Vua cờ

16:16 04/09/2008
A THÀNH L.T.S: "Vua cờ" (Kỳ vương) được đăng lần đầu trên tạp chí "Thượng hải văn học" năm 1984. Vừa xuất hiện, "Vua cờ" đã chấn động văn đàn, liên tiếp nhận được nhiều giải thưởng "Trung thiên tiểu thuyết ưu tú" ở cấp tỉnh và trung ương ở Trung Quốc. Tác giả A Thành tên thật là Chung A Thành sinh năm 1949 ở Tứ Xuyên. Đây là tác phẩm đầu tay của ông. Do khuôn khổ tờ báo, chúng tôi không thể in trọn tác phẩm nổi tiếng này khoảng gần 100 trang sách. Dưới đây là chương IV, chương cuối cùng của "Vua cờ".

Tóm tắt những chương đầu như sau:
"Vương Nhất Sinh là con nhà nghèo, mê đánh cờ tướng từ nhỏ, do một lần phải cùng mẹ kiếm tiền nuôi sống gia đình bằng công việc đóng sách, hướng dẫn đánh cờ cho nhà in. Sau đó tình cờ anh làm bạn với một ông già thu gom rác và trở thành đồ đệ của ông già cao thủ cờ này. Sinh càng ngày càng nổi tiếng về cờ, đánh rất giỏi cả "cờ mù", không cần bàn cờ, quân cờ gì cả, lại có thể một mình đánh với cả 2, 3 người, cả đám đông... Trong "Cách mạng văn hóa", ông vua cờ Vương Nhất Sinh này phải đi lao động cải tạo ở một nông trường miền núi xa. Tại đây, anh đã có một cuộc đấu có một không hai, một phong thái kỳ lạ chưa từng có trên đời... Vương Nhất Sinh có một bộ cờ không chữ (vô tự kỳ) luôn mang theo bên mình. Đó là bộ cờ do người mẹ khốn khổ của anh để lại cho anh lúc lìa đời, bộ cờ mà bà mẹ nghèo đã nhặt nhạnh, thu gom từ bàn chải đánh răng của người ta vất đi, đẽo gọt, mài dũa lại, bóng loáng nhưng vì không biết chữ, bà đã không thể khắc vào..."
Quý bạn đọc sẽ tự mình rút ra cái khoảnh khắc thăng hoa của một linh hồn bình dị, ý nghĩa huyền diệu của triết học và độ trầm tích văn hóa của Trung Hoa...
TCSH.
...
Sáng hôm sau chúng tôi tỉnh dậy, người bị bám đầy đất, lấy nước gột qua, rồi hẹn chàng họa sĩ đi ăn ngoài phố. Chàng họa sĩ đang tìm cách từ chối thì Cước Noãn đến, dáng vẻ rất vui mừng. Vương Nhất Sinh nói với nó:
- Tớ không tham gia thi đấu nữa đâu.
Mọi người ngẩn ra, Cước Noãn hỏi:
- Làm sao lại không tham gia? Trên tỉnh có mấy người về thị sát nữa.
Vương Nhất Sinh nói:
- Không tham gia là không tham gia.
Tôi nói lại ý của Vương Nhất Sinh, Cước Noãn than thở:
- Ông bí thư là người có văn hóa, rất thích những thứ đó. Cờ mặc dù là của gia truyền, nhưng quả thực tớ không chịu nổi cái khổ ở nông trường này, tớ chỉ muốn có một nơi sạch sẽ để sống, không phải chịu cái bẩn thỉu của mỗi ngày nữa. Cờ không thể thay cơm, dùng nó để mở một số quan hệ mới có giá trị. Nhà tớ cũng không phải thật khởi sắc, nhưng sẽ không trách mắng tớ.
Chàng họa sĩ vòng hai tay trước ngực nhìn trời rồi nói:
- Nghê Bân(1), không thể trách cậu được. Cậu không có yêu cầu gì cao. Tớ hai năm nay, cũng thường ngớ ngẩn, sống quá cụ thể, quá rõ ràng. May mà tớ còn biết vẽ. Cái gì có thể giải buồn? Chỉ có... ầy..!
Vương Nhất Sinh rất ngạc nhiên nhìn chàng họa sĩ, từ từ quay mặt nói với Cước Noãn:
- Nghê Bân, cảm ơn cậu. Lần này sau khi chọn ra cao thủ, tớ đăng môn thi đấu với họ, tớ không tham gia cuộc thi lần này nữa.
Cước Noãn bỗng nhiên rất vui mừng, vỗ tay nói:
- Như thế thì, thì, tớ sẽ đi với bí thư, tổ chức một cuộc đấu hữu nghị. Nếu cậu giành được quán quân lần này, chắc chắn là quán quân thực sự. Còn thua thì cũng không ảnh hưởng đến danh tiếng.
Vương Nhất Sinh trầm ngâm một lúc, nói:
- Cậu đừng nói gì với ông bí thư đó nữa, tớ sẽ tìm họ đấu tài. Nếu không sẽ đấu với ba người đầu bảng.
Chúng tôi cũng không biết nên nói thêm điều gì, liền đi xem thi đấu các môn, cũng rất vui vẻ. Vương Nhất Sinh chỉ chui vào chỗ đánh cờ, xem các trận hay. Ngày thứ ba chọn ra được ba người đầu bảng. Sau đó là phát phần thưởng và biểu diễn văn nghệ, cả hội trường ồn ào náo nhiệt, không nghe được ai giành được giải gì.
Cước Noãn để chúng tôi đứng đợi ở hội trường, một lát sau dẫn hai người đến, đều mặc áo vận động viên. Cước Noãn giới thiệu, thì ra là hai người giành được giải hai và giải ba về cờ tướng. Cước Noãn nói:
