Và nơi đây hoàng hôn yên tĩnh

09:06 12/02/2018

NGUYÊN HƯƠNG

Từ trung tâm thành phố, chạy thêm 25km về hướng Đông Nam sẽ gặp xã Phú Hải (thuộc huyện Phú Vang) gồm 4 ngôi làng tên Cự Lại: Cự Lại Đông, Cự Lại Bắc, Cự Lại Trung và Cự Lại Nam (dân làng thường gọi chung là Cự Lại). Những ngôi làng này nằm kề sát nhau, có chiều dài khoảng 2km, trải dọc ven biển và phá Tam Giang.

Làng Cự Lại nhìn từ đầm phá

Nghe người làng kể lại, Cự Lại có tên nôm là làng Trài, do ngài bổn Thổ Tiền Phan Quý Công và các vị Thủy tổ thuộc nhiều dòng họ khai hoang lập ấp từ cách đây hơn 400 năm. Dấu ấn các hiền nhân khai canh còn in rất rõ ở nơi này qua những ngôi Từ đường của các dòng họ và bia đá ghi khắc cả trăm năm. Đặc biệt, con cháu dòng họ Phan ở ngôi làng này chiếm số lượng nhân khẩu đáng kể, làm đủ các nghề từ trí thức đến lao động bình dân như làm mắm ruốc, làm nông nghiệp, đi biển, chạy chợ...

Trong sương mờ hiện ra, những chiếc lu vại trên khoảng sân rộng chừng 100 mét vuông của một gia đình ở thôn Cự Lại Trung mà tôi bất chợt nhìn thấy đã khiến tôi nghĩ ngay đến nghề làm mắm ruốc nổi tiếng ở xứ này. Mùi thơm của tôm cá bốc lên trong nắng mai, không câu nệ khoảng sân rộng hay hẹp mà chủ yếu là tấm lòng của người làm mắm. Qua nhiều dâu bể đổi thay, nghề làm mắm ruốc ở Cự Lại đã được thay bằng công nghệ mới cho năng suất và lợi nhuận cao hơn nhưng nhiều gia đình vẫn giữ nguyên cách làm thủ công truyền thống. Tôm, cá được giã tay, ủ muối và mang chưng cất cho đậm vị.

Lu mắm trong làng


Cùng với hoa giấy Thanh Tiên, tranh dân gian làng Sình, rượu gạo làng Chuồn thì mắm ruốc Cự Lại được xếp vào danh mục những nét văn hóa bản địa đặc trưng của huyện Phú Vang nói riêng và tỉnh Thừa Thiên Huế nói chung. Mắm ruốc vừa chín tới, mùi thơm còn nguyên ở đáy lu sẽ được mệ già bới ra làm nước chấm cho món cá nục cuốn bánh tráng. Mệ bảo, dù chân yếu tay mềm rồi nhưng vẫn gắng làm mắm ruốc để khi nào đám con cháu ở Mỹ về thăm nhà còn có ăn vì “tụi hắn không chịu ăn mắm đi mua nhà khác mà phải do chính tay tui mần”.

Gió thổi về từ biển, mang theo dư vị của mặn mòi trùng khơi. Làng nhỏ, nối đuôi nhau chạy một mạch xuyên suốt từ Thuận An về phía đi ra cửa Tư Hiền. Những giậu thưa phơi đầy quần áo không một chỗ trống, chắc do bị để lại từ những ngày mưa vừa qua. Hoa giấy rơi ngập con hẻm nhỏ, tiếng đài radio xen lẫn trong tiếng dạ thưa của học trò chào người lớn trước giờ tới lớp.

Đợt trước, bão số 4 Sonca gây mưa lớn khiến con đường dẫn vào xóm nhỏ bị lụt đến nay vẫn còn nguyên vết bùn lầy đã khô cong. Người già nói bọn trẻ tan học buổi chiều phải xắn quần dắt xe lội bì bõm qua chỗ lụt để về nhà. Chúng cười đùa rả rích chứ không rầu rĩ như người lớn, vì thật ra cảm giác được lội nước mưa với đám bạn cũng vui lắm chứ. Con nít chứ có phải người lớn đâu mà lo lắng về hàng chợ hôm nay.

