ISABEL MILES (Anh)
Nguyên bản tiếng Anh - Ảnh: internet
Ngoài người bạn trong tổ chức môi trường quốc tế, từ thành phố Glasgow (Scotland), Dougie Macleod không có nhiều thời gian cho những người đàn ông khác trên giàn khoan. Anh cắm đầu vào công việc. Trong khi tất cả bọn họ đều dán mắt vào phim bẩn hoặc khoe khoang thành tích tình ái mới nhất thì anh cố gắng tập trung vào cuốn sách của mình. Nếu đó là một ngày chủ nhật, cuốn sách đó là Kinh thánh vì anh tuân thủ nghiêm giới luật. Anh giấu để bố mẹ anh không biết chủ nhật anh cũng làm việc. Nếu biết, họ chắc giận anh cùng mớ tiền dầu khí chết tiệt làm con họ suy đồi. Dougie chắc rằng Chúa sẽ hiểu anh không có lựa chọn nào khác. Anh ta cũng không thể không nghe thấy một số điều rác rưởi. Hai người trong số những người đàn ông đã kết hôn là tồi tệ nhất, một người đã già như cha anh.
Ở trường, Dougie đã phải lòng Kirsty, cô bé nhà bên. Khi anh đến Aberdeen học kỹ sư, cô hứa sẽ viết thư cho anh mỗi tuần và cô đã giữ lời trong hai tháng, nhưng đến Giáng sinh thì cô thay đổi. Sau đó mẹ anh bảo rằng Kirsty đã theo một chàng người Anh mà có ông bố đã mua đứt cái tiệm bách hóa trong làng mùa hè trước. Dân Anh mới chuyển đến đây đều vô thần. Họ xem TV thâu đêm suốt sáng, kể cả chủ nhật và bán rượu cho khách du lịch để kiếm lời. Chuyện thật khó tin nhưng rồi chính Kirsty đã viết thư cho anh. Lần về nhà sau đó anh thấy cô nằm trên bãi biển với một chàng trai người Anh. Ít nhất thì cô còn chút sĩ diện, chút lịch sự để… đỏ mặt. Mùa hè sau, cô ấy đã trở thành tâm điểm của các lời xì xào bàn tán trong vùng, mặc quần jean, phì phèo thuốc lá, đan tay chàng người Anh ở nơi công cộng.
Giờ Kirsty đã là bà Greenwood, và đến lượt mình bán bia, rượu Chardonnay - loại đồ uống tiêu thụ cực mạnh suốt hè. Chuyện tình của Dougie kết thúc và hình bóng cô từ lâu đã không còn trong anh. Sau mười năm, ba lần sinh nở và… bốn vạn điếu thuốc, không còn nhiều nét yêu kiều mà anh từng mê đắm. Việc trang điểm quá mức và sử dụng thuốc nhuộm tóc vô tội vạ đã phá hủy làn da hơi xanh xao và mái tóc đỏ rực mà anh yêu thích. Dẫu vậy, cô vẫn còn một nụ cười xiêu lòng và khiếu hài hước độc đáo. Dougie vẫn mến Kirsty Greenwood mặc dù anh không còn coi cô là Kirsty của mình nữa, và cô có vẻ khá hạnh phúc trong cuộc hôn nhân mà cô đã đặt gia đình vào thế buộc. Gần đây, mẹ của Dougie đã cố móc anh với em gái của Kirsty: sai anh đến trả sách hay mượn bộ xới (chẳng tốt hơn của nhà anh!). Dougie đã không bị mắc câu. Không ai khác ngoài anh cảm nhận được Kirsty đã làm anh tổn thương đến mức nào và anh quyết không mạo hiểm tình ái lần nào nữa.
Vì vậy, thật bất ngờ, vào một buổi sáng tháng Năm, khi anh xuống tiệm mua bánh mì và bị sét Catrina đánh trúng. Nàng trạc tuổi anh, nhỏ nhắn nhưng khá đầy đặn, nổi bật với mái tóc sẫm màu và làn da trắng xanh mà đôi khi bạn có thể gặp ở bờ biển phía Tây. Đôi mắt nàng có màu xám tro của bầu trời Minch ngày hôm đó. Cả hai cùng cầm một tờ báo và họ bắt đầu hoàn toàn trùng ý nhau về sự căng thẳng hỗn độn và nóng bỏng nhất hiện thời đó là vùng Trung Đông. Dougie chưa từng có một cuộc đàm luận như thế này trước đây: đề tài nhảy múa từ Bắc Phi nồng mùi hương dừa đặc biệt của loài hoa kim tước đến loại mứt hợp với bánh mì điểm tâm. Nàng kết rượu lý gai và tự làm. Sau này mỗi lúc anh ghé, nàng đều biếu một bầu. Catrina vừa chuyển đến ngôi nhà nhỏ bên kia bến cảng. “Em sẽ ở tiệm cả buổi chiều,” nàng nói. “Em muốn biết ý kiến của anh. Không có nhiều người thực sự nhìn thấy biển và em không chắc bức tranh của em có bị chê hay không”.
