Trên sân ga mù sương

15:21 17/07/2020

HỒ ĐĂNG THANH NGỌC

Hôm ấy là một hôm trời đặc biệt mù sương, khói sương như những tảng bông tan loãng và ẩm ướt, rây rây bụi trong không gian.

Minh họa: Nguyễn Thiện Đức

Song dù có mù sương, dù có không nhìn thấy mặt nhau như thế nào, các sinh vật sống trên thế giới vẫn tiến hành các cuộc mua bán thường lệ. “Có thể không ăn sáng nhưng chúng tôi vẫn tiến hành các giao dịch thông thường” - Vẹt Xám, biên tập viên Hãng tin Sân Ga thông báo trên trang mạng nhà được phát trên một màn hình led dán ở bức tường lớn ngay giữa sân ga. Các sinh vật tiến hành các phiên giao dịch sôi động, hoặc vô tư, hoặc thủ đoạn, toan tính. Người ta giao dịch bán mua đủ thứ ở sân ga đó: kẻ bán xôi đậu, khoai lang, thức ăn nhanh (...), tài nguyên, rừng, xăng dầu, vũ khí, thuyền bè... và dĩ nhiên là có cả cà phê.

Ông lão Điền tuổi trên bảy mươi nói  “Cho  ông  một  li  cà  phê  không đường”.  Cô  cháu  gái  Jeny  Duyến nhìn  ông:  “Ông  chờ  một  chốc  nữa nhé,  trong  phiên  giao  dịch  đầu  tiên ông  sẽ  được  mời  cà  phê  mà”.  Lão Điền ngước mắt lên không, ông tìm đỉnh cao tòa nhà building có đến cả hàng  trăm  nghìn  tầng  nhưng  không thấy gì ngoài màn sương trắng đục, tất nhiên là càng không thể thấy tách cà phê sóng sánh mà ông đang cần trong một buổi sáng như thế này và thở dài.

Jeny Duyến trong trang phục quần jean áo pull mở nút ngực điệu đà, chân mang giày thể thao và chiếc ba lô nhỏ đeo sau lưng gọn gàng, đi như bước nhảy hoàn vũ đến trước quầy lễ tân. Gã nhân viên có cái miệng rất to, đôi tay rất dài xả cả luồng khói thuốc vào mặt cô gái như một động cơ xe máy hở pittong: “Cần gì cô em?”. Jeny Duyến cười, khẽ cúi người một chút, cái cổ áo trễ tràng một chút. Quả nhiên mắt của gã mở to gấp ba và chiếu 45 độ xuống khuôn ngực đầy đặn của cô gái, tai gã bị một giọng ngọt như đường chọc thủng: “Anh cho em hai vé lên phòng 8876 của tầng 88972 anh nhé”. Con mắt lồi không rời khuôn ngực, đôi tay dài xé ngay hai chiếc vé, và cái mồm rộng ỡm ờ: “Chúc may mắn nhé, em có thể để lại số điện thoại không?”. Jeny Duyến hào phóng một nụ cười bạch kim: “Lòng tốt sẽ được đền đáp mà” và bỏ đi, miệng chu lại: “Một con đười ươi put (mập) sao!?”

Hai ông cháu vào thang máy và ngồi xuống bên cửa kính nhìn ra sông. “Cháu quên mất là phải lấy cà phê vào đây uống, thời gian mất khoảng hai mươi phút đó ông”. “Ông biết mà, đã bảo lại không nghe”. Ông dán mắt vào cửa kính cố tìm một cái gì đó bên ngoài, nhưng sương vẫn không tan, trắng đục như sữa.