Thấy tôi rón rén đứng trước ngõ, mệ cố vẫy tay vào. Mệ đang ngồi bào rau môn để bán cho mấy hàng cơm hến. Mệ đã 82 tuổi, ở một mình không có con cái, mỗi khi trái gió trở trời cái lưng lại đau nhức nhối nên làm không được việc. Mệ bảo, bưa lắm cô ơi, tối ni mệ nhịn đói rồi. Tôi bảo, rứa mà bữa ni con tính đến ăn chực nhà mệ đây. Mệ cười khà khà, tội hỉ. Nói rồi mệ châm thuốc hút ngon lành.

Xóm mệ ở hầu hết là dân vạn đò, buôn thúng bán mẹt, cuộc sống còn nhiều cơ cực. Mấy hàng tạp hóa con con được dựng lên từ tre nứa và mấy tấm tôn, phải những ngày mưa bão là bị làm cho rời rạc. Lá tre rụng xuống đầy cửa, thi thoảng lại có con chuột chạy quanh kiếm chỗ thoát thân. Thế mà vui lắm, mệ bảo, xóm ni không có mấy hàng tạp hóa tạm bợ này là buồn lắm cô ơi, như ngày ni họ đóng cửa, nhà mô mà hết gói muối là mệt đó...

Chiều đến, cả xóm lao xao tiếng trẻ nhỏ vui đùa. Phụ nữ lúi húi trong bếp lo cơm nước củi lả, đàn ông tranh thủ chèo thuyền thả tay lưới mong bắt được đàn cá mới theo dòng nước lên. Người chồng vừa đi thuyền về, được một mớ cá ngon lắm. Cá đuối vừa bắt xong, vẫn còn giẫy đành đạch. Chị vợ nói với đứa con, tối ni nhà có món cá đuối nướng rồi.

Xóm nhỏ ấy có nhiều đối cực với vẻ mộng mơ trữ tình dễ bề tìm thấy, với những mảnh rời bé mọn, thiếu thốn được phơi ra. Thỉnh thoảng còn có cả những câu hát lạc nhịp của thợ thuyền những ngày rớt bão khều khào, không biết bấu víu nơi đâu để tối nay đàn con no bụng. Đôi mắt than van những nỗi lo mưu sinh, nắng mưa chi mà khắc nghiệt, đến nỗi tiếng thở dài cũng thành xa xỉ. Nhìn dáng mệ còm cõi trong chiếc áo cánh mỏng dính, tôi cảm giác như một màu xanh nào đó cũng lo toan chỗ phơi mình dưới nắng, nhan sắc nào rồi cũng phải cũ đi. Mỏng mảnh và âu lo, trong mưa dầm nắng cháy, cây tre nhỏ dướn mình ra bãi đất bạc màu khánh kiệt, đặng tìm ra một chỗ cắm rễ sâu.

Đi thêm mấy bước vào sâu trong ngõ, ngửi thấy mùi nhang khói đốt lên. Chạng vạng rồi, mưa vẫn rơi nặng hạt, tiếng lanh canh chén đũa vang lên những sinh khí ấm cúng của xóm nhỏ ven sông. Bởi biết rằng, dẫu trời có làm mưa thêm nhiều ngày nữa thì cuộc sống vẫn phải tiếp tục như thường.