- Vị này là Vương Nhất Sinh nước cờ rất cừ, rất muốn chơi với hai vị cao thủ một ván, đây là cơ hội để mọi người học hỏi lẫn nhau.
Hai người đó nhìn Vương Nhất Sinh rồi hỏi:
- Thế sao lại không tham gia thi đấu, chúng tôi ở đây đã quá lâu rồi, cần phải về ngay.
Vương Nhất Sinh nói:
- Tôi sẽ không làm mất thời gian của các vị, nên đấu với cả hai một lúc.
Họ nhìn nhau, bỗng nhiên ngộ ra, hỏi:
- Cờ mù?
Vương Nhất Sinh gật đầu. Hai người đó lập tức thay đổi thái độ, cười và nói:
- Chúng tôi chưa chơi qua cờ mù.
Vương Nhất Sinh nói:
- Không sao, các anh nhìn bàn cờ mà đánh. Nào, chúng ta tìm một nơi để đánh.
Không biết sao mà tin tức lọt ra, người của các huyện ở trong hội trường đều nói là có một chàng trai của một nông trường không tham gia thi đấu, không phục, yêu cầu thi cùng một lúc với á quân và tam quân, hàng trăm người vây quanh chúng tôi chen chúc để xem, chúng tôi cảm thấy rằng phải có trách nhiệm, liền đứng bên cạnh Vương Nhất Sinh. Vương Nhất Sinh cúi đầu nói với hai người đó.
- Đi đi, đi đi, chói mắt quá.
Có một người bỗng chen vào nói:
- Ai cần đấu cờ? Là anh phải không? Cụ của chúng tôi lần này là quán quân, nghe nói anh không phục tài, cho tôi đến mời anh.
Vương Nhất Sinh chậm rãi nói:
- Không cần, cụ muốn đấu thì đến đây, tôi đấu cùng một lúc với ba người.
Mọi người xôn xao, ùn ùn kéo về kỳ trường. Trên phố, hàng trăm người tụ lại thành nhóm. Người đi đường trông thấy liền hỏi có chuyện gì xẩy ra, đánh nhau à? Đến khi hiểu ra liền đi theo. Đi được nửa đường, có đến hàng ngàn người tụ tập. Những người khách và người bán hàng cũng đứng dậy xem. Xe khách đường dài chạy đến đây cũng bị tắc lại, hành khách đều thò đầu ra cửa xem, chỉ trông thấy đầu người chen nhau nhấp nhô, bụi bay vù trời. Một thằng khùng nằm ngay giữa phố, ê a hát, có người kéo nó ra bên đường, thằng khùng dựa vào tường hát tiếp. Bốn năm con chó chạy qua chạy lại, tưởng người ta dẫn đi săn sói, sủa oăng oẳng.
Đến kỳ trường, có đến hàng ngàn người vây quanh. Biểu ngữ của kỳ trường đã bị kéo xuống từ lâu. Có một người đi ra trông thấy nhiều người đến thế tái mặt đi. Cước Noãn chạy đến chào ông ta, ông ta nhìn đám đông gật đầu liên tục, một lúc sau mới biết là mượn hội trường thi đấu. Vội vàng mở cửa nói:
- Được, được.
Thấy đám đông đều muốn vào xem vội mở cửa nhanh hơn. Mấy người chúng tôi lập tức chạy đến gác cổng cho Cước Noãn, Vương Nhất Sinh và hai người được giải vào. Lúc đó một người đi lại nói với chúng tôi:
- Cao thủ một lúc muốn đấu với ba người, thêm tôi, chắc không ngại, thêm tôi nữa.
- Thêm tôi nữa...
Người xem lại ồn ào, lại có người đòi tham gia nữa. Tôi không biết làm sao, đành phải đi vào hỏi Vương Nhất Sinh. Vương Nhất Sinh cắn môi rồi nói:
- Hai ông thấy thế nào?
Hai người đó vội vàng nói đồng ý. Tôi ra cửa đếm, kể cả quán quân, đối thủ tất cả là mười người. Cước Noãn nói:
- Số mười không may mắn, chín thì được.
Quán quân không thấy đến, có người đến báo rằng, đã là cờ mù thì ông ta không cần đến, chỉ lệnh cho người truyền nước cờ. Vương Nhất Sinh suy nghĩ một lúc rồi nói, thế cũng được. Chín người ở trong hội trường. Một bàn cờ ngoài tường không đủ dùng, thế là có người tìm đến 9 tờ giấy trắng, vẽ trước từng ô. Lại có người dùng giấy trắng cắt mấy trăm con cờ vuông dùng màu đen và đỏ để viết.
Người mỗi lúc một đông, người đến sau cố gắng chen lên trước, chen không nổi liền bám người khác nghe ngóng, tưởng là cáo thị giết người. Các bà mẹ ôm con cũng vây thành một nhóm. Cũng có nhiều người để xe đạp sát nhau, đứng lên yên xe vươn cổ xem, người xem chen chúc nhau kéo nhau cùng ngã cả chùm, kêu thét lên. Bọn trẻ con chui ra chui vào, bị người lớn đẩy ra. Hàng ngàn người hò hét cả phố ồn ào như sấm.
Vương Nhất Sinh ngồi vào chiếc ghế giữa hội trường, tay đặt lên đùi, đôi mắt nhìn mơ hồ, đầu và mặt dính đầy đất, giống như tử tù mà người xem đang suy đoán. Tôi bật cười rồi đi lại phủi đất cho nó. Nó nắm chặt tay tôi, tôi cảm nhận được rằng nó hơi run, Vương Nhất Sinh nói nhỏ:
