra đi để làm ngày giỗ, coi như ngày ông mất vậy thôi".
Lớn lên đi học, khi đã biết vua Hàm Nghi là ai, tôi hỏi cha tôi: Tại sao vua Hàm Nghi ghé nhà mình?
- Tại ông nội làm quan trong triều.
Và cha tôi bắc ghế, mở lấy hòm sắc treo tận đòn tay bên trên bàn thờ xuống cho tôi xem: Trong hòm sắc sơn son trang trí hình rồng ấp mây thếp vàng, có nhiều tờ sắc bằng giấy gió khổ rộng in nền hoa văn vàng nhạt. Chữ nho viết chân phương. Tôi không đọc được nhiều nhưng cũng phân biệt được các niên hiệu: nhiều hơn cả là các sắc phong thời Tự Đức, cũng có tờ niên hiệu Thành Thái. Màu giấy, màu mực nho và son khuôn ấn những sắc này mới hơn những tờ kia.
Cha tôi giảng giải: ông nội đỗ cử nhân, là người khoa bảng đầu tiên trong làng, có làm tri huyện huyện nhà (thời trước Hải Lăng là một huyện thuộc phủ Triệu Phong, đến thời Pháp mới nâng thành phủ). Sau vào Huế làm quan, có lúc tới chức Chưởng ấn. Nổi tiếng về tính cương trực. Ba lần bị giáng chức vì tội can vua, có lần bị đầy đi làm "lính sơn phòng" ở miền núi. Ba lần được phục chức, về kinh. Cha tôi được hàm ấm sinh cũng nhờ thừa hưởng chút lộc đó.
Những chi tiết trên đây chưa hẳn đã hoàn toàn chính xác. Vì ông nội tôi mất khi cha tôi - con út - còn ít tuổi. Gia đình khánh kiệt, cha tôi không được học hành nhiều như các bác tôi. Những điều nói trên chắc là nghe các bác kể lại (Ông tôi có hai vợ, một bà ở quê, một bà ở Huế. Có chín con: năm trai, bốn gái. Một người con gái là thân mẫu có trung tướng Cao Văn Khánh, Phó Tổng tham mưu trưởng quân đội nhân dân Việt Nam).
Xã Hải Thượng quê tôi có truyền thống cách mạng và kháng chiến. Thời chống Pháp, cả làng tản cư. Mặc dù địch đóng bốt cầu Nhùng, các thôn vẫn có cơ sở đảng và chính quyền. Một trong những đường dây an toàn của cán bộ từ căn cứ vùng biển Triệu Phong - Hải Lăng lên chiến khu là đường đi qua thôn Thượng Xá. Trong kháng chiến chống Mỹ, Hải Thượng là một trong mấy xã sớm được tuyên dương anh hùng ở khu Trị Thiên, và là quê của anh hùng vũ trang giải phóng Phan Thanh Chung, của chiến sĩ đấu tranh chính trị Phan Thị Cam...
Những ngày sống ở miền Bắc, tôi hằng nhớ về làng quê với biết bao trìu mến và tự hào. Chuyện vua Hàm Nghi ghé nhà là một chi tiết xúc động. Tìm đọc sử liệu, thấy Trần Trọng Kim có viết: "...Xa giá đến Trường Thi vào nghỉ được một lát, thì Tôn Thất Thuyết lại giục lên đường, nói rằng quân Pháp đã sắp đuổi tới. Tối ngày 23 (tháng 5 năm Ất Dậu), xa giá vào nghỉ nhà một người bá hộ, sáng ngày 24 ra đi, đến tối mới tới thành Quảng Trị. Quan tuần phủ Trương Quang Đản ra rước xa giá vào Hành cung và đặt quân lính để phòng giữ".
Tôi hằng phân vân: "Người bá hộ" ấy phải chăng là ông nội mình? Nhưng nhà tôi chỉ cách Hành cung ở Quảng Trị có năm cây số, làm sao đi cả một ngày, "đến tối mới tới nơi"?