*

Mưa rả rích mấy ngày nay. Trong tiếng rền của sấm, thấy hơi thở mùa thu đang đến rất gần. Ngày thứ 2 ở Cự Lại, tôi rảo bước quanh ngôi làng ven biển này đặng tìm kiếm một điều gì mà chưa thể gọi được tên. Gặp chợ, lòng tở mở một nỗi vui không giấu diếm vì bất kể khi đi đến một vùng đất nào, chợ là nơi mà tôi muốn ghé nhất. Vì chợ phản ánh rõ ràng diện mạo cuộc sống con người sở tại. Đến đó, không hẳn để bán mua trao đổi mà đơn giản chỉ để ngắm nhìn và ngửi mùi tanh của tôm cá vừa đánh bắt xong.

Chợ Cự Lại nằm ở vị trí trung tâm con đường kéo dài 2km thuộc 4 thôn, được xây dựng từ năm 1998 - 1 năm trước khi trận lụt lịch sử diễn ra ở Huế và một số tỉnh ven biển miền Trung năm 1999. Trận lụt năm ấy, chợ bị hư hại nghiêm trọng. Đến nay đã gần 20 năm, chợ là trung tâm trao đổi hàng hóa của cả xã Phú Hải với sự đa dạng các mặt hàng nhưng ấn tượng nhất vẫn là những con cá tươi còn giãy đành đạch.

Còn đang lượn quanh chưa biết mua gì thì gặp một o đang chọn mua hạt đậu xanh, thêm bước nữa thấy o mua cá trê vàng. Đây là loại cá nước ngọt, được thương lái buôn về từ chợ đầu mối. Tôi tò mò quá, không biết o sẽ nấu món gì với những nguyên liệu ấy, đánh liều tới gần hỏi, sau mấy giây nhìn tôi suy nghĩ, o nói: “Cô có ngại không, về nhà tui ăn cho biết”. Được lời như cởi tấm lòng, tôi theo o về nhà ở Cự Lại Nam không chút ngại ngần.

Đó là một ngôi nhà trong hẻm, nhìn ra đầm phá mênh mông. O là con gái Thành Nội, lấy chồng và sinh sống ở đây đã hơn 30 năm rồi. Xuống bếp, o đang làm cá, rồi lọc hạt đậu xanh. Xong hai bước ấy, thấy o mang ra một bọc củ sen già. O nói, phải có củ sen già mới ra món này, không thì quá vô vị. Thì ra món ăn độc đáo đó chính là cá trê vàng hầm củ sen già - món ăn mà tôi đã được nghe cô giáo tôi nói đến một lần. Đây là món ăn giúp giải nhiệt và rất bổ dưỡng chỉ có ở mùa thu xứ Huế, vì đây là mùa sen đã già củ. Một món ăn phổ biến từ thuở xưa nhưng ngày nay ít người biết, thì hôm nay, chính tại ngôi làng ven biển này tôi lại được một o con gái xuất thân từ Thành Nội nấu cho ăn. Diễm phúc ấy khiến tôi vừa ngỡ ngàng như một giấc mộng cỏn con, vừa cảm động vì tấm lòng cởi mở của con người tại nơi này.

Tạm biệt người phụ nữ trong hẻm ấy, tôi nhận ra cốt cách của một người phụ nữ Huế xưa qua lời nói dáng điệu và cách bài trí món ăn truyền thống, dẫu có ở đâu vẫn không hề bị mai một. Nhìn theo bóng áo màu mận chín ấy chìm dần vào cuối hẻm, tôi tự nhủ sẽ còn tìm lại nơi này vì lòng còn giữ lại một lời cảm tạ chưa nói ra.

Chiều đến chậm chạp và trễ nải. Nắng nhạt dần, trú ngụ màu vàng mỏng manh của mình trên từng đụn cát, mui thuyền ở rìa biển. Phía xa, hàng dương đang reo trên đồi, chốc chốc lại có những cành cây khô gãy kêu lắc rắc. Đang mùa mưa bão nên nhiều chiếc thuyền nằm im trên bờ, tranh thủ nghỉ ngơi để ra khơi mùa mới. Ngoài bờ giậu, những người phụ nữ vừa khâu lại tấm lưới vừa nói chuyện rôm rả. Thấy tôi giơ máy chụp hình, một người nói: “Chụp đi rồi gửi qua bên Mỹ hí” rồi nở nụ cười chất phác. Qua tìm hiểu mới biết, ngôi làng này có rất nhiều người đi Mỹ làm ăn sinh sống, trung bình cứ 3 nhà thì lại có 1 nhà có người đi Mỹ nên trong suy nghĩ của họ, Mỹ là một khái niệm rất quen thuộc.

