Tạo tác và sử dụng mặt nạ là nét văn hóa vẫn sống động ở vùng Eo biển Torres của Australia. Những kiến thức lịch sử chứa đựng bên trong khiến chúng được mang đi trưng bày khắp thế giới. Nhưng điều đáng nói còn là câu chuyện ứng xử với truyền thống nơi đây.
Các hoạt động giúp người dân hiểu và trân trọng văn hóa bản địa được tổ chức thường xuyên tại Australia
“Vết nứt trên mặt nạ”
Một ngày, Ephraim Bani - người dân vùng Eo biển Torres - quyết định đi thăm các bảo tàng trưng bày cổ vật quê mình, và nhận ra có rất nhiều cổ vật mà những người như ông chưa bao giờ thấy. “Đây là nơi mà sự thông thái của cha ông chúng tôi bị chôn vùi”, Ephraim Bani nghĩ, nhìn những cổ vật thiêng liêng của tổ tiên nằm im lìm trên đất khách quê người. Ông đã yêu cầu nhiều bảo tàng trả lại người dân vùng Eo biển Torres những chiếc mặt nạ và cổ vật khác để kiến thức cổ xưa được truyền lại và văn hóa có thể hồi sinh tại cộng đồng. Ephraim khẳng định tầm quan trọng trong tâm linh khi người dân quê hương ông được tiếp cận trực tiếp với những chiếc mặt nạ cổ xưa.
Từ xa xưa, những chiếc mặt nạ ấy đã gắn liền với đời sống ở vùng Eo biển Torres, được làm thủ công bằng vật liệu tự nhiên như mai rùa, sợi thừng, vỏ sò và sáp ong hoang dã... Một số mặt nạ trong thực hành tín ngưỡng còn có phần lông phía trên, tượng trưng cho sự kết nối với phần lục địa của Australia, một số có hình bò biển là loài cung cấp nguồn thức ăn cho cư dân… Bởi vậy, mỗi chiếc mặt nạ đều chứa đựng những câu chuyện mà người dân vùng Eo biển Torres tin rằng đó là cách họ kết nối với linh hồn tổ tiên và học hỏi từ quá khứ. Trước khi người Anh đặt chân đến, không có chữ viết nên đây là cách duy nhất để truyền thụ kiến thức qua các đời. Trong lễ hội, lễ thờ cúng, người đại diện cộng đồng sẽ đeo mặt nạ và nói lại lời dạy của tổ tiên.
“Những vết nứt trên mặt nạ” - bộ phim tài liệu đầu tiên khám phá truyền thống linh thiêng của người dân vùng Eo biển Torres, cũng là hành trình Ephraim Bani từ quê hương tới một số bảo tàng ở châu Âu. Mọi chuyện bắt đầu từ thế kỷ XIX, khi những nhà thám hiểm và truyền giáo châu Âu sưu tầm mặt nạ của vùng này, sau đưa vào bảo tàng trưng bày như tác phẩm nghệ thuật. Thay vì được quảng bá, điều này tạo ra những “lỗ hổng” trong tiếp nối truyền thống. Trong khi các nghi lễ vẫn được thực hiện để tái hiện các sự kiện lịch sử quan trọng tại vùng Eo biển Torres, kỹ năng và kỹ thuật cần thiết để làm mặt nạ đã bị mất đi theo thời gian.
Tôn trọng truyền thống bản địa
Thực tế có nhiều người như Ephraim Bani nhìn thấy những “vết nứt trên mặt nạ” với nỗi lo có ngày giá trị của chúng bị nhìn nhận sai bởi những chú giải chỉ mang tính bề ngoài. Phục hưng nghệ thuật, văn hóa này để truyền thống luôn được tiếp nối. Chỉ khi mặt nạ cổ không bị tách rời đời sống thì thế hệ sau mới được tiếp nhận lời dạy của tổ tiên. Các nền văn hóa khác hoàn toàn có quyền chiêm ngưỡng, tìm hiểu những chiếc mặt nạ vùng Eo biển Torres, nhưng quan trọng là những chiếc mặt nạ thật nên được ở lại nơi chúng ra đời.
Thông điệp này được nhấn mạnh tại trưng bày “Hồi sinh: Mặt nạ vùng Eo biển Torres” đang diễn ra tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam. 13 chiếc mặt nạ trang trí độc đáo mang tới câu chuyện về nghi lễ tâm linh của cư dân bản địa và việc tạo tác mặt nạ ngày nay… Hơn nữa, chúng còn mang tới câu chuyện ứng xử với truyền thống bản địa tại Australia. Theo đó, trưng bày không xuất hiện mặt nạ thật mà chỉ là ảnh chụp chất lượng cao kèm chú giải. Suốt 3 năm qua, những hình ảnh số hóa này đã thực hiện sứ mệnh quảng bá tại nhiều quốc gia và bản thân người dân Australia cũng chiêm ngưỡng mặt nạ vùng Eo biển Torres dưới hình thức ấy.