***
... Bình Trị Thiên là dải đất đầy biến động và đổi thay sâu sắc khoảng hơn một trăm năm lại đây. Hồi nhỏ, tôi thích cuốn Tuy Lý Vương của Trần Thanh Mại kể về những biến cố trong triều, từ sự kiện pháo hạm Pháp nả đại bác vào Đà Nẵng cho đến cảnh "bốn tháng ba vua" đầy bi thảm.
Vì sao cuốn ký sự lịch sử ấy lại lấy tên một hoàng tử mang tước vương làm tựa đề? Trong lời tựa, Trần Thanh Mại phân trần (tôi nhớ đại ý): Vì cuộc đời, Tuy Lý (80 tuổi) trùng hợp với những biến động sâu sắc ở kinh đô. Nói về con người ấy chỉ là để viết về những sự kiện gói trong khoảng thời gian một đời người.
Tôi nghĩ: cuộc đời những nông dân ở những vùng như quê tôi hẳn còn chứng kiến nhiều sự kiện có tầm cỡ trọng đại hơn. Hồi ở lứa tuổi còn nhiều mộng tưởng về sự nghiệp văn chương, mỗi lần nghe kể về quê hương chiến đấu, về những con người bình thường mình từng quen biết thời tấm bé nay đang làm nên những chuyện phi thường, tôi vẫn nghĩ: giá có ai đó viết một bộ tiểu thuyết về cuộc đời của một nông dân như đời cha tôi chẳng hạn (cụ mất cuối năm 1974, thọ 95 tuổi), về một làng như làng tôi hoặc bao nhiêu làng khác ở dải đất miền Trung này, ắt sẽ có thể tạo nên một bức tranh hoành tráng, không gian không rộng lắm mà mang chiều sâu cả thế kỷ.
Tập I của bộ tiểu thuyết ấy sẽ mở đầu với cảnh xa giá một ông vua lánh giặc ghé nhà, nhốn nháo ngựa xe; trai làng theo vua ra đi; và kết thúc với những chương dội vang tiếng trống tổng khởi nghĩa. Tập II sẽ viết về cuộc kháng chiến chống Pháp của dân làng. Tập III, tập IV là Tết Mậu Thân, là đấu tranh chính trị, là thành cổ anh hùng, với những trường đoạn "mùa hè đò lửa", "đại lộ kinh hoàng" của lính ngụy... Dân làng trong lò lửa ấy. Những con cháu, bên nội, bên ngoại của những người như cha tôi chẳng hạn, có người chỉ huy quân giải phóng có người là chiến sĩ dân quân, có người tham gia các tiểu đoàn "Trâu điên", "Hổ xám" của Thiệu... (Sự thật là một trận bão lửa, một tiểu đoàn trưởng ngụy khét tiếng hung dữ, con trai một người chị họ của tôi, cùng với thiết giáp, cơ giới hùng hùng, hổ hổ hành quân "tái chiếm thành cổ"; đi ngang qua làng, viên tiểu đoàn trưởng ấy đã tạt vào bức vườn bị cày xới, xục các hầm tránh pháo, vừa đi vừa gọi: "Ôông ơi, ôông ơi, có ôông ở đây không? Cháu đây, cháu tìm ôông đây!... Ôông lên đi với cháu...")
Tập tiếp nữa sẽ viết về cảnh những người dân Hải Thượng từ miền Bắc, từ chiến khu, từ Sài Gòn, từ Tây Nguyên trở về, gặp nhau ngỡ ngàng vừa lạ vừa quen, có thương có giận, tụ hội ở con đường cái, nơi từng có cái quán nước của "mụ Thập Giụ", mà đâu đây đã từng buộc đôi voi của vua Hàm Nghi gần trăm năm về trước... (Ôi đáng yêu thay những mộng ước văn chương, càng đáng yêu vì nó sẽ không bao giờ là hiện thực).
Dù sao, việc những trai làng tôi theo vua Hàm Nghi ra đi là sự kiện có thật. Ngày giải phóng, tôi không gặp cha tôi để hỏi thêm về ông vua xuất bôn. (Cụ đã chờ con gần ba mươi năm và gần đến đích thì như một thân cây kiệt nhựa, không còn rán được nữa, cụ khô dần). Nhưng tôi đã gặp một người cháu, anh Lê Bân, con bà chị ruột, tốt nghiệp khoa sử Viện đại học Huế. Lê Bân cũng có biết chuyện vua Hàm Nghi ghé nhà: "Ôông ngoại kể, khi ôông mon men lên nhà trên, định nhìn trộm mặt vua thì bị lính canh cầm roi đuổi xuống dưới nhà..."
