PHAN THUẬN AN
Cũng như các triều đại quân chủ khác trong lịch sử Việt Nam, triều đại nhà Nguyễn (1802-1945) đã lập ra tại kinh đô một cơ quan chuyên trách về y tế, gọi là Thái Y Viện, để chăm lo sức khỏe cho hoàng gia và điều hành công việc chữa bệnh cho mọi người trong nước.
Ảnh: internet
Nguyên tắc chung của thiết chế bộ máy hành chánh nhà nước là như thế, nhưng xem ra trên thực tế, nhiệm vụ chủ yếu của cơ quan y tế trung ương này là trông coi, phục vụ sức khỏe cho vua và hoàng gia. Cho nên, chúng ta không lạ gì khi thấy sử sách của triều Nguyễn còn gọi Thái Y Viện là Ngự Y Viện (1) và viện này đóng ngay trong Tử Cấm Thành là nơi dành riêng cho nhà vua và gia đình ăn ở sinh hoạt hàng ngày.
Viện Thái Y được thiết lập từ thời Gia Long (1802-1819) và tồn tại mãi đến thời Bảo Đại (1926-1945), nhưng trong số 13 vua nhà Nguyễn, có 2 ông vua đã tỏ ra quan tâm nhiều nhất về tổ chức, hoạt động và hiệu quả của cơ quan này, là vua Minh Mạng (1820-1840) và vua Tự Đức (1843-1883)(2). Hai vua có 2 lý do khác nhau.
Vua Tự Đức thì vì thể chất yếu đuối bẩm sinh hay đau ốm, bị bệnh đậu mùa biến chứng trở thành "bất lực", không sinh đẻ được, rất muốn có con để truyền ngôi. Nhưng, sự đời thật oái ăm, trong khi ba ông vua đầu nhà Nguyễn đều có con đàn cháu đống:
- Vua Gia Long sinh được 31 người con (13 hoàng tử, 18 hoàng nữ)
- Vua Minh Mạng sinh được 142 người con (78 hoàng tử, 64 hoàng nữ)
- Vua Thiệu Trị sinh được 64 người con (29 hoàng tử, 35 hoàng nữ) thì vua Tự Đức, ông vua thứ tư, không sinh được một mụn con nào để thừa kế ngai vàng, mặc dù khi vua băng hà, vẫn còn đến 103 cung nữ sống trong Tử Cấm Thành(4).
Trường hợp vua Minh Mạng thì khác hẳn. Nhìn vào những áo quần mà ông vua này mặc lúc sinh thời và hiện nay Viện Bảo Tàng Huế đang gìn giữ và trưng bày, chúng ta thấy rõ vua Minh Mạng là người to béo, vạm vỡ và thể-chất chắc hẳn là rất khỏe mạnh. Đã cường tráng, sung sức như vậy rồi thì cần dùng thêm thuốc bổ làm gì nữa ?
Người ta thường trả lời rằng nhà vua cần tăng lực để thỏa mãn cái thú vui xác thịt với hàng trăm bà vợ trong hoàng cung. Vua Minh Mạng có bao nhiêu bà vợ ? Hiện nay không ai biết được con số ấy một cách chính xác, vì sử sách không ghi rõ. Bộ sách "Minh Mạng chính yếu" của Quốc Sử Quán Triều Nguyễn chỉ tiết lộ cho biết rằng vào tháng giêng năm Minh Mạng thứ 6 (tức là tháng 2 năm 1825), "trong kinh kỳ ít mưa, nhà vua lấy hạn làm lo, chỉ dụ cho quan Thượng Bảo khanh là ông Hoàng Quýnh rằng: "Hai ba năm trở lại đây, hạn hán liên tiếp. Trẫm nghĩ xem vì đâu mà đến thế, nhưng chưa tìm ra nguyên nhân; có lẽ trong thâm cung, cung nữ nhiều, nên âm khí uất tắc mà nên vậy ư? Nay bớt đi, cho ra một trăm người, ngõ hầu có thể giải trừ thiên tai vậy"(5) Con số bớt đi đã là 100, vậy số lượng các bà còn lại trong cung chắc hẳn phải vài trăm trở lên. Âm thịnh như thế thì nhà vua quá cần thuốc bổ để cường dương.