Xế chiều, mặt trời bắt đầu võng xuống khu đất nghĩa trang Cự Lại. Phải thú thật rằng, hệ thống bia mộ và Từ đường ở đây được xây dựng rất khang trang, rộng rãi. Tuy không thể sánh với sự bề thế ở “thành phố lăng” An Bằng nhưng sự cầu kỳ, uy nghi của hệ thống tôn giáo - tín ngưỡng ở Cự Lại cũng đủ cho thấy nét đặc biệt trong tổng thể kiến trúc làng xã của một vùng đất ven chân sóng. Nhà cửa người dân có thể không cao sang nhưng lăng mộ, Từ đường lại rất tráng lệ - một phần do tinh thần đề cao tín ngưỡng của dân làng, phần khác do nguồn tiền hỗ trợ của các Việt kiều gửi về góp phần xây cất nơi yên nghỉ tươm tất cho dòng họ.

Rời mắt khỏi khu nghĩa trang, tôi nhìn sang khu đầm phá mênh mông trước mặt. Một hoàng hôn trong vắt, bình yên lạ lùng hiện ra. Đã 5 giờ chiều mà trên không vẫn có những tảng mây xanh ngắt, đổ bóng xuống mặt nước dưới lòng đầm. Một đàn trâu nối đuôi nhau tìm về nhà sau khi đã no bụng như nói hộ một chút dấu ấn nông nghiệp ở ngôi làng ven biển này. Khung cảnh miền quê yên lặng đến lạ, không có tiếng tàu thuyền, không có tiếng xe cộ chạy ngang. Chỉ có gió và nắng cuối ngày ở lại.

Tôi bỗng nhớ Antoine de Saint-Exupéry - tác giả của cuốn Hoàng tử bé đã bảo rằng: “Trong tất cả những khoảng thời gian của ngày, khoảnh khắc khó khăn nhất chính là lúc mặt trời lặn”. Nhưng chẳng hiểu sao tôi luôn thích khoảnh khắc đó nhất. Hoàng hôn và vẻ u huyền của ráng chiều tạo cảm giác cô đơn ngưng đọng vĩnh hằng nhất. Vì rực rỡ nào cũng qua nhanh, chỉ có tàn phai càng về cuối càng đẹp mãi.

Và trong ráng chiều làng chài hôm ấy, một hoàng hôn yên tĩnh ở lại, để nguyên vẹn là mình đón bình minh rạng sáng hôm sau.

N.H  
(SHSDB27/12-2017)


 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • LTS: Đại Học Huế đang ở tuổi 50, một tuổi đời còn ngắn ngủi so với các Đại học lớn của thế giới. Nhưng so với các Đại học trong nước, Đại Học Huế lại có tuổi sánh vai với các Đại học lớn của Việt như ở Hà Nội và TP Hồ Chí Minh. Trên hành trình phát triển của mình, Đại Học Huế đã góp phần không nhỏ vào sự phát triển kinh tế, giáo dục, văn hoá ở miền Trung, Tây Nguyên, đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao cho khu vực và cả nước. Nhân dịp kỷ niệm này, TCSH phân công ông Bửu Nam, biên tập viên tạp chí, trao đổi và trò chuyện với PGS.TS. Nguyễn Văn Toàn, Giám đốc Đại Học Huế. Trân trọng giới thiệu với bạn đọc cuộc trò chuyện này.