Ông cố của lão Điền tên là Lúa, đã mất một trăm năm trước, trối trăn cho lão bốn điều, trong đó điều thứ nhất: “Ở phía Nam, ta có một người bạn gái, năm nào vào ngày này tháng này cũng tặng ta một món quà, sau này không còn ta hay bà ấy nữa, con cháu họ vẫn sẽ gửi, cháu gắng đi nhận”. Ông tưởng tượng ra cảnh tượng ông cố Lúa, trên một chiếc thuyền đánh cá ọp ẹp. Năm nào đó ông ra khơi câu và một con cá kình lớn đã kéo ông và chiếc cần câu tri kỷ xuống phía Nam, dạt vào hòn đảo mà những cô gái da ngăm ngăm không bao giờ dứt nụ cười trên môi. Con cá ông bắt được là con cá lớn nhất mọi thời đại, khiến bao cô gái ở đó bị khuất phục. Ông đắm say và ở lại đến mười năm mới trở về bản quán. Inkilabana, người tình lãng mạn của ông, từ đó năm nào cũng gửi tặng cho ông một món quà.

Thang máy dừng, cửa mở. Hai ông cháu lên một chiếc xe điện chờ sẵn và Jeny Duyến bấm số 8876, gần như lập tức, xe đến ngay trước cửa phòng. Một con thỏ như là thỏ bông trắng tinh xuất hiện, giọng vui vẻ: “Mời quý khách vào”. Cửa mở, một con chim xanh ngồi sau chiếc bàn giấy cúi rạp người: “Kính chào quý vị!” và khoác cánh chỉ vào hai chiếc ghế đặt sẵn. Hai ly nước được đặt trên bàn. Ông lão Điền nhăn mặt: “Không có cà phê sao?”. Chim Xanh cười, đôi mắt tròn thiệt là tròn dịu dàng: “Ông thông cảm nhé, thời gian giao dịch quá ngắn, không đủ để uống một tách cà phê”. “Chúng tôi có gì?” - Jeny Duyến hỏi: “Một chiếc lông chim trĩ”. Jeny cau mày “Tệ đến thế sao”. Ngày trước chim trĩ hiếm, nhưng sau này, khi thế giới đã nhân bản được, nó không còn quý nữa. Nhưng ông lão Điền thì rất vui: “À lông chim trĩ, nhà ta chưa có, cám ơn. Chúng tôi sẽ gửi thư cám ơn cho họ sau”, ông lão Điền nói, “Cám ơn cô Chím Xanh nhiều, chúng tôi đi đây, không dám làm mất thì giờ của cô”.

Họ lại lên xe điện và cô gái ấn số 0008 để đến phòng lễ tân, chuẩn bị lên tầng khác. “Ông có cần một ly cà phê không?”. “Có lẽ không, giao dịch sẽ rất nhanh và chúng ta sẽ uống cà phê ở nhà, được không?” Cô cháu gái gật đầu. Họ lên phòng 99883. Một con gà trống khoác cái mào đỏ chói rộng vành trông rất chảnh mời họ vào. Một chàng trai lịch thiệp nhã nhặn mời cả hai ông cháu ngồi và thông báo: “Hôm nay có một tình yêu gửi đến quý vị, một chiếc bánh chocolate, và một bài thơ”. “Hay quá”, ông lão Điền reo lên. Jeny Duyến im lặng. Ông lão nói cho cả hai cùng nghe: “Ngày xưa, có một lần người ta tuyển thợ kỹ nghệ, ông cố Lúa của tôi lên tàu sang phía Tây. Ở đó, đôi tay tài hoa của ông khiến rất nhiều cô gái mê mệt, trong đó có Jenny Usara. Đến khi ông cố Lúa của tôi quay về, Jenny Usara không chịu nổi, cắt mái tóc vàng huyễn hoặc trao cho ông và bảo đến một trăm nghìn năm sau, vẫn sẽ có quà tình yêu gửi về xứ sở của ông. Chàng  trai  lịch  thiệp:  “Chúc  mừng hai ông cháu, xin chúc may mắn”. Jeny Duyến xin phép mở quà. Đó là một chiếc bánh sô cô la vừa phải, nhưng độ tinh xảo thì quá hoàn hảo. Phía trên chiếc bánh, đôi gà tây đang khiêu vũ, và từ chiếc bánh, giai điệu của bài dân ca Pháp Frère Jacques (Kìa con bướm vàng) vang lên. Mắt ông lão Điền rơm rớm. Jeny Duyến thì ngây ngất nhìn và cô nhìn chàng trai: “Cám ơn anh”.