Nhưng, theo tương truyền thì đó chưa phải là lý do đầu tiên để các vị "Ngự y" trong triều dâng lên cho vua Minh Mạng thang thuốc bổ mà chúng ta đang nói đến. Một số lương y hiện nay ở Huế có nghe các vị Ngự y tiền bối kể lại rằng vua Minh mạng đã xài phí sức lực vào việc giới tính hơi sớm, ngay từ thời còn là hoàng tử. Một thời gian trước khi lên ngôi vào năm 1820 giữa lúc 29 tuổi, ông rất yếu về đường sinh dục. Cho nên, sau khi đăng quang, vua ra lệnh cho các vị Ngự y phải cố gắng giúp vua lấy lại sức khỏe. Do đó, các Ngự y đã "đối chứng lập phương", làm ra một thang thuốc bổ ngâm rượu để nhà vua dùng hàng ngày và thang thuốc rất hiệu nghiệm.
Cái hiệu nghiệm đầu tiên rất cụ thể là về mặt sinh lý. Trong đời mình, nhà vua đã sinh được 78 người con trai và 64 người con gái như đã nói ở trên. Về sau, vua Thiệu Trị, người con trai trưởng, đã rất tự hào về khả năng to lớn đó của vua cha và đã viết ở trong bài văn bia ở lăng Minh Mạng rằng: "Bách tứ thập nhị, giáo dĩ nghĩa phương" (có 142 người con đều được dạy về đạo nghĩa).
Cái hiệu nghiệm thứ hai là về mặt tinh thần, trí tuệ. Lịch sử cho thấy trong ngót 20 năm trị vì (1820-1840), vua Minh Mạng đã làm việc rất nhiều và đã mang lại nhiều thành quả tốt đẹp cho đất nước về nhiều phương diện: hành chánh, kinh tế, văn hóa, xã hội v.v... Có thể nói thời Minh Mạng là đỉnh cao của triều Nguyễn. Làm thành công được nhiều như thế là nhờ có tâm trí sáng suốt. Có lẽ phương thuốc Ngự y mà vua Minh Mạng dùng hàng ngày đã đóng góp hỗ trợ không nhiều thì ít vào trong các hoạt động tâm trí, các tư duy chính trị thường nhật của nhà vua.
Theo nguyên tắc của triều đình, toa thuốc bổ ấy chỉ dành riêng cho vua Minh Mạng dùng mà thôi, không ai được phép bắt chước sử dụng. Nhưng, vì công hiệu rõ ràng và kết quả tốt đẹp của nó, các quan lớn trong triều đã "phạm thượng" một cách bí mật bằng cách sao chép toa thuốc đem về dùng ở nhà, rồi sau đó lan truyền dần ra trong dân gian.
Ngay từ thời Minh Mạng, toa thuốc đã được đặt tên là "Nhất dạ ngũ giao" (Nghĩa là một đêm năm lần gặp), gọi tắt từ một câu thơ tương truyền là nói về hoạt động sinh lý của vua Minh mạng:
- Nhất dạ ngũ giao sinh tứ tử.
- Nhất dạ ngũ giao sinh lục tử.
(Ngoài ra còn có câu: Nhất dạ lục giao sinh ngũ tử).
Trong mấy chục năm gần đây, vì nhu cầu phục vụ sức khỏe cho mọi người, một số sách báo Đông y và Y học Dân tộc ở miền Nam, nhất là tại Sài gòn, đã đăng tải toa thuốc đó bằng chữ quốc ngữ với các dị bản khác nhau. Toa này toa kia có thay đổi vài ba vị thuốc. Số lượng vị thuốc cũng không bằng nhau : Có toa gồm 22 vị, có toa lên đến 25 vị.