  • VÕ ĐẮC KHÔICó một thời người Huế loay hoay đi vỡ núi, phá rừng trồng khoai sắn. Có một thời người Huế tìm cách mở cảng nước sâu để vươn ra biển lớn, hay đón những con tàu viễn xứ xa xôi. Cả nước, các tỉnh thành láng giềng như Quảng Bình, Quảng Trị, Đà Nẵng cũng đều ra sức làm như thế, sao ta có thể ngồi yên?

  • TRẦN ĐÌNH SƠNĐất Việt là cái nôi sinh trưởng của cây trà và người Việt biết dùng trà làm thức uống thông thường, lễ phẩm cúng tế, dâng tặng, ban thưởng từ hàng ngàn năm nay.

  • NGUYỄN XUÂN HOÀNGTừng là đất Kẻ Chợ – kinh đô triều Nguyễn xưa, ẩm thực Huế dựa trên nền tảng triết lý của cái đẹp, món ăn món uống phải ngon nhưng nhất thiết phải đẹp, vị phải đi với mỹ, thiếu mỹ thì không còn vị nữa.

  • TRƯƠNG THỊ CÚCTrong vô vàn những bài thơ viết về Huế, hai câu thơ của Phan Huyền Thư dễ làm chúng ta giật mình:Muốn thì thầm vuốt ve Huế thật khẽLại sợ chạm vào nơi nhạy cảm của cơ thể Việt Nam                                                                    (Huế)

  • FRED MARCHANT(*)                                                                                      Trong chuyến viếng thăm Huế lần thứ hai vào năm 1997, tôi làm một bài thơ đã đăng trong tập thứ hai của tôi, Thuyền đầy trăng (Full Moon Boat). Bối cảnh bài thơ là một địa điểm khảo cổ nổi danh ở Huế. Có thể nói là bài thơ này thực sự ra đời (dù lúc đó tôi không biết) khi nhà thơ Võ Quê đề nghị với tôi và các bạn trong đoàn ghé thăm Đàn Nam Giao trước khi đi ăn tối ở một quán ăn sau Hoàng Thành bên kia sông Hương.

  • TRẦN KIÊM ĐOÀNDu khách là người trong mắt nhìn và qua cảm nhận của chính người đó.

  • TRƯƠNG THỊ CÚCTừ buổi hồng hoang của lịch sử, hình ảnh ban đầu của xứ Huế chỉ thấp thoáng ẩn hiện qua mấy trang huyền sử của đất nước Trung Hoa cổ đại. Tài liệu thư tịch cổ của Trung Quốc đã kể lại từ năm Mậu Thân đời vua Đường Nghiêu (2353 năm trước Công nguyên), xứ Việt Thường ở phương Nam đã đến hiến tặng vua Nghiêu con rùa thần từng sống qua ngàn năm tuổi.

  • HỒ ĐĂNG THANH NGỌCCó một hiện tượng lịch sử lý thú, ở những nơi khác vốn dĩ bình thường  nhưng ở Huế theo tôi là rất đặc biệt, đó là tại mảnh đất này sau hơn ba mươi năm ngày đất nước thống nhất, đã hình thành một thế hệ nữ doanh nhân thành đạt giữa chốn thương trường.

  • MINH TÂMTôi nghe bà con bán tôm ở chợ Bến Ngự kháo nhau: Dân nuôi tôm phá Tam Giang đã xây miếu thờ “Ông tổ nghề” của mình gần chục năm rồi. Nghe nói miếu thờ thiêng lắm, nên bà con suốt ngày hương khói, cả những người nuôi tôm ở tận Phú Lộc, dân buôn tôm ở Huế cũng lặn lội vượt Phá Tam Giang lễ bái tổ nghề.