- To chuyện rồi. Các cậu xem, hễ có động tĩnh cùng nhau chạy trốn.
Tôi nói:
- Không sao, chỉ cần cậu thắng, mọi việc trở nên đơn giản. Dũng cảm lên! Thế nào? Có chắc chắn không? Chín người thì ba người đứng đầu đã ở đây rồi.
Vương Nhất Sinh trầm ngâm một chút nói:
- Sợ giang hồ chứ không sợ Triều đình. Tớ đã xem qua nước cờ của những người tham gia thi đấu đợt này, nhưng không biết sáu người còn lại có tỏ ra là oan gia hay không. Túi sách cậu cầm lấy, bất kể chuyện gì, cũng không được làm mất. Trong túi sách này có...
Vương Nhất Sinh nhìn tôi:
-... Cờ không chữ của mẹ tớ để lại.
Khuôn mặt gầy ốm của nó vừa khô vừa bẩn, sống mũi cũng đen sì, tóc dựng đứng lên, hai mắt đen đến mức khiếp sợ. Tôi biết nó liều rồi, trong lòng tôi đau nhói, chỉ nói "Bảo trọng" rồi đi ra. Một mình nó ngồi trống vắng giữa hội trường, không nhìn ai, lạnh lùng như thép.
Cuộc đấu cờ bắt đầu. Hàng ngàn người đều im lặng. Chỉ có người tự nguyện phục vụ lúc vội vàng lúc khoan thai dùng lời nói để truyền nước cờ, phía ngoài người tự nguyện phục vụ di chuyển con cờ. Gió thổi mạnh làm cho tám tờ giấy kêu phần phật, con cờ lay qua lay về, người ở mấy chục hàng trước ngồi xuống, ngước đầu xem, người phía sau cũng vươn vai ngẩng đầu xem, sau đó không có ai động tĩnh gì nữa, dường như đang bị những nước cờ hút mất hồn. Trong lòng tôi bỗng dấy lên một cảm giác kỳ lạ. Những cuốn sách đã đọc nay có xưa có, như đang lần lượt hiện lên. Đến những người bình sinh tôi bội phục như Hạng Vũ, Lưu Bang đều đang ngẩn ra, đến cả những cái xác đen đủi của sĩ tốt cũng đứng dậy, di động. Một người tiều phu vác búa hát nghêu ngao. Lại bỗng nhiên mơ hồ cảm thấy mẹ của Vương Nhất Sinh dùng hai bàn tay yếu ớt đính từng trang sách.
Tôi bất giác thò tay vào túi sách của Vương Nhất Sinh, lôi cái túi nhỏ bằng vải, mở ra xem. Đó là một túi nhỏ màu xanh đã cũ, phía ngoài thêu hình con giơi đường chỉ rất tinh tế, tôi lấy một con cờ ra xem thì quả thực rất nhỏ, dưới ánh nắng mặt trời trông nó trong suốt như đôi mắt. Tôi nắm chặt trong tay.
Mặt trời đã khuất núi, nên mát mẻ hơn. Mọi người vẫn đang xem, nhưng lại bắt đầu bàn tán. Phía trong truyền ra nước cờ của Vương Nhất Sinh, người bên trong bỗng ồn ào lên. Có mấy người chuyên đi xe để truyền nước cờ cho quán quân đang ở nhà, người xem không nể nang gì, cười rộ lên.
Tôi lại bước vào, nhìn thấy dáng vẻ vui mừng của Cước Noãn, tôi cảm thấy nhẹ nhõm hơn, hỏi:
- Thế nào rồi, tớ không hiểu cờ.
Cước Noãn gãi đầu nói:
- Hay lắm! hay lắm! Thế trận này tớ chưa thấy bao giờ, cậu thử nghĩ xem, chín người tập trung đấu với một mình nó. "Chín cuộc xoay tròn, trận chiến bánh xa quay"(2). Tớ phải viết thư cho bố tớ nhờ ông ấy gửi cho nó quyển sách đánh cờ.
Lúc đó hai người từ bên bàn cờ của mình đứng bật dậy, cúi đầu lạy Vương Nhất Sinh nói:
- Xin chịu thua(3)
Xoa tay đi ra. Vương Nhất Sinh gật đầu, liếc qua vị trí của họ. Tư thế của Vương Nhất Sinh không thay đổi, vẫn là hai tay ôm đầu gối, mắt nhìn ngang dường như nhìn vào nơi nào đó rất xa, lại dường như nhìn chằm chằm vào một nơi nào đó rất gần, đôi vai gầy gò khoác chiếc áo rộng thùng thình, đất vẫn phủi chưa sạch, chỗ này một đám, chỗ kia một đám. Yết hầu lâu lâu mới nhúc nhích một chút. Tôi lần đầu tiên thừa nhận cờ tướng cũng là thể thao và giống như chạy maratông, còn gấp đôi chạy maratông. Tôi hồi còn ở trường, có tham gia chạy đường dài, sau khi chạy tám trăm mét, quả thật rất mệt, nhưng qua một độ nhất định, thì giống như không chạy theo sự điều khiển của mình nữa mà giống như máy bay không người lái. Nhưng chơi cờ tướng thì từ đầu đến cuối luôn ở trong trạng thái minh mẫn, vây bắt đối thủ, dồn đến chỗ bí không thể sơ hở một chút. Tôi bỗng lo lắng cho sức khoẻ của Vương Nhất Sinh. Mấy hôm nay, chúng tôi vì tiền bạc eo hẹp, không dám ăn, tối về lại ngủ muộn, ai ngờ có