Dưới đây xin chọn toa thuốc bổ của vua Minh Mạng được chép theo sách "Những phương thuốc bổ và trường xuân trong Y học cổ truyền Đông phương" của lương y Lê Văn Sơn, xuất bản tại tỉnh Sông Bé vào năm 1987:
A.-Thành phần các vị thuốc:
1. Sa Sâm : 5 chỉ
2. Cẩu kỷ tư : 2 -
3. Bạch truật : 3 -
4. Đào nhân : 5 -
5. Đương qui : 3 -
6. Mộc qua : 2 -
7. Thục địa : 5 -
8. Tục đoạn : 2 -
9. Phòng phong : 3 -
10. Nhục quế : 1 -
11. Tần giao : 2 -
12. Độc hoạt : 2 -
13. Bạch thược : 3 -
14. Trần bì : 3 -
15. Khương hoạt: 2 -
16. Phục linh : 3 -
17. Đại hồi : 2 -
18. Cam thảo : 3 -
19. Đại táo : 2 -
20. Xuyên khung: 3 -
21. Đỗ trọng : 2 -
22 Thương truật: 2 -
Theo toa thuốc "Nhất dạ lục giao sinh ngũ tử" đăng ở Nhật báo Sống tại Sài gòn số ra ngày 27.4.1968, thì ngoài 22 vị thuốc kể trên, toa thuốc Minh Mạng còn có thêm 3 vị khác nữa:
1. Cao hổ cốt : 1 chỉ
2. Cao ly tử : 3 -
3. Hồng cúc : 2 -
Ở cuối toa thuốc, tài liệu này lưu ý rằng người có máu nóng nên bỏ bớt 2 vị Đại hồi và Nhục quế; còn người có máu lạnh thì thêm vị Ngưu tất, 3 chỉ.
B. - Cách chế và dùng:
Có hai cách chế thuốc là ngâm và chưng.
1.- Ngâm thuốc: Ngâm tất cả các vị thuốc ấy vào 2 lít rượu trắng (loại rượu tốt) trong 5 ngày đêm. Lọc rượu ra, pha thêm nửa lít nước đã đun sôi cùng với 300gr đường phèn. Trộn đều để dùng. Lấy bã thuốc ấy ngấm nước nhì, cũng với 2 lít rượu trắng tốt và ngâm trong 1 tháng. Sau đó, cũng pha với nửa lít nước nấu tan 300 gr đường phèn.
2.- Chưng thuốc: Muốn có thuốc nhanh hơn để uống, thì chế thuốc bằng cách chưng. Cho thuốc và 2 lít rượu tốt vào trong 1 cái thố (tìm) bằng sành. Đậy nắp và bịt mí bằng băng keo cho kín để rượu khỏi bốc hơi ra ngoài. Đặt thố vào trong 1 cái soong nhôm lớn hơn nó. Đổ nước cao lên bằng 1/2 chiều cao của thố, không đậy nắp soong. Đặt soong lên bếp lửa riu riu (lửa nhỏ) trong thời gian khoảng 2 giờ. Sau đó, lấy thố ra, rót riêng rượu, giữ bã thuốc lại. Rồi cho vào bã ấy 1 lít rượu khác, chưng nước nhì trong vòng 1 giờ rưỡi. Xong, lấy rượu, bỏ bã. Dùng từ 100 đến 300 gr đường phèn (tùy theo mức độ thích uống ngọt) nấu cho tan trong 1/4 hoặc 1/2 lít nước (tùy người dùng rượu độ cao hay thấp) rồi hòa chung với rượu đã chưng mà uống.
Uống một ly nhỏ trong mỗi bữa ăn và trước khi đi ngủ.
C.- Công dụng: Toa thuốc bổ dùng với rượu của vua Minh Mạng có tác dụng đặc biệt như sau:
1. Đại bổ khí huyết. Tăng cường sinh lực. Bồi bổ thần kinh.
2. Trị bịnh đau lưng và nhức mỏi. Bồi bổ cho sản phụ.
3. Người liệt dương uống từ 1 đến 2 tháng có thể có con.
4. Người khản tiếng, nói không nghe rõ, uống vào nói to được.
5. Thận yếu lâu, bán thân bất toại, đi đứng không được, dùng rất tốt.
6. Người già từ 60 tuổi trở lên, uống vào thì tăng tuổi thọ, đêm ngủ không mộng mị, khỏi bị táo bón.
Theo lương y Phan Quật hiện đang hành nghề ở Huế thì thang thuốc này là một tổng hợp của nhiều vị thuốc, gồm có thang Bát trân (sâm, linh, truật, thảo, địa, thược, khung, qui) chủ trị khí huyết suy nhược và một số vị thuốc có tác dụng làm mạnh gân xương, trị nhức mỏi, kích thích tiêu hóa, an thần và nhất là bổ thận, cường dương. Xét kỹ dược tánh của nó có thể kết luận đây là một toa thuốc bổ dùng để trợ lực, sanh tính khí, tạo điều kiện tốt hầu thỏa mãn cho cuộc sống và ý muốn sinh nhiều con cái của một đấng quân vương.