Theo Đại sứ Australia tại Việt Nam Craig Chittick, đó là cách Australia giới thiệu đặc sắc mà vẫn thể hiện sự tôn trọng cư dân bản địa, đồng thời bảo đảm văn hóa bản địa không chịu bất kỳ ảnh hưởng nào. Những chiếc mặt nạ gắn liền với tâm linh và có đời sống riêng nên việc tách chúng ra khỏi cộng đồng là điều Chính phủ Australia không khuyến khích. Tất nhiên không chỉ với cách này đã có thể yên tâm truyền thống sẽ được giữ gìn. Không ít nền văn hóa của các nhóm cộng đồng đang đối mặt nguy cơ mất bản sắc nảy sinh từ chính đời sống của họ.
Australia có các bộ lạc, thổ dân, nhóm cộng đồng khác nhau và phần lớn có mức sống thấp hơn so với mặt bằng chung. Để bảo đảm thời gian và điều kiện duy trì nền văn hóa rất cần hỗ trợ kinh tế. Đại sứ Craig Chittick cho biết, nhận thức như vậy, Chính phủ Australia đã đề ra chiến lược về giảm thiểu khác biệt giữa cuộc sống của người thổ dân với người dân hiện đại của Australia, thông qua không chỉ y tế, giáo dục mà còn hỗ trợ họ duy trì văn hóa của mình. “Một điều rất quan trọng là chúng tôi giúp người dân Australia hiểu và trân trọng nền văn hóa bản địa. Ngoài trưng bày lưu động, những chương trình đào tạo, cung cấp kiến thức về sự đa dạng cũng như sự cần thiết phải tôn trọng văn hóa bản địa, là hoạt động thường xuyên. Qua đó, giúp các nền văn hóa được giữ gìn một cách dễ dàng”.
Theo Thái Minh - ĐBND
Theo định hướng phát triển hiện nay, Huế sẽ là đô thị trung tâm, đô thị hạt nhân giữ vai trò động lực cho Thành phố trực thuộc Trung ương trong tương lai.
Thuở xưa, mỗi làng có một hương ước, nhiều làng có hương ước thành văn nhưng cũng có làng có hương ước bất thành văn.
Khi nhắc đến xứ sở Phù Tang, điều đầu tiên thế giới nghĩ đến là một Nhật Bản thần kỳ, giàu mạnh về kinh tế và điều thứ hai chắc chắn sẽ là sự đối mặt thường xuyên với thảm họa thiên tai.
“Có động đất ở Nhật Bản!” Tôi đang loay hoay xếp lại chồng sách vở ngổn ngang trên bàn thì nghe chồng tôi, giáo sư Michimi Munarushi người Nhật mới về Việt Nam 3 hôm trước báo.
Không có một vùng đất thứ hai nào trên dải đất hình chữ S của Việt Nam có vị trí hết sức đặc biệt như Huế. Nơi đây, từ 1306, bước chân Huyền Trân xuống thuyền mở đầu cho kỷ nguyên mở nước về Nam, Thuận Hóa thành nơi biên trấn.
I. Đặt vấn đề 1.1. Năm 1945, sau khi nhà Nguyễn cáo chung, một số giá trị văn hóa phi vật thể của Huế không còn giữ được môi trường diễn xướng nguyên thủy, nhưng những gì nó vốn có vẫn là minh chứng độc đáo về sự sáng tạo văn hóa của dân tộc Việt Nam.
Đưa Thừa Thiên Huế trở thành thành phố trực thuộc Trung ương trong vài năm tới đã trở thành quyết tâm chính trị của cán bộ đảng viên và nhân dân Thừa Thiên Huế.
Thăng Long - Hà Nội, thủ đô, trái tim của cả nước, qua ngàn năm phát triển, đã trở thành biểu tượng của nền văn hiến Việt Nam, là niềm tự hào của cả dân tộc.
Sau khi phục dựng thành công lễ tế Nam Giao và lễ tế Xã Tắc trong những năm qua, thiết nghĩ việc tái hiện lễ tế Âm Hồn 23.5 ở quy mô thành phố/ tỉnh là một việc làm có ý nghĩa trong việc bảo tồn bản sắc văn hóa và quảng bá du lịch của thành phố Huế chúng ta.