  • PHẠM THỊ ANH NGA"Hiểu biết những người khác không chỉ đơn giản là một con đường có thể dẫn đến hiểu biết bản thân: nó là con đường duy nhất" (Tzvetan Todorov)

  • TRẦN ĐỨC ANH SƠNSau hơn 1,5 thế kỷ được các chúa Nguyễn chọn làm thủ phủ của Đàng Trong, đến cuối thế kỷ XVIII, Huế trở thành kinh đô vương triều Tây Sơn (1788 - 1801) và sau đó là kinh đô của vương triều Nguyễn (1802 - 1945).

  • TRƯƠNG THỊ CÚC Sông Hương là một trong những nét đẹp tiêu biểu của thiên nhiên xứ Huế. Sông là hợp lưu của hai nguồn Hữu Trạch, Tả Trạch, chảy qua vùng đá hoa cương cuồn cuộn ghềnh thác, đổ dốc từ độ cao 900 mét đầu nguồn Hữu trạch, 600 mét đầu nguồn Tả trạch, vượt 55 ghềnh thác của nguồn hữu, 14 ghềnh thác của nguồn tả, chảy qua nhiều vùng địa chất, uốn mình theo núi đồi trùng điệp của Trường Sơn để gặp nhau ở ngã ba Bàng Lãng, êm ả đi vào thành phố, hợp lưu với sông Bồ ở Ngã Ba Sình và dồn nước về phá Tam Giang, đổ ra cửa biển Thuận An.

  • Chúng ta biết rằng trong thời đại ngày nay, khi đầu tư xây dựng những cơ sở nhằm đáp ứng nhu cầu cao của người đi du lịch, văn hóa ẩm thực được xem như là cánh cửa đầu tiên được mở ra để thu hút du khách.

  • Chúng tôi đi thăm đầm chim Quảng Thái, theo ông Trần Giải, Phó chủ tịch huyện Quảng Điền.

  • I. Chúng tôi xin tạm hiểu như sau về văn hóa Huế. Đó là văn hóa Đại Việt vững bền ở Thăng Long và Đàng Ngoài chuyển vào Thuận Hóa - Phú Xuân.

  • Thúng mủng Bao La đem ra đựng bột. Chiếu Bình Định tốt lắm ai ơi. Tạm tiền mua lấy vài đôi. Dành khi hiếu sự trải côi giường Lào.

  • LTS: Tiến sĩ Nguyễn Thuyết Phong hiện đang dạy tại trường đại học Kent State thuộc tiểu bang Ohio, . Đây là một trong những bài trích ra từ cuốn Hồi ký âm nhạc, gồm những bài viết về kinh nghiệm bản thân cùng cảm tưởng trong suốt quá trình đi đó đây, lên núi xuống biển, từ Bắc chí Nam của ông để sưu tầm về nhạc dân tộc. Được sự đồng ý của tác giả, TCSH xin trân trọng giới thiệu cùng độc giả.

  • Từ sau ngày giải phóng đến nay, tôi chưa một lần gặp lại Anh hùng Vai và Anh hùng Kan Lịch. Về Huế hoài nhưng lên A Lưới lại không đủ giờ và không dễ dàng gì. Những năm trước, đường về A Lưới còn chật hẹp, lổm chổm đất đá, lại hay sạt lở... đi về rất khó khăn và phải mất vài ngày. Đến Huế vào mùa khô thì lại ít thời giờ. Về Huế dịp mùa mưa thì đường về A Lưới luôn tắc nghẽn.

  • Tế lễ, giỗ chạp, cúng kỵ gắn với người Huế rất sâu. Hình như nhạc lễ cổ truyền xứ Huế cũng hình thành từ đó. Món ăn Huế được chăm chút, gọt tỉa để trở thành một thứ nghệ thuật ẩm thực cũng từ đó. Màu sắc, mẫu mã của nhiều loại trang phục Huế cũng từ đó mà được hoàn chỉnh, nâng cao. Cả những phong cách sinh hoạt nói năng, thưa gởi, đứng ngồi, mời trà, rót rượu... đầy ý tứ của vùng đất nầy cũng đi từ những buổi cúng giỗ đượm mùi hương trầm.