Ngày nay, người thiếu sức khỏe, nhất là người hiếm muộn con cái nên dùng toa thuốc đó. Tất cả những vị thuốc trong toa đều đang thấy bán nhiều ở các hiệu thuốc với giá không đắt lắm. Nhưng, nếu ai có điều kiện dùng thì cũng phải vận dụng số lượng và cân lượng các vị thuốc cho thích hợp với thể trạng của mình. Hay hơn hết là được các lương y "đối chứng lập phương" cho thật chính xác theo y lý để đạt được những hiệu quả tốt đẹp tối đa như mong muốn.
P.T.A.
(TCSH44/01-1991)
---------------
Chú thích:
(1) Đại Nam Nhất Thống Chí, Kinh sư, bản dịch của Nguyễn Tạo, Nhà Văn Hóa Xuất bản, Sài gòn, 1960, trang 25, 71.
(2) Đại Nam Thực Lục, bản dịch của Viện Sử Học, Hà nội, tập XIII, trang 329; tập XXVII, trang 254-255; tập XXVIII, trang 285-286, 301; tập XXXI, trang 290, 294; tập XXXIII trang 279, 327; tập XXXV, trang 132.
(3) Richard Orband, Les tombeaux des Nguyễn, Bulletin de l’Ecole Française d’Extrême - Orient, 1914, trang 1-64.
Tôn Thất Cổn, Constitution de la Famille Impériale d’ An-nam, Huế, 1942, trang 22-29.
(4) Ch.Gosselin, L’Empire d’Annam. Dẫn bởi Dr Gaide và H.Pey-sonneaux, Les tombeaux de Huế: Prince Kiến Thái Vương. B.A.V.H. 1925 trang 26.
(5) Minh Mạng chính yếu, quyển I, tờ 7b, bản dịch, tập I của Hoàng Du Đồng và Hà Ngọc Xuyền, Phủ quốc vụ khanh đặc trách Văn Hóa xuất bản, Sài gòn, 1972, trang 37.
PHAN THUẬN HÓA
LGT: Đài Tưởng niệm Chiến sĩ Trận vong nằm ở trước Trường Quốc Học (thường được gọi là Bia Quốc Học) là một tác phẩm nghệ thuật kiến trúc độc đáo của Huế; trong thời gian qua Trung tâm Công viên Cây xanh Huế đã đứng ra đầu tư tu bổ tôn tạo.
Nhân dịp kỷ niệm 60 năm thành lập Đại Học Huế & 60 năm Khoa Văn Đại học Khoa học Huế
PHAN THUẬN AN
(Cựu sinh viên trường Đại học Văn Khoa, và khóa I Viện Hán Học Huế)
Rạng sáng ngày 22-3 (tức 25-2 âm lịch), Trung tâm bảo tồn Di tích Cố đô Huế đã tổ chức lễ tế Xã Tắc năm 2017 tại đàn Xã Tắc, phường Thuận Hòa, thành phố Huế. Buổi lễ diễn ra trang nghiêm trong vòng gần một giờ đồng hồ theo các nghi lễ và vật phẩm được định rõ trong sách sử.
Mùa Xuân 1904
Trần Quý Cáp bước vào tuổi 34 và đỗ đầu Tiến sĩ khoa Giáp Thìn tại Huế. Ông ở Huế chưa đầy nửa năm, rồi về Quảng cho kịp ngày khai hội Duy Tân.
Mối quan hệ hợp tác về trùng tu di sản văn hóa giữa Việt Nam và Nhật Bản tại cố đô Huế đã được đặt nền móng từ đầu thập niên 1990 bằng dự án trùng tu công trình Ngọ Môn, một biểu tượng của Huế.
VÕ TRIỀU SƠN
Voi đang ngày càng hiếm hoi, vậy mà ngày xưa, nó từng xuất hiện ở Huế hàng ngàn thớt voi trong kinh thành. Nhiều tư liệu xưa đã đề cập đến chuyện nuôi voi trên đất Cố đô xưa.