“Có lẽ ông cần một tách cà phê ngay bây giờ cháu gái ạ”, “Vâng, ta sẽ dùng cà phê ở quầy lễ tân”. Cô nắm chặt tay ông lão. “Không biết ngày xưa sao mà tình yêu lại thiêng liêng đến thế?”, Jeny Duyến hỏi giữa trống không. Khi cà phê được đem đến, ông lão Điền nhấp một ngụm thỏa mãn và nhìn cháu gái: “Biết vì sao thiêng liêng không? Là vì họ biết sống cho tình yêu”.

Tầng 56374. Món quà từ phía đông. Người cha của ông cố Lúa ngày xưa trong một trận thủy chiến, cứu công chúa vương quốc Đông Jagha, được vua vời làm phò mã, ông xin phép được chối từ bởi có người vợ hiền đang mong chờ ở quê nhà. Công chúa Đông Jasha cảm kích tấm lòng son sắt thủy chung, lưu ông lại mấy hôm và tình yêu của họ nảy nở. Đến khi ông quay về, nàng cởi dải yếm tặng ông, như một dấu thề. Hai ông cháu vào phòng 56012. Hai nàng Thanh Xà, Bạch Xà cực kỳ lộng lẫy mời họ ngồi. Ghế quả nhiên là hết sức thú vị, bởi đó là những con rùa. Thấy ông lão ngần ngại, con rùa nghểnh cổ lên: “Quý khách cứ ngồi đi, lương của tôi ở đây rất cao”. Câu nói khiến ông lão Điền phì cười và thoải mái ngồi lên con rùa. Thanh Xà bảo: “Món quà của ông lần này là một chiếc vỏ ốc”. Một chiếc vỏ ốc từ biển phía đông đẹp đến mê hồn. Nó ánh lên những vũ điệu tình yêu. Nó lung linh những âu yếm và dát lên mắt người xem những lời tình tự. Ông lão cầm chiếc vỏ ốc đưa lên miệng thổi, một không gian lập tức ngập chìm trong giai điệu cổ xưa, đầy tiếng lạu phất phơ và đường gươm múa linh động và nghiêm cẩn, trung tín... Jeny Duyến ngồi thừ người, có lẽ tương lai ta sẽ sang phía Đông du lịch xem có gì ở đó mà bí ẩn vậy, cô tự nhủ.

Hai ông cháu đến tầng 77777 để nhận món quà cuối cùng, từ phía Bắc. Những chặng lên xuống thang máy, đi xe điện và những cảm xúc dâng trào khi nhận quà đã khiến họ mệt. Ông lão ngồi uống chai bia và Jeny Duyến gọi cho mình một chanh rum. Ông lão nhìn ra cửa kính và cảm thấy lạ bởi đã xế trưa rồi mà sương vẫn không tan, vẫn vần vũ như những tảng bông loãng phía bên ngoài. Có tiếng ồn ào trong quầy căn tin. Bấy giờ ông lão mới nhận ra tiếng ồn thoát ra từ bàn bên cạnh, nơi một số thanh niên đang tụ tập uống rượu. À, hôm nay là ngày chủ nhật, ngày họ có thể uống rượu từ sáng đến chiều. Hình như cuộc rượu cũng chỉ mới bắt đầu. Một người trong họ tuyên bố, cứ mỗi chuyến tàu qua là toàn bàn uống hết một li. Cả bàn vỗ tay hoan hô nhất trí. Ông lão nhìn họ vừa cảm thông vừa âu lo. Ngày xưa ông cũng có những cuộc rượu bất tử như thế, uống mà không biết mình sẽ đi tới đâu, để làm gì, chỉ biết uống cho say chết bỏ, cho chứng tỏ ta đây tửu lượng kinh người, cũng để giải bày cái gì đó, hay để như thế nào đó, không cần biết, chỉ biết uống càng nhiều càng tốt, thế thôi. Ông chợt lo khi một chàng  trai  đang  liếc  nhìn  cháu  gái ông. Ông biết Jeny Duyến rất mê chơi và uống rượu rất được. Ông lo vậy và biết mình lo hão, ngày xưa của ông rồi cũng qua đó thôi.