tình huống này xảy ra. Trông thấy Vương Nhất Sinh bình tĩnh ngồi đằng kia, tôi lo lắng thay cho nó, chắc nguy mất! Chúng tôi lên núi vác gỗ, hai người một cây, bất kể là đường bằng hay đường rừng, khe hay suối cũng phải cắn răng chịu đựng, chết đến nơi cũng không được thả tay. Nếu một trong hai người chịu đựng không nổi ngã xuống bản thân bị thương đã đành mà người kia cũng bị gỗ đè phun máu. Nhưng mà lần này một mình Vương Nhất Sinh phải qua đèo lội suối, chúng tôi không giúp gì được. Tôi mang ít nước nguội, nhẹ nhàng tiến gần, nó giật mình, mắt sắc như lưỡi dao, nhìn một lúc sau mới nhận ra tôi. Tôi mỉm cười, chỉ vào bát nước, nó giơ tay lấy bát nước thì có người báo nước cờ. Nó giơ cao bát nước, hồi báo nước cờ của mình rồi từ từ kề bát nước sát miệng. Lúc đó người khác lại báo nước cờ, nó kề miệng vào bát nước, hồi báo nước cờ, rồi mới nuốt "ực" một tiếng, to đến mức đáng sợ, trong mắt có ngấn lệ. Nó đưa bát, mắt nhìn tôi chằm chằm, dường như muốn nói một điều gì đó. Nước bọt chảy xuống khoé miệng làm trôi đất bám từ hàm đến cổ, hình thành một cái rãnh. Tôi lại bê nước đến cho nó, nó giơ tay ra hiệu bảo tôi hãy trở về đi.
Tôi đi ra, trời đã tối. Có những người dân ở trên núi đang đốt bó đuốc bằng cành thông, có người thì dùng đèn pin, sáng cả dãy, có lẽ là các cơ quan trong khu này hết giờ làm việc, người càng đông hơn, chó cũng ngồi trong đám người xem, nhìn người ta đang di chuyển nước cờ không biết có hiểu gì không, thấy ánh mắt buồn buồn, giống như đang lo lắng. Mấy thanh niên trí thức của mấy đội khác, đều bị người ta bao quanh hỏi dò. Một chốc lại nói: "Vương Nhất Sinh", "kỳ ngốc" (4), "Chàng thanh niên trí thức", "Cờ là cờ của Đạo gia" cứ nói qua nói lại trong đám những người xem. Tôi hơi lẩm cẩm, vốn định chạy đến nói chen vào, nhưng tôi đã kịp nén lại, thôi tùy họ bàn tán vậy, tôi mừng khấp khởi: chỉ còn lại ba cuộc cờ.
Bỗng nhiên vang lên tiếng la hét. Tôi quay đầu xem, thì ra chỉ còn lại ván cuối cùng, vừa đúng là ván với quán quân. Trên bàn cờ chỉ còn lại mấy quân cờ. Con cờ đen của Vương Nhất Sinh xa xa gần gần đứng vững trong ô cờ của đối phương. Phía sau con "tướng" đang đứng sừng sững, con "sĩ" kề bên, giống như đế vương đang nói chuyện với vệ sĩ, đợi đoàn quân đắc thắng hồi triều, lại giống như có người đang đứng lặng lẽ hầu rượu, đốt cây nến đỏ lên, có người thong thả nắn phím đàn đợi có người quỳ xuống báo tin thắng trận, chuông trống cùng vang lên. Bụng tôi cũng sôi réo, chân mỏi nhừ, liền tìm một chỗ ngồi xuống, ngẩng đầu nhìn cuộc săn cuối cùng, lo sợ có điều gì bất trắc.
Con đỏ lâu rồi không lay động, người xem không còn nhẫn nại được nữa, nhao nhao xem người truyền nước cờ đã đến chưa, tiếng chuông kính coong vang lên. Bỗng nhiên người xem nháo nhác cả lên, vội vàng tránh đường. Chỉ thấy một ông già, da đầu nhẵn bóng, có người dìu, từ từ đi đến, miệng lẩm bẩm. Cụ nhìn thật kỹ vào tám trang giấy ghi tám thế cờ tàn. Người xem kháo nhau rằng, đây là quán quân của khu lần này, là hậu duệ của một đạo sĩ, lần này xuống núi chơi cờ, không nghĩ đến chuyện đoạt giải. Cụ già bình luận về cuộc đấu cờ lần này cụ chỉ than thở là kỳ đạo đã suy. Cụ nhẹ nhàng vén áo lên, phủi bụi, ngẩng đầu, nhờ người dìu vào nơi đấu cờ. Người xem chen lấn nhau, tôi vội vàng bước vào cửa, đi theo cụ già. Chỉ thấy cụ đi tới cửa, đứng lặng rồi đi vào.
Vương Nhất Sinh ngồi cô đơn chính giữa căn phòng, giương mắt nhìn chúng tôi, hai tay đặt trên đầu gối, sừng sững như cây cột sắt, tựa hồ không nghe, tựa hồ không thấy gì hết. Ngọn đèn trên cao chiếu xuống khuôn mặt nó, đôi mắt sâu thẳm đen nhánh như cúi nhìn thế giới bao la, mênh mông vũ trụ.
Mọi người lặng im, không một tiếng động. Bên ngoài đã báo tin từ lâu, trước mắt lại là một linh hồn gầy đen đang ngồi tĩnh lặng. Đám đông nín thở.