Thừa Thiên Huế - vùng đất chiến lược nối giữa hai miền Bắc - Nam từng là “phên dậu thứ tư về phương Nam” của Đại Việt, nơi “đô hội lớn của một phương”; từng là thủ phủ của xứ Đàng Trong, kinh đô của đất nước dưới thời Quang Trung - Nguyễn Huệ và triều Nguyễn (1802 - 1945); là miền đất địa linh nhân kiệt gắn liền với những tên tuổi lớn trong hành trình lịch sử của dân tộc, của ngàn năm Thăng Long...
Đưa Thừa Thiên Huế trở thành thành phố trực thuộc trung ương trong vài năm tới theo tinh thần kết luận số 48 của Bộ Chính trị đã mở ra một mốc mới mang tính lịch sử. Với kết luận này, đặt ra nhiệm vụ cho Huế phải trở thành trung tâm của khu vực miền Trung và là một trong những trung tâm lớn, đặc sắc của cả nước về văn hóa, du lịch, khoa học công nghệ, y tế chuyên sâu và giáo dục đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực.
Ôn cố để tri tân, Festival Huế 2010 là lần tổ chức thứ VI. Qua 6 lần tổ chức, nhìn lại những ngày liên hoan văn hóa Việt Pháp (1992) do thành phố Huế phối hợp với Codev tổ chức, anh chị em văn nghệ sĩ Huế lúc bấy giờ phấn khích lắm vì đây là cơ hội tiếp xúc với thế giới dù chỉ mới có một nước Pháp. Họ thấy cần có trách nhiệm phải tham mưu để xây dựng chương trình cũng như chủ động tham gia hoạt động trong lĩnh vực của mình.
Như thường lệ, hàng năm Hội LHVHNT Thừa Thiên Huế tiến hành xét tặng thưởng cho các tác phẩm, công trình văn học nghệ thuật xuất sắc.
Chúng ta đã đi hết gần chặng đường 10 năm đầu của thiên niên kỷ mới. Thời đại chúng ta đang sống là thời đại mà sự phát triển song hành giữa cơ hội và thách thức đan xen.
(Thừa Thiên Huế trên tiến trình xây dựng thành phố trực thuộc Trung ương)
Những năm cuối cùng của thế kỷ XX, cùng với thành tựu của công cuộc đổi mới diễn ra sôi động trên đất nước Việt Nam, sức sống của vùng văn hoá Huế sau những năm dài tưởng chừng đã ngủ yên chợt bừng dậy và lấp lánh tỏa sáng.
Thơ không thể tách rời đời sống con người. Điều đó đã được thời gian minh chứng. Từ lời hát ru của mẹ, những giọng hò trên miền sông nước,… đã đánh thức tình yêu thương trong mỗi chúng ta.
Gần đây, khi Đảng ta chứng tỏ sự quan tâm của mình đối với đội ngũ trí thức thì trong dư luận cũng đã kịp thời có những phản ứng cộng hưởng. Điều mà chúng tôi lĩnh hội được gồm 3 câu hỏi tưởng chừng như "biết rồi khổ lắm nói mãi" nhưng lại không hẳn thế. Nó vẫn mới, vẫn nóng hổi vì sự tuyệt đối của qui luật vận động cũng như vì tính cập nhật, tính ứng dụng của đời sống. Chúng tôi xin được nêu ra và cùng bàn, cùng trao đổi cả 3 vấn đề.
Trí thức là những người mà lao động hàng ngày của họ là lao động trí óc, sản phẩm của họ làm ra là những sản phẩm trí tuệ, nhưng sản phẩm ấy phải là những sản phẩm có ích cho xã hội...
Ở Huế ngày xưa, người học trò nào cũng có một “Tủ sách Học trò” riêng tư cho mình và nhà nào cũng có một “Tủ sách Gia đình” để dùng chung trong nhà. Người Huế rất trọng học vấn, rất trọng sự hiểu biết nên rất trọng sách. Vì vậy, họ cất sách rất kỹ. Họ thường cất sách để làm kỷ niệm riêng tư cho mình về sau đã đành mà họ còn cất sách để dành cho đám đàn em con cháu của họ trong gia đình, dùng mà học sau nầy. Người Huế nào cũng đều cùng một suy nghĩ là ở đời, muốn vươn lên cao thì phải học và đã học thì phải cần sách. Đối với họ, sách quý là vậy. Lễ giáo Khổng Mạnh xưa cũng đã đòi hỏi mỗi người Huế thấy tờ giấy nào rớt dưới đất mà có viết chữ Hán “bên trên” là phải cúi xuống lượm lên để cất giữ “kẻo tội Trời”! Người xưa cũng như họ, không muốn thấy chữ nghĩa của Thánh hiền bị chà đạp dưới chân.