Ông nhìn ra cửa, sương vẫn trắng như bông...

Ông quay lại, Jeny đã bỏ đi đâu mất rồi. Ông hoảng hốt rồi nhận ra Jeny đã lớn. Nó có đi theo lũ con trai uống rượu thì cũng chịu nó chớ sao. Thôi thì tự mình đi nhận quà một mình vậy. Ông đến phòng 7701, bước vào và khép cửa lại. “Anh khóa cửa giùm em với” - một bóng ma hồ ly tinh xinh đẹp hiện ra mỉm cười quyến rũ ông. Bất giác ông cũng khóa cửa như một phản xạ tuân lời. Phòng không có bàn ghế, chỉ có một chiếc giường kê kín đáo trong phòng. “Hôm nay em chỉ có anh là khách thôi, ngoài ra không còn ai khác. Chủ nhật anh à, thoải mái đi”. Ông lão lúng túng, tay chân run rẩy. “Em có thuốc cho anh đấy, anh uống nước đi”. Bóng ma ảo huyền xinh đẹp vừa nói vừa bưng ly đưa lên miệng ông, khuôn ngực áp chặt vào người ông. Ông vừa dằn lòng từ chối nhưng tay ông vẫn theo tay cô gái ma mị, miệng ông vẫn uống nước thuốc của cô gái. Và ông thấy tự nhiên mọi nỗi sợ hãi tan biến, ông trở lại là chàng trai hai mươi.

Ông mơ thấy một tráng sỹ bị giải đến trước một chiếc bàn lớn có rất đông quân lính ngồi quanh. Trên bàn có một chiếc đầu lâu đặt trên chiếc dĩa có một cây dao gác sẵn. Bên cạnh có một bình rượu bốc mùi thơm phức. Đám đông quân lính bu quanh và nói: “Này tráng sỹ, xem tráng sỹ có gan lớn đến chừng nào?”. Chúng nói rồi cười hô hố. Tiếng cười của chúng tắt hơi im bặt bởi tráng sỹ bỗng ngửa mặt cười lớn: “Một bữa nhậu thịt đầu lâu, mơ đã lâu nay mới toại nguyện, cám ơn lòng tốt của quý vị”. Tráng sỹ cầm lấy dao cắt một cái tai, uống bát rượu lớn. Tráng sỹ uống đến đâu, đám đông bu quanh vỡ mật chết đến đó. Rồi tráng sỹ bước vào trong, cứu cô gái ra khỏi vòng vây: “Nàng cầm cây dao này và chạy thoát đi, ta sẽ chặn quân giặc tham lam cho nàng”. Quân giặc vây lại, và những nhát dao cứa vào tráng sỹ làm cho ông đau đớn...

Ông quả nhiên đã đau đớn và kiệt sức. Gần như ông đã bị vắt đến kiệt sức, bóng ma hồ ly ngồi dậy, vắt sỗ sàng sợi quần mỏng lên mặt ông.

Ông ra khỏi phòng với món quà trên tay mà không kịp nghe hay nói một tiếng gì.

Món quà trên tay ông là một cây dao cổ.

Ông gọi Jeny Duyến ơi...

Khi ông ra đến sân ga, trời vẫn mù mịt sương.

Ông tuyệt vọng ngồi xuống. Ông đang nghĩ đến chuyện khi ông giã từ cõi đời này, ai sẽ thay ông đi nhận các món quà?