Hồi lâu, cụ già ho lên một tiếng, âm hưởng rất vang, dội khắp kỳ trường. Vương Nhất Sinh bỗng thu tầm mắt, phát hiện ra đám đông, khẽ cựa mình nhưng không nhúc nhích nổi. Cụ già đẩy người dìu mình ra, lê chân về trước mấy bước rồi đứng im, hai bàn tay úp vào nhau để trước ngực xoa xoa, nói một cách rành rọt:
- Hậu sinh, già này sức yếu không thể tự mình đi vào trận đấu, mới nhờ người báo nước cờ, thật không phải. Cháu mới ngần ấy tuổi đã đạt đến chốn cao diệu của đạo cờ, dung hợp được đạo gia với thiền học, thần cơ diệu toán, mới ra quân đã có thế, ra quân sau mà chế thắng được đối thủ, khí quán âm dương, nho tướng xưa nay cũng chỉ như thế thôi. Già này may mắn được thử sức với con, quả là vinh hạnh, đạo cờ của Trung Hoa tương lai sẽ không bị mai một, già xin được cùng con kết bạn vong niên, ván cờ này của lão đánh được đến đây; coi như là trận giao hữu; không biết con có bằng lòng cho lão thủ hòa gọi là giữ cho lão chút thể diện?
Vương Nhất Sinh lại cựa mình nhưng không thể nhúc nhích được. Tôi và Cước Noãn vội vàng chạy đến xốc nách dìu nó đứng dậy. Đôi chân nó vẫn giữ tư thế ngồi, không duỗi ra được, lơ lửng giữa khoảng không. Tôi cũng cảm thấy tay mình bủn rủn, liền ra hiệu cho Cước Noãn đặt Vương Nhất Sinh ngồi xuống, rồi véo vào hai chân nó. Mọi người chen vào, cụ già lắc đầu than thở. Cước Noãn lấy tay phải dồn hết sức véo vào người, vào mặt, vào cổ Vương Nhất Sinh. Một lúc sau người nó mềm ra, tựa vào tay chúng tôi, yết hầu nhúc nhích, từ từ mở miệng ra, mấp máy, nói không ra tiếng, hồi lâu mới ầm ừ thốt ra:
- Hòa vậy...
Cụ già cảm động nói:
- Đêm nay hay là con nghỉ ở nhà với già này? Dưỡng sức vài hôm, rồi chúng ta bàn về cờ?
Vương Nhất Sinh lắc đầu, nhẹ nhàng nói: "Không đâu, cháu còn có bạn, cùng lên đây, thôi để tụi cháu nghỉ với nhau. Nào tụi mình về cung văn hóa, ở đó còn có người bạn nữa". Chàng họa sĩ lẫn trong đám người xem hét to lên:
- Về thôi, về chỗ tớ, tớ đã chuẩn bị bữa ăn rồi, tất cả cùng đi nào. Quả thật không đơn giản chút nào.
Người xem từ từ đưa chúng tôi đi ra, một vòng đuốc chiếu sáng rực. Dân vùng núi và người ở khu vực này lớp lớp vây quanh, chăm chăm nhìn phong thái của Kỳ Vương, gật đầu thán phục.
Tôi dìu Vương Nhất Sinh đi từ từ, ánh đuốc, ánh đèn chiếu mãi theo chúng tôi. Hồi còn nhỏ tôi đã từng xem qua bức tranh: "Dạ tuần" của họa sĩ Rembơrăng người Hà Lan, giờ cảm giác như đúng cái cảnh này.
Bước vào cung văn hóa đến phòng chàng họa sĩ, mặc dù đã có người khuyên người xem di tản bớt nhưng ngoài cửa sổ vẫn đứng đầy người, chàng họa sĩ hoảng hốt phải lấy một số bức tranh cất đi.
Người xem dần dần về hết, Vương Nhất Sinh còn có cảm giác tê mỏi. Tôi bỗng nhớ ra trong tay trái của mình còn cầm con cờ đó, liền ngả tay cho Vương Nhất Sinh xem. Vương Nhất Sinh ngẩn ngơ nhìn như không nhận ra, nhưng cổ họng bỗng "hộc" lên một tiếng, nhổ ra một chút đờm, nước mắt trào ra, rồi khóc òa lên:  "Mẹ, con trai hôm nay... mẹ..." chúng tôi xót xa, quét dọn nền nhà, bê nước uống đến, an ủi nó. Vương Nhất Sinh đã khóc được nên dần dần hồi tỉnh lại, rồi cùng ăn cơm với chúng tôi. Chàng họa sĩ say mềm nên cũng chẳng để ý đến chúng tôi, một mình ngả lưng xuống giường gỗ ngủ lăn. Người thọ điện dẫn chúng tôi, Cước Noãn cùng đến sân khấu hội trường ngủ.
Trời tối đen, xòe tay không thấy ngón. Vương Nhất Sinh đã ngủ say như chết. Tôi dường như vẫn nghe thấy tiếng hò reo bên tai, trước mắt như thấy những bó đuốc sáng rực, người dân núi vai vác gỗ đi trong rừng, hát í ới. Tôi mỉm cười, nghĩ: không trải qua cuộc sống dân dã thì làm sao biết được những thú vị này? Gia phá nhân vong, ngày ngày vác cuốc, cuộc sống lại thực sự là ở đó, quen rồi lại cảm thấy là hạnh là phúc. Từ khi có loài người, ý thức ăn mặc vẫn là cái gốc, thế là ngày nào cũng lao lực vì nó. Nhưng bị trói chặt trong đó thì không còn giống người nữa. Dần dần cảm thấy mệt mỏi, rồi kéo phông sân khấu đắp, ngủ thiếp đi.
(Tuyển từ "Kỳ Vương" nhà xuất bản Tác gia - 1985)
NGUYỄN THỊ BÍCH HẢI – VÕ THỊ MAI HOA dịch
(nguồn: TCSH số 164 - 10 - 2002)