DƯƠNG VIỆT QUANG
Sử cũ cho thấy rằng, triều Nguyễn đã rất chú trọng việc đầu tư thủy lợi, giao thông đường thủy. Một thống kê từ “Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ” cho biết, có đến gần 60 lần các vua Nguyễn ban hành chỉ dụ về việc đào sông, nạo vét kênh rạch… ở 15 tỉnh trong cả nước.
THƠM QUANG
Tết Nguyên Đán luôn là lễ hội lớn nhất trong các lễ hội truyền thống của dân tộc Việt Nam. Tết Nguyên Đán là điểm giao thời giữa năm cũ và năm mới, giữa một chu kỳ vận hành của đất trời, vạn vật cỏ cây. Trong đó ngày cuối cùng của năm hay còn gọi là ngày 30 tết là một ngày đặc biệt.
LÊ VĂN LÂN
Đô thị phát triển nhanh là điều đáng mừng, nhưng phát triển nhanh và kiểm soát được là điều hệ trọng. Và để kiểm soát được, đô thị phải được phát triển theo một kịch bản. Kịch bản đó chính là quy hoạch đô thị, chân dung tương lai của đô thị.
Nhìn lại một năm nhiều khó khăn
Năm 2016 sự cố môi trường biển đã tác động tiêu cực, lâu dài đến tăng trưởng của nền kinh tế các tỉnh miền Trung, trong đó có tỉnh Thừa Thiên Huế.
TRƯỜNG AN
Giấc mơ đó, cũng chính là sự thể hiện quyết tâm với thái độ quyết liệt để phát triển du lịch Thừa Thiên Huế; nhiều chủ trương và giải pháp được coi là có tính đột phá mạnh mẽ và quyết liệt nhất từ trước đến nay vừa được đề xuất. Toàn tỉnh đang phấn đấu trở thành một trong những điểm đến hàng đầu của cả nước và khu vực; một điểm đến ngang hàng với các thành phố di sản văn hóa nổi tiếng thế giới.
HỒ VĨNH
Vừa qua Tạp chí Sông Hương số 333 tháng 11 năm 2016 có đăng bài “Làng cổ Dương Hóa” của tác giả Trần Viết Điền. Sau khi đọc bài “Làng cổ Dương Hóa” tôi thấy cần phải trao đổi và đóng góp một số ý kiến hầu làm sáng tỏ hơn ở một số chi tiết mà tác giả Trần Viết Điền đã viết.
Ở phía tây nam Kinh thành Huế, thuộc bờ nam sông Hương, có một dãy núi uốn lượn như mình rồng mang tên Long Sơn. Vùng long mạch này từ cuối thế kỷ 17 đã phát tích dòng thiền Việt do tổ Liễu Quán khai sáng.
TRẦN VĂN DŨNG
Những ngôi phủ đệ là di sản văn hóa - lịch sử, kiến trúc nghệ thuật sống động, độc đáo của đất Cố đô Huế, có từ triều Nguyễn với 13 đời vua (1802 - 1945), và vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay.
LÊ VĂN LÂN
Xây dựng Huế trở thành một đô thị đáng sống, một thành phố lịch sử cổ kính, văn minh, hiện đại là mong ước của người dân và cũng là mục tiêu mà thành phố vươn tới.
HỒ VĨNH
Vừa qua Tạp chí Sông Hương Đặc biệt số 19 tháng 12/2015 đã đăng ba bài viết cung cấp một số tư liệu có liên quan đến Hội Quảng Tri ở Huế của các tác giả sau đây:
Tin vui cho công chúng yêu nghệ thuật và giới văn nghệ sĩ Huế, tại Kỳ họp thứ 2 HĐND tỉnh, UBND tỉnh Thừa Thiên Huế đã thông báo cho cử tri biết về lộ trình thành lập Bảo tàng Mỹ thuật Huế.
THÁI KIM LAN
Nhân kỷ niệm 120 năm trường Quốc học Huế
Được sự cho phép của Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch, từ ngày 7/10/2016, Bảo tàng Lịch sử Thừa Thiên Huế đã phối hợp với Viện Khảo cổ học mở hố thám sát thăm dò dấu vết lăng mộ vua Quang Trung tại gò Dương Xuân (Trường An, TP Huế) với diện tích 22 m2.
TRẦN VIẾT ĐIỀN
Di tích lịch sử Đình Dương Xuân Hạ nằm ở khu vực thuộc làng cổ Dương Hóa, với bề dày lịch sử trên dưới 500 năm.