Bỗng nhiên điện thoại của ông bíp bíp. Tin nhắn của Jeny Duyến. Không biết cô gái nhắn gì mà ông lão Điền nở nụ cười trong sương.

H.Đ.T.N
(TCSH377/07-2020)

 

 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • NGUYỄN NGỌC LỢITối đó bản Phiệt có buổi liên hoan văn nghệ. Cơm chiều xong Tản đưa tôi vào đó chơi. Chúng tôi đang chuẩn bị đi thì một cô đang dẹp đám cuốc xẻng trong góc lán nói vọng ra. Anh Tản mà đưa anh ấy đi thì có mà... Anh ấy đẹp trai, gái bản theo hết, mất phần đấy... Tản cười, cho theo bớt chứ một mình tôi... mệt lắm.

  • LÊ NGUYÊN NGỮTrong bối cảnh rạt rào gió bấc và nắng trải vàng như mật bên ngoài báo hiệu Tết sắp vê, con ngựa cũng đứng dạng bốn chân như lắng nghe câu chuyện đầy hoài niệm mà Tư Gồng bắt đầu kể tôi nghe. Giản dị vì đây là câu chuyện về chính nó, Tư Gồng trước kia đã lần khân hẹn khất với tôi chờ đến Tết Con Ngựa. Mà lúc này thì đã là cuối tháng chạp rồi.

  • NGUYỄN QUANG LẬPChiều ba mươi tết, Quỳ đạp xích lô ra ga, tính đón khách chuyến tàu vét rồi gửi xích lô, bắt xe đò về quê. Vừa vào sân ga, tàu chưa về đã có khách gọi, may thế. Khách là một trung niên mặt rỗ, quần bò áo thun, kính đen gọng vàng.

  • ĐỖ KIM CUÔNG1... Cho đến lúc sực tỉnh, tôi mới nhận ra con đường ra cánh đồng tôm và những vườn dừa dưới chân núi Đồng Bò.

  • HỒNG NHU Xóm phố nằm trên một khu đất trước đây là một dẫy đồi nghe nói vốn là nơi mồ mả dày đặc, phần lớn là mồ vô chủ không biết từ bao đời nay; và cũng chẳng biết nơi nào có nơi nào không, bởi vì gần như tất cả mồ mả ở đó đều đã bị thời gian mưa gió bào mòn, chẳng còn nấm ngôi gì cả.

  • TRẦN HẠ THÁP1*Gã nằm xuống thoải mái. Cảm giác mát lạnh của ghế đá còn rịn hơi sương buổi sớm thu giúp gã chợp mắt ngay. Công viên thành phố không chỉ là bạn đời của những ai không nhà, các tên chích choác, kẻ sống ngoài vòng luật pháp... Đây cũng là nơi khá thân quen đối với người như gã. Ít ra đã hơn bốn tháng qua, từ khi gã rời một khách sạn năm sao trong thành phố.

  • THÁI KIM LAN"Làm sao biết từng nỗi đời riêngĐể yêu thương yêu cho nồng nàn”                              Trịnh Công Sơn

  • THÁI KIM LAN(tiếp theo)

  • NGUYỄN ĐẶNG MỪNGLGT: Cuộc sống cứ lao về phía trước, song những tâm hồn đa cảm thì lại hay ngoảnh nhìn về phía sau. Nước nhảy lên bờ là ánh nhìn về những ngày đã qua giữa một vùng quê bình yên của “đêm trước đổi mới”. Một bức tranh quê sống động, dung dị song ngổn ngang những cảnh đời, những cảnh tình mà chúng ta không được phép quên, bởi tư duy đổi mới của đất nước hãy còn tiếp diễn...

  • VĨNH NGUYÊNNgô - bạn tôi rủ tôi về làng Chẻ.Đến thành phố H.H., tôi mượn chiếc xe máy của một người quen. Tôi chở Ngô về làng An Hải Trung.