----------------------------
(1) Một tên khác của Cước Noãn, tên thật.
(2) Nguyên văn: "Cửu cục liên hoàn, xa luân đại chiến"
(3) Nguyên văn: " Cam bái hạ phong"
(4) "Kỳ ngốc": nghĩa là người say cờ

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • KITA MORIO (Nhật Bản)Kita Morio (sinh năm 1927) là nhà văn thuộc thế hệ hậu chiến của Nhật Bản. Tốt nghiệp Đại học Y. Năm 1960 được trao giải thưởng mang tên Akutagawa với truyện ngắn Trong bóng tối đêm, cốt truyện xảy ra trong một bệnh viện tâm thần ở Đức thời kì Chiến Tranh Thế Giới thứ II. Nổi tiếng với các tác phẩm giả tưởng khoa học và chống chiến tranh.

  • SINCLAIR LEWISLGT: SINCLAIR LEWIS (1885 - 1951, giải thưởng Nobel 1930)Ông là tiểu thuyết gia, người viết truyện ngắn có tiếng và nhà viết phê bình có uy tín ở Mỹ.

  • BRUNO LESSINGLGT: Bruno Lessing (1870-1940) sinh tại New York, Mỹ. Tên thật của ông là Rudolp Block nhưng ông nổi tiếng với tư cách là nhà văn chuyên viết truyện ngắn dưới bút danh Bruno Lessing. Ông là phóng viên và sau đó là biên tập viên cho nhiều tờ báo. Mô tả của Lessing về cuộc sống của người Do Thái ở New York được đánh giá cao. Truyện dưới đây được dẫn dắt một cách hấp dẫn, lý thú, làm nổi bật mối quan hệ giữa hai thế hệ: cha và con, vấn đề nhập cư, đồng hóa hay giữ bản sắc văn hóa với một giọng điệu dí dỏm.