Vua Hàm Nghi ghé làng tôi!
Tôi dùng cái đầu đề "kích động" ấy đăng lên Sông Hương là còn muốn khơi gợi những người viết văn, những nhà làm sử Bình Trị Thiên quan tâm một chi tiết nghĩ cũng hay hay...
Huế, 1987
P.Q.
(SH37/05&06-89)
-------------
(1) Đạo ngữ: thuật ngữ báo chí, chỉ cách tóm gọn nội dung bài viết lên câu mở đầu.
BỬU Ý
Hàn Mặc Tử (Nguyễn Trọng Trí) từng sống mấy năm ở Huế khi còn rất trẻ: từ 1928 đến 1930. Đó là hai năm học cuối cùng cấp tiểu học ở nội trú tại trường Pellerin (còn gọi là trường Bình Linh, thành lập năm 1904, do các sư huynh dòng La San điều hành), trường ở rất gần nhà ga tàu lửa Huế. Thời gian này, cậu học trò 17, 18 tuổi chăm lo học hành, ở trong trường, sinh hoạt trong tầm kiểm soát nghiêm ngặt của các sư huynh.
LÊ QUANG KẾT
Ký
Giai điệu và lời hát đưa tôi về ngày tháng cũ - dấu chân một thuở “phượng hồng”: “Đường về Thành nội chiều sương mây bay/ Em đến quê anh đã bao ngày/ Đường về Thành nội chiều sương nắng mới ơ ơ ơ/ Hoa nở hương nồng bay khắp trời/ Em đi vô Thành nội nghe rộn lòng yêu thương/ Anh qua bao cánh rừng núi đồi về sông Hương/ Về quê mình lòng mừng vui không nói nên lời…” (Nguyễn Phước Quỳnh Đệ).
VŨ THU TRANG
Đến nay, có thể nói trong các thi sĩ tiền chiến, tác giả “Lỡ bước sang ngang” là nhà thơ sải bước chân rong ruổi khắp chân trời góc bể nhất, mang tâm trạng u hoài đa cảm của kẻ lưu lạc.
TRẦN PHƯƠNG TRÀ
Đầu năm 1942, cuốn “Thi nhân Việt Nam 1932-1941” của Hoài Thanh - Hoài Chân ra đời đánh dấu một sự kiện đặc biệt của phong trào Thơ mới. Đến nay, cuốn sách xuất bản đúng 70 năm. Cũng trong thời gian này, ngày 4.2-2012, tại Hà Nội, Xuân Tâm nhà thơ cuối cùng trong “Thi nhân Việt Nam” đã từ giã cõi đời ở tuổi 97.
HUYỀN TÔN NỮ HUỆ - TÂM
Đoản văn
Về Huế, tôi và cô bạn ngày xưa sau ba tám năm gặp lại, rủ nhau ăn những món đặc sản Huế. Lần này, y như những bợm nhậu, hai đứa quyết không no nê thì không về!
LƯƠNG AN - NGUYỄN TRỌNG HUẤN - LÊ ĐÌNH THỤY - HUỲNH HỮU TUỆ
BÙI KIM CHI
Nghe tin Đồng Khánh tổ chức kỷ niệm 95 năm ngày thành lập trường, tôi bồi hồi xúc động đến rơi nước mắt... Con đường Lê Lợi - con đường áo lụa, con đường tình của tuổi học trò đang vờn quanh tôi.
KIM THOA
Sao anh không về chơi Thôn Vỹ
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
(Hàn Mạc Tử)
NGUYỄN VĂN UÔNG
Hôm nay có một người du khách
Ở Ngự Viên mà nhớ Ngự Viên
(Xóm Ngự Viên - Nguyễn Bính)
HOÀNG THỊ NHƯ HUY
Tôi biết Vân Cù từ tấm bé qua bóng hình người đàn bà gầy đen, gánh đôi quang gánh trĩu nặng trên vai, rảo khắp các xóm nhỏ ở Thành Nội, với giọng rao kéo dài: “Bún…bún…ún!” mà mẹ đã bao lần gọi mua những con bún trắng dẻo mềm.