  • I. Nàng là nhân vật chính của vở kịch. Vở kịch đang diễn ra. Những chủ đề về tình yêu và hôn nhân, về ước mơ và sự thật, về hoài vọng và định mệnh, về sinh ly và tử biệt, v.v và v.v... đan chéo và quyện chặt vào nhau, tạo nên một trường nghĩa lơ mơ lan man đầy ảo dị mà qua đó, những nhân vật còn lại cứ tông tốc xoay xỏa quanh một nhân vật trung tâm đang chơi trò mê hoặc: nhân vật chính.

  • Đó là lần thứ mười Malio quay về góc phố ấy. Phố hẹp, những căn nhà mặt tiền nhấp nhô, khách sạn lấp lánh đèn chen cửa hàng tơ lụa, phòng tranh sơn mài phương Đông sát với những quán cà phê nho nhỏ bài trí kiểu Tây phương...

  • Năm 1966 thầy Phan Linh dạy Toán lớp 7A tại trường cấp II xã Phúc Giang. Đó là năm chiến tranh phá hoại rất ác liệt. Máy bay Mỹ cứ nhằm những tụ điểm đông người thả bom. Học sinh đến trường phải đội mũ rơm. Để tránh bom đạn trường Phúc Giang phải sơ tán về các làng, các xóm học tạm. Lớp 7A của Phan Linh sơ tán về làng Mai.

  • Gió từ đại dương lồng lộng thổi qua cửa sông, qua bãi cát trắng xoá rồi vỗ đập vào những tàu lá dài ngoằng của loài dừa nước, oà vỡ những thanh âm xạc xào.

  • Đúng sáu năm tôi không trở lại thành phố ấy dẫu rằng trong lòng tôi luôn luôn có một nỗi ham muốn trở lại, dù trong sáu năm tôi giấu kín trong lòng mình điều đó, chôn thật sâu trong suy nghĩ của mình, chẳng hề nói ra.

  • Chúng tôi tìm được địa điểm chốt quân khá lý tưởng. Đấy là chiếc hang đá ở lưng triền núi; hang cao rộng vừa lõm sâu vào vách núi. Cửa hang được chắn bởi tảng đá khổng lồ, rất kiên cố; dù máy bay Mỹ có phát hiện thấy cửa hang mà phóng rốc két, đánh bom tấn thì người ở trong hang vẫn chẳng hề gì! B52 có rải thảm bom thì lại càng không ăn thua.

  • Sau khi dọn bàn ghế xong, bà Lan chọn chiếc bàn kê sát ngoài cửa ngồi trang điểm. Từ ngày mở quán, bà đâm ra có thói quen ngồi trang điểm như thế, vừa tiện việc mời chào khách, vừa có đủ ánh sáng đầu ngày.

  • Chiếc váy của Tuyl Cleng va quệt không ngớt vào mấy vạt cỏ hai bên vệ đường. Những chỉ hoa văn ở riềm váy trông như hai cánh tay chạy như bay xuống đồi. Cuốn vở học trên tay cô nhịp nhàng lên xuống như chiếc quạt diễn viên múa. Mùa xuân sắp đến, trời đất như rộng rinh thêm. Những con chim trao trảo, chèo bẻo, ta li eo... cũng hót vang bên rặng rừng, vui lây theo nỗi vui của Tuyl Cleng.

  • Ven Hồ Gươm ở phía lề đường bên phải, cách chân tượng vua Lê Thái Tổ ước ngoài trăm mét, luôn có một bồ đoàn. Bồ đoàn là chừng dăm tấm thảm Tầu rải sàn nhập lậu từ các tỉnh phía Bắc được các gia đình Hà Nội trung lưu ưa dùng.

  • 1Sau lần đi gặt thuê cho đồng bào dân tộc ở Vĩnh Thạnh về, tôi bị trận sốt rét nặng. Dai dẳng trở đi trở lại gần ba tháng mới khỏi. Những ngày sau đó, trong người thấy cứ nôn nao, bứt rứt.