  • JUAN JOSÉ ARREOLA (Sinh 1918, Nhà văn Mêhicô)LGT: Arreola là một nhà cách tân lớn về truyện kể. Là một người tự học tài năng, ông sở đắc một nền văn hoá rộng lớn, cũng như trải qua nhiều nghề khác nhau để kiếm sống. Arreola chủ yếu sáng tác những truyện kể ngắn, cô đúc, mỉa mai, hay bí ẩn, ưa thích cái nghịch lý và ông là một trong những bậc thầy của hình thức truyện ngắn này. Ba tuyển tập truyện ngắn của ông là Varia Invencion (1049), Confabulario (1952), Confabulario Définitivo (1087).

  • KAWABATA YASUNARI LGT: KAWABATA YASUNARI (1899 - 1972) là nhà văn đầu tiên của Nhật Bản đoạt giải thưởng Nobel văn chương (1968). Ông nổi tiếng thế giới với những tiểu thuyết như: Xứ Tuyết (1935 - 1947), Ngàn cánh hạc (1949), Tiếng rền của núi (1950), Người đẹp say ngủ (1961), Cố đô (1962)...

  • MATVEEVA ANNALGT: MATVEEVA ANNA (Sinh 1975) là một nhà văn nữ trẻ của văn học Nga đương đại tài năng đầy hứa hẹn. Đã xuất bản một số tập truyện ngắn. Truyện ngắn của cô đã được đăng trong các tạp chí lớn của Nga như Thế giới mới, Tháng Mười. Văn xuôi của cô hóm hỉnh, thể hiện sự tò mò sắc sảo trước cuộc sống và con người. Tác phẩm của cô được xem như thể hiện một số sắc thái và đặc điểm của văn xuôi hậu hiện đại Nga hiện nay. Xin trân trọng giới thiệu truyện ngắn “Con chó” dưới đây của nữ văn sĩ qua bản dịch của nữ dịch giả Đào Tuấn Ảnh.

  • YVELINE FÉRAYLTS: Monsieur le paresseux là cuốn tiểu thuyết lịch sử dày gần 300 trang của nữ văn sỹ Pháp Yveline Féray viết về Đại danh y Việt Nam Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác, do Nhà xuất bản Robert Laffont ở Paris ấn hành năm 2000. Trước đó, năm 1989 nữ văn sỹ này đã cho xuất bản ở Pháp cuốn tiểu thuyết dày 1000 trang Dix mille printemps, viết về Nguyễn Trãi - nhà chính trị, quân sự lỗi lạc; nhà thơ lớn của Việt Nam ở thế kỷ XV.

  • MARSEL SALIMOV (LB NGA)Đất nước ta quá giàu! Vì thế tôi nảy ra ý định muốn cuỗm một thứ gì đó. Những tên kẻ cắp ngày nay chả giống như trước đây. Chúng không thèm để mắt đến những thứ lặt vặt. Cả một đoàn tàu bỗng dưng biến mất tăm! Những nhà máy không thể di dời được, thế nhưng người ta lại nghĩ ra kế chiếm đoạt chúng. Nghe đồn nay mai người ta sẽ bắt đầu chia chác cả đất lẫn nước!

  • AKILE CAMPANILE(Nhà văn Italia)LTS: Số Tết này, TCSH chọn một truyện ngắn hài hước của một nhà văn Ý, có nhan đề “Ngón nghề kinh doanh”, qua bản dịch của dịch giả nổi tiếng Lê Sơn, để bạn đọc có dịp thư giãn trong dịp đầu Xuân.

  • HERMANN HESSE Tương truyền thi nhân người Tàu tên Han Fook thuở thiếu thời chỉ thao thức với một khát khao kỳ diệu là muốn học hết mọi điều và tự rèn luyện mình đến hoàn hảo trong tất cả các môn liên quan đến nghệ thuật thi ca.