LÊ QUANG KẾT
Tùy bút
Hình như văn chương viết về quê hương bao giờ cũng nặng lòng và giàu cảm xúc - dù rằng người viết chưa hẳn là tác giả ưu tú.
TỪ SƠN… Huế đã nuôi trọn thời ấu thơ và một phần tuổi niên thiếu của tôi. Từ nơi đây , cách mạng đã đưa tôi đi khắp mọi miền của đất nước. Hà Nội, chiến khu Việt Bắc, dọc Trường Sơn rồi chiến trường Nam Bộ. Năm tháng qua đi.. Huế bao giờ cũng là bình minh, là kỷ niệm trong sáng của đời tôi.
LÊ QUANG KẾT
Quê tôi có con sông nhỏ hiền hòa nằm phía bắc thành phố - sông Bồ. Người sông Bồ lâu nay tự nhủ lòng điều giản dị: Bồ giang chỉ là phụ lưu của Hương giang - dòng sông lớn của tao nhân mặc khách và thi ca nhạc họa; hình như thế làm sông Bồ dường như càng bé và dung dị hơn bên cạnh dòng Hương huyền thoại ngạt ngào trong tâm tưởng của bao người.
HUY PHƯƠNG
Nỗi niềm chi rứa Huế ơi
Mà mưa trắng đất, trắng trời Thừa Thiên
(Tố Hữu)
PHAN THUẬN AN
Huế là thành phố của những dòng sông. Trong phạm vi của thành phố thơ mộng này, đi đến bất cứ đâu, đứng ở bất kỳ chỗ nào, người ta cũng thấy sông, thấy nước. Nước là huyết mạch của cuộc sống con người. Sông là cội nguồn của sự phát triển văn hoá. Với sông với nước của mình, Huế đã phát triển theo nguyên tắc địa lý thông thường như bao thành phố xưa nay trên thế giới.
MAI KIM NGỌC
Tôi về thăm Huế sau hơn ba thập niên xa cách.Thật vậy, tôi xa Huế không những từ 75, mà từ còn trước nữa. Tốt nghiệp trung học, tôi vào Sài Gòn học tiếp đại học và không trở về, cho đến năm nay.
HOÀNG HUẾ
…Trong lòng chúng tôi, Huế muôn đời vẫn vĩnh viễn đẹp, vĩnh viễn thơ. Hơn nữa, Huế còn là mảnh đất của tổ tiên, mảnh đất của trái tim chúng tôi…
QUẾ HƯƠNG
Năm tháng trước, về thăm Huế sau cơn đại hồng thủy, Huế ngập trong bùn và mùi xú uế. Lũ đã rút. Còn lại... dòng-sông-nước-mắt! Người ta tổng kết những thiệt hại hữu hình ước tính phải mươi năm sau bộ mặt kinh tế Thừa Thiên - Huế mới trở lại như ngày trước lũ. Còn nỗi đau vô hình... mãi mãi trĩu nặng trái tim Huế đa cảm.
THU TRANG
Độ hai ba năm thôi, tôi không ghé về Huế, đầu năm 1999 này mới có dịp trở lại, thật tôi đã có cảm tưởng là có khá nhiều đổi mới.
TUỆ GIẢI NGUYỄN MẠNH QUÝ
Có lẽ bởi một nỗi nhớ về Huế, nhớ về cội nguồn - nơi mình đã được sinh ra và được nuôi dưỡng trong những tháng năm dài khốn khó của đất nước, lại được nuôi dưỡng trong điều kiện thiên nhiên vô cùng khắc nghiệt. Khi đã mưa thì mưa cho đến thúi trời thúi đất: “Nỗi niềm chi rứa Huế ơi/ Mà mưa xối xả trắng trời Trị Thiên…” (Tố Hữu). Và khi đã nắng thì nắng cho nẻ đầu, nẻ óc, nắng cho đến khi gió Lào nổi lên thổi cháy khô trời thì mới thôi.