THANH THẢO
Thì cũng là chuyện lang thang cơ nhỡ thôi, nhưng đây là lang thang vào một tạp chí văn học, và cơ nhỡ “gửi” một ít bài thơ của mình.
Nhà thơ Thanh Thảo (phải) và nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm - Ảnh: Trần Đăng (TNO)
Đầu xuân năm 1983, tôi và vợ con ra Huế ăn Tết với ông ngoại mấy cháu. Với tôi, đó là cơ hội để… uống rượu với bạn bè văn nghệ xứ Huế. Tôi có khá nhiều bạn văn ở Cố đô cổ kính và đầy những phép tắc này. Tôi lại vốn là người ít quan tâm tới phép tắc và lễ nhạc. Hơn nữa, dạo đó tôi còn trẻ, tính tình tự do thiếu kỷ luật, lại hay bốc đồng, nên cũng khó đòi hỏi tôi phải “nhất bộ nhất bái”. Nhân nói về “nhất bộ nhất bái”, lại nhớ mấy năm trước có cụ sư (hay cộng tác viên của chùa - tôi không nhớ rõ) đã phát nguyện sẽ đi bộ từ Sài Gòn ra Bắc, xuống tận Yên Tử, và đi theo quy trình “nhất bộ nhất bái”. Tôi cho đó là một sự kiện hiếm hoi gây được sự tò mò quan tâm hâm mộ của dân tình cả nước. Tôi đã gặp vị Bồ tát này trên quốc lộ 1, khi tôi vừa ra khỏi thành phố Quảng Ngãi đi Đà Nẵng. Cả một đám đông làm nghẽn mạch quốc lộ 1, chỉ thiếu xe còi hụ, nhưng có CSGT, và rất nhiều các “cộng tác viên” vác… gậy, mặt mày khá bậm trợn, hộ tống một người đang “nhất bộ nhất bái” ngay trên quốc lộ. Nếu tôi có được 1/10 công lực của vị Bồ tát ấy, thì khi ra Huế, tôi đã “nhất bộ nhất bái” suốt ngày. Vì luôn gặp được những người rất đáng kính trọng, như nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường, nhà thơ Mỹ Dạ, nhà thơ Trần Vàng Sao, nhà thơ Nguyễn Hữu Ngô, nhà thơ Thái Ngọc San, nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo, và vô vàn các văn nhân thi sĩ khác của đất Thần kinh. Gặp họ, tôi chỉ muốn… bái. Mà khi tôi bái một người, thì chắc phải bái hết mọi người. Vì, như người ta nói, Huế là đất thi ca, nếu không phải là cái nôi thi ca thì cũng là xe… xích lô thi ca. Thì đúng như vậy. Sau đó mấy năm, khi ra Huế chơi, tôi đã hân hạnh gặp thi sĩ Phương Xích lô - một nhà thơ hồn nhiên bậc nhất, và cũng đói nghèo có hạng ở xứ Cố đô. Thơ Phương rất hay, hay nhất là bài “Xích lô hành” mà nghe Phương đọc lần nào tôi cũng muốn chảy nước mắt. Khi gặp Phương, tôi có viết tặng anh một bài thơ thật ngắn, bắt chước thơ haiku:
“Xích lô solid/ Ba bánh cô đơn/ Thùng xe bụng rỗng/ Chạy quanh nỗi buồn/ Dzô!”. Nhưng đó là chuyện mấy năm sau. Còn mùa xuân năm 1983 đó, sau khi thăm gia đình bên vợ, ăn nhậu đã đời với bạn bè, tôi chợt nổi hứng bèn tới thăm… Tạp chí Sông Hương. Đơn giản, vì nghe tin tạp chí mới có giấy phép hoạt động, và sắp ra số đầu tiên. Dạo đó, Sông Hương còn đóng ở 26 Lê Lợi - Hội Văn nghệ Bình Trị Thiên. Tôi đã gặp nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm - Tổng Biên tập Sông Hương - ở đó. Sau vài ba câu thăm hỏi, anh Điềm nói tôi có thơ mới gửi tạp chí in chơi, vì tạp chí cũng vừa “chào bàn”, còn mới đủ thứ. Tôi mừng quá, lục trong túi xách của mình, và lấy ra một… trường ca. Đó là trường ca “Đêm trên cát” viết