  • OLGA TOKARCZUK (Nữ nhà văn Ba Lan)LGT: Nữ văn sĩ Ba Lan Olga Tokarczuk sinh năm 1962 tại Sulechow, Ba Lan. Bà là nhà văn “hậu hiện đại” và “nữ quyền”. Năm 1979  những truyện ngắn đầu tay của bà được đăng tải trên Tạp chí Thanh niên, năm 1989 những bài thơ đầu tay được in trong các tạp chí “Rađa” và “Đời sống văn học”.

  • NADINE GORDIMER ( Phi), Giải Nobel 1991LGT: Nữ văn sĩ Nadine Gordimer sinh năm 1923 tại Phi. Bà cho in truyện ngắn đầu tay năm 15 tuổi và tiếp tục nghề văn khi còn là sinh viên Đại học Wirwatersrand. Có thời kỳ sách của bà bị chế độ phân biệt chủng tộc Phi cấm đoán. N.Gordimer được trao tặng nhiều giải thưởng văn học, trong đó có giải Nobel văn chương năm 1991.

  • OLGA TOKARCZUKLGT: Trong số tháng 3 – 2007 (217), Sông Hương đã giới thiệu tới bạn đọc truyện ngắn “Người đàn bà xấu nhất hành tinh” của OLGA TOKARCZUK, một nữ văn sĩ thuộc dòng văn học nữ “hậu hiện đại Ba Lan”. Số báo này, Sông Hương xin giới thiệu tiếp truyện ngắn “Vũ nữ”. Đây là một truyện ngắn độc đáo dựa trên một leimotic “cuộc đối thoại vô hình” giữa người con gái và người cha, láy đi láy lại đến 6 lần, thể hiện cuộc chiến đấu âm thầm dữ dội, tự khẳng định mình trong nghệ thuật, chống lại sức mạnh ám ảnh của mặc cảm “bất tài”.

  • BERNARD MALAMUDLGT: Bernard Malamud sinh năm 1914 tại Brooklyn, New York, lớn lên trong thời kỳ Đại Khủng hoảng Kinh tế, là người Nga gốc Do Thái trong một gia đình bán tạp hoá. Ông đã xuất bản nhiều tiểu thuyết, truyện ngắn và được nhận nhiều giải thưởng văn học.

  • RADOI RALIN (Bungari)LGT: Đây là một truyện có ý vị sâu xa với các môtíp sự cám dỗ của quyền lực, “sự đồng loã ngây thơ” với tội ác, sự tự nhận thức và tự trừng phạt. Nhưng trên hết là sự vạch trần và tố cáo sự bịp bợm quỷ kế của giới quyền lực. Đây là một truyện ngụ ngôn mới đặc sắc. Xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc.

  • ZACE HAMMERTON (Anh quốc)LGT: Truyện dựng chân dung của một kẻ “Sính khiếu nại” “một cách hài hước, bố của John Peters có “Thú đam mê sưu tập tem”. Cách dẫn chuyện tài tình ở cái chi tiết sự ham mê của anh với một loại tem đặc biệt không đục lỗ chiếu ứng với cái kết bất ngờ của truyện “Có của rơi vào tay mà để vuột mất”. Mời bạn đọc thưởng thức.

  • TOIVO TOOTSEN ( )LGT: Đây là một truyện hài hước thú vị về nạn kẹt xe. Tác giả đã sử dụng một thủ pháp phóng đại đến mức vô lý, không tưởng: một vụ kẹt xe bất tận từ đám cưới đến sinh con, ly dị, tái kết hôn, con vào đại học và kết hôn mà cuộc kẹt xe vẫn chưa kết thúc!. Mượn một tình huống kẹt xe “hoang tưởng” này, nhà văn muốn gởi tới một thông điệp hài hước một cách bi đát: nếu giao thông ở các đô thị lớn không ở các đô thị lớn không được tổ chức một cách khoa học thì từ đời cha đến đời con nạn kẹt xe vẫn chưa được giải quyết.                                                                                                                 TSCH

  • JAMES JOYCELGT: James Joyce (1882 - 1941) là một trong những khuôn mặt lớn nhất của văn xuôi Anh - Ailen và châu Âu thế kỷ XX. Ông “là nhân vật trung tâm của văn xuôi hiện đại”, một trong những nhà văn có ảnh hưởng lớn nhất, gây phản ứng mạnh nhất, “một trong những thần tượng của thời đại” đối với văn nghệ sĩ trẻ và giới trí thức châu Âu đương thời.

  • ROBERT SWINDELLS (ANH)Nếu thế giới này bằng phẳng và nếu bạn có thể nhìn thẳng vào mặt trời đang mọc, bạn sẽ nhìn thấy miền đất nơi Nick và Bruin sinh sống. Nơi ban ngày ẩm nhoẹt còn ban đêm thì ngột ngạt ghê người, nơi mặt trời lên như kẻ thù và gió như muốn bốc cháy.

  • ALEXANDER VAMPILOV (NGA)Nikolai Nikolaevich Smirnov tin chắc là ông không sống được đến mùa xuân sang năm.