về nhà thơ Cao Bá Quát, tôi mới hoàn thành hồi cuối năm 1982 ở Quy Nhơn. Anh Điềm cầm tập bản thảo đánh máy (tôi tự đánh máy chữ - so với hồi đó cũng là “hiện đại nhưng không hại điện” lắm rồi, vì máy chữ của tôi là máy chữ cơ, không phải máy chữ điện), thấy anh Tổng Biên tập có vẻ rất vui, tôi yên tâm hẳn. Anh Điềm hứa sẽ đọc ngay, và sẽ giao cho Mỹ Dạ làm biên tập, in ngay trong Sông Hương số 1. Tôi nghe mà mừng hết lớn, mừng hơn cả khi được bạn mời uống rượu. Hồi đó, in được một bài thơ đã khó, huống chi đây là một trường ca, và thuộc loại không dễ in. Tạm biệt anh Nguyễn Khoa Điềm, tôi lại đi… uống rượu với bạn bè, và chờ đợi. Hóa ra, lời hứa của anh Điềm là thật, khi tôi về Quy Nhơn ít lâu thì biết tin Tạp chí Sông Hương số 1 đã ra mắt, và trích in tới 1/3 trường ca “Đêm trên cát” của tôi. Đó là lần đầu tiên trường ca này xuất hiện trên báo in, dù trước đó nó cũng đã nhiều lần được xuất bản…miệng. Khỏi nói, tôi mừng thế nào. Thực ra thì trước đó tôi cũng đã được in thơ khá nhiều rồi, nhưng với trường ca “Đêm trên cát” tôi có một tình cảm rất đặc biệt, nên khi được Sông Hương in, tôi nghĩ tạp chí văn nghệ này có thể là nơi tôi cho “thoát” được một số sáng tác của mình, nhất là những tác phẩm “hơi bị khó… in”.
Huế khép kín, nhưng đa dạng (chứ không phải “huê dạng” như có người nhận xét). Người ta nói Huế bảo thủ, nhưng tôi không cho là như vậy. Người ta nói ông Nguyễn Khoa Điềm khó tính, khó gần, nhưng tôi lại nghĩ khác: tôi cho anh Điềm là người rất dễ gần gũi, miễn là ta chơi với anh ấy như một người bạn chân thành và vô tư. Càng hiểu sâu về Huế, tôi càng yêu xứ này hơn, nhất là khi mình đã cao tuổi, tâm đã lặng, không còn ưa quậy phá như xưa nữa, thì Huế xứng đáng là nơi tìm về, dù chỉ để ngồi… cà phê Phương Nam bên cạnh bờ sông Hương cùng mấy người bạn kiệm lời. Tôi không thuộc loại ưa chém gió, nhưng mỗi khi về Huế, tôi là một trong vài ba người nói nhiều nhất trong các cuộc nhậu, đơn giản, vì những người bạn còn lại đều thuộc loại ít nói. Như nhà thơ Nguyễn Khắc Thạch thì thuộc dạng “đá trông… đá” - nghĩa là anh thường lặng im như đá mồ côi. Nhiều khi tưởng anh không… nói được luôn. Dĩ nhiên, không phải vậy. Có nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo hay nói nhưng đã rời Huế từ nhiều năm trước, còn nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường, là người bạn bè Huế đặt là “chuyên nhậu với món… nói”, thì từ nhiều năm nay, sau lần xuất huyết não kinh hoàng, anh Tường đã không còn nói được. Trần Vàng Sao cũng là thi sĩ hay nói, nhưng phải “nạp” cho anh mấy chai bia hoặc nửa xị đế thì anh mới… phát hỏa. Thiếu đi những tay văn nghệ hay nói, Huế có vẻ trầm mặc hơn nhiều. Tạp chí Sông Hương từ khi mới ra số 1 tới nay cũng đã tròn… 40 năm (1983 - 2023). Một khoảng thời gian dài tới như vậy mà cứ tưởng mới ngày hôm qua. Hóa ra, chúng tôi đã về già, còn Tạp chí Sông Hương thì có vẻ đang… trẻ lại. Nhớ hồi năm 1986 gì đó, tôi có bài thơ khá dài “Hà Nội nhìn từ phía tôi” lần đầu xuất bản được in ở Tạp chí Sông Hương. Lần này thì anh Tô Nhuận Vỹ làm Tổng Biên tập. Bài thơ ấy, khi in trên Sông Hương, thì do lỗi morasse, cái đầu đề tự nhiên đổi thành “Hà Nội nhìn về phía tôi”. Khi đó đã có điện thoại, tôi từ Quy Nhơn có gọi điện ra tạp chí, thanh minh: “Hà Nội không việc gì phải nhìn về phía tôi cả, vì tôi có trộm cắp gì đâu! Xin sửa giùm cái đề bài, không thì người ta nghĩ tôi tự… sùng bái cá nhân (?)”. Ngay số kế tiếp, Tạp chí Sông Hương đã gửi lời xin lỗi tác giả và đính chính lại đầu đề bài thơ. Không biết có phải vì lỡ in nhầm cái đầu đề bài thơ, mà cuối năm ấy Sông Hương trao cho tôi cái giải “Bài thơ hay của năm in trên Sông Hương”. Tôi mừng quá, chắc mẫm sắp có tiền thưởng khá đây. Không ngờ, tiền thưởng khá… hẻo, và tôi “cầm lòng vậy…” vì biết Sông Hương đâu có dư giả gì. Mình ước mong vậy thôi, chứ thưởng bao nhiêu cũng vui lắm (!?). Từ bấy tới nay, thỉnh thoảng tôi vẫn in thơ hay bài viết trên Tạp chí Sông Hương, và quên hẳn chuyện nhuận bút nhiều hay ít, vì tôi biết, cùng là dân làm tạp chí với nhau, tiền đâu mà trả cho nhiều. Nhưng Sông Hương tạp chí, giống như Sông Hương sông, cứ lặng chảy qua đời tôi. Nhớ cách đây nhiều năm, lúc còn tại thế, nhà nghiên cứu Tuồng Vũ Ngọc Liễn đã từng viết cho tôi: “Mong Tạp chí Sông Trà chảy theo… dòng Tạp chí Sông Hương.” Thì sông nào không chảy về biển, cụ ơi! Nay tôi không còn làm Tạp chí Sông Trà, nhưng nhớ lời cố nhà văn hóa Vũ Ngọc Liễn, tôi vẫn mong Tạp chí Sông Hương tiếp tục chảy về… biển. Cho Tạp chí Sông Trà chảy theo với, anh ơi!
T.T
(TCSH404/10-2022)
TRẦN PHƯƠNG TRÀ
Cuối năm 1961, tôi rời Vụ Báo chí Bộ Ngoại giao về làm biên tập viên chương trình Tiếng thơ Đài Tiếng nói Việt Nam. Chương trình này nằm trong Phòng Văn học do nhà văn Trọng Hứa làm Trưởng phòng.
KIMO
Mười Cents, một đồng xu nhỏ nhất, mỏng nhất được gọi là “dime” và đồng xu nầy được đúc với chất liệu 90 phần trăm bạc và 10 phần trăm đồng như đồng xu năm cents và 25 cents nhưng lại khác với đồng xu một cent.
HƯỚNG TỚI 70 NĂM THÀNH LẬP LIÊN HIỆP CÁC HỘI VHNT THỪA THIÊN HUẾ
TÔ NHUẬN VỸ
HƯỚNG TỚI KỶ NIỆM 70 NĂM NGÀY THÀNH LẬP LIÊN HIỆP CÁC HỘI VHNT THỪA THIÊN HUẾ
NGUYỄN KHẮC PHÊ
KỶ NIỆM 40 NĂM GIẢI PHÓNG THỪA THIÊN HUẾ
NGÔ KHA
LTS: Dưới đây là một ghi chép của cố nhà báo, nhà nghiên cứu lịch sử Ngô Kha về những ngày đầu đoàn quân giải phóng về thành Huế dịp 26/3/1975. Rất ngắn gọn, song đoạn ghi chép đã gợi lại cho chúng ta không khí sôi nổi, nô nức những ngày đầu.
Lời nói đầu: Mỗi khi về nhà ở Quỳnh Mai, tôi luôn hình dung thấy Cha tôi đang ngồi đâu đó quanh bàn làm việc của mình. Trong một lần về nhà gần đây, sau khi thắp hương cho Cha, chờ hương tàn bèn mang máy đánh chữ, là vật hết sức gần gũi đã gắn bó với Cha tôi cho tới khi mất, để lau chùi, làm vệ sinh.
Những năm 1973-1976, đến Paris tôi bắt đầu công việc sinh viên, vừa làm vừa học là ký tên và đánh số giùm tranh litho cho Họa sĩ Lê Bá Đảng.
SƠN TÙNG
Một ngày giáp Tết Canh Dần - tháng 2/1950, gặp dịp đi qua làng Sen, tôi ghé vào thăm nơi đã lưu lại những kỷ niệm tuổi thơ của Người.
L.T.S: Vương Đình Quang nguyên là thư ký tòa soạn báo "Tiếng Dân" do Huỳnh Thúc Kháng làm chủ biên, vừa là thư ký riêng của nhà yêu nước Phan Bội Châu, chuyên giúp Phan Bội Châu hoàn chỉnh những văn bản tiếng Việt trong mười lăm năm cuối đời sống và sáng tác tại Huế. Bài này trích từ "Hồi ký về cụ Phan và cụ Huỳnh" do chính tác giả viết tại quê hương Nam Đàn Nghệ Tĩnh khi tác giả vừa tròn 80 tuổi (1987).
NGUYỄN NGUYÊN
Tháng 6-1966, ở Sài Gòn, giữa cái rừng báo chí mấy chục tờ báo hằng ngày, báo tháng, báo tuần, bỗng mọc thêm một từ bán nguyệt san: Tin Văn.
Cứ vào những ngày cuối năm, khi làm báo tết, trong câu chuyện cà phê sáng, làng báo Sài Gòn hay nhắc đến họa sĩ Choé, tác giả những bức tranh biếm - hí họa từng không thể thiếu trên khắp các mặt báo. Có thể nói, cùng với nhà văn Sơn Nam, nhà thơ Bùi Giáng, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, họa sĩ Ớt - Huỳnh Bá Thành, danh ca Út Trà Ôn, danh hài Văn Hường,… họa sĩ tuổi Mùi - Choé là một trong những “quái kiệt” của Sài Gòn.
(Lược thuật những hoạt động nhân kỷ niệm 5 năm Sông Hương)
(Bài phát biểu của nhà văn Tô Nhuận Vỹ - Nguyên Tổng biên tập tạp chí Sông Hương trong lễ kỷ niệm 5 năm)
(SHO). Huế đầu đông. Mưa lâm thâm,dai dẳng. Mưa kéo theo các cơn lạnh se lòng. Cái lạnh không đậm đà như miền Bắc không đột ngột như miền Nam, nó âm thầm âm thầm đủ để làm xao xuyến nổi lòng người xa quê... Ngồi một mình trong phòng trọ, con chợt nhớ, một mùa mưa, xa rồi...
(SHO). Mùa mưa cứ thế đến, những nỗi nhớ trong tôi lại từng cái từng cái ùa về, thổi qua và tôi chợt nhận ra trong lúc ngây ngốc tôi đã bỏ quên nhiều thứ như vây; bỏ quên những người thân yêu trong nỗi nhớ của tôi, ở trong kỉ niệm đã qua và giờ tôi nhớ ra cảm giác hạnh phúc, vui vẻ khi ở bên họ, để từ đó tôi quý trọng hơn nữa những giây phút bên cạnh những người mà tôi yêu thương.
NGUYỄN ĐẮC XUÂN
Sau một thời gian bị bệnh hiểm nghèo, ca sĩ Hà Thanh đã qua đời vào lúc 19 giờ 30 ngày 1 tháng 1 năm 2014 (giờ Boston) tại thành phố Boston, tiểu bang Massachusetts, Hoa Kỳ.
ĐẶNG VĂN NGỮ
Hồi ký
Cha tôi lúc còn nhỏ tự học chữ nho có tiếng là giỏi, nhưng đến tuổi đi thi thì thực dân Pháp đã bãi bỏ các kỳ thi chữ nho.
TÔ NHUẬN VỸ
Lớp sinh viên chúng tôi tốt nghiệp Khoa Văn - Sử trường Đại học Sư phạm Hà Nội năm 1964, đúng vào thời điểm Mỹ đánh phá miền Bắc và Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam kêu gọi con em miền Nam đang ở miền Bắc hãy trở về chiến đấu cho quê hương.
Giải phóng quân Huế với phong trào Nam tiến
PHẠM HỮU THU
Sau ba năm đi giang hồ Trung Quốc. Nguyễn Du trở về, ở tại Thăng Long từ cuối năm 1790 cho đến năm 1794. Đó là ba năm «Chữ tình chốc đã ba năm vẹn», lưu lại trong Lưu Hương Ký của Hồ Xuân Hương.