“Anh sẽ ghé lại sau bữa trưa” anh trả lời, nhẩm lại trong đầu công việc trong ngày của mình.
Dougie luôn là một chàng trai tốt bụng và ngoan đạo, nhưng giờ đây cha mẹ anh - ông bà Macleod - lại bị nói xấu. Cớ gì mà một cô gái đứng đắn mà sống đơn thân trong một ngôi nhà nhỏ biệt lập? Và nàng vô thần. Khoác chiếc áo da lông chó biển cũ trông nàng mập hơn. Nàng trong bộ trang phục nam, quần jean và áo thun bó, một điều ghê tởm đối với những tín đồ. Dougie lẩn quẩn suốt ở đó, chẳng giống thằng con ngoan hiền của họ chút nào. Ngay cả ông mục sư nói với anh chắc cũng không có tác dụng. Đêm qua, sau mười một giờ Dougie mới về nhà và cha anh đã ngửi thấy mùi đồ uống trên người anh. Cậu chàng thậm chí không phủ nhận điều đó và nhận được tối hậu thư. Hoặc cậu từ bỏ người phụ nữ đó, và đồ uống có cồn hoặc cậu phải đi khỏi nhà. Gia đình ông bà Macleod luôn đàng hoàng, khuôn phép - nghèo cho sạch, rách cho thơm.
Bây giờ bà Macleod đang lo rối cả ruột. Nếu Dougie không xuống gác sớm thì cậu sẽ đi lễ trễ. “Dougie!”, bà gọi. “Con xuống ăn chút gì trước khi đến nhà thờ. Mẹ đã pha cho con một ấm trà mới rồi đó.” “Con không đi”, con trai bà xẵng giọng đáp.
“Con không khỏe sao, con trai?”.
“Con ổn. Con chỉ không đến nhà thờ”, cậu trả lời.
Chồng bà đặt tách xuống, sải bước, vào phòng con trai họ. “Đúng vậy”, bà nghe thấy cậu con hét lên. “Những lời nói càn của con cha nghe đủ rồi. Đánh răng rửa mặt và mặc đồ… đi lễ ngay tức thì”.
“Nếu không thì sao, cha?”. Sự bình tĩnh lạnh tanh trong giọng của con khiến bà MacLeod thấy sợ.
“Ra khỏi nhà. Hoặc con biết cư xử đúng mực, phải phép hoặc… biến.”
“Con hai mươi chín rồi đó cha”. Dougie hạ giọng. “Con biết mình và biết cách cư xử. Nếu vậy mà cha vẫn chưa thấy đủ tốt, con sẽ đi.”
Một khoảng lặng dài. Sau đó, chồng bà nói “Cha tạm cho con theo ý mình… đến khi cha mẹ về sẽ cân nhắc kĩ chuyện này”. Cậu con trai của họ không trả lời. Sau buổi lễ lâu nhất mà bà Macleod từng trải qua trong đời, họ vội vã rời nhà thờ. Ngôi nhà trống rỗng.
![]() |
Minh họa: ĐẶNG MẬU TỰU |
*
Dougie cảm thấy vui sướng và thư thái về thể chất lẫn tinh thần. Anh và Catrina đã chung sống với nhau được một năm và anh tự hỏi làm như thế nào mà mình qua được quãng đời thiếu hạnh phúc và tình yêu lâu đến vậy. Nhiều năm trước, khi bắt đầu tập tành viết lách, anh đã chép đi chép lại câu “Chúa là Tình yêu”, với vẻ hơi bối rối. Giờ thì anh đã hiểu; anh đang sống theo đúng ý nghĩa đó. Catrina cũng rất vui. Quá tốt rồi, nàng cần không gian riêng, sự tĩnh lặng yên bình để nắm bắt chính xác sự thay đổi rất chậm của ánh sáng, thể hiện trên nét màu cái chênh chao của vạt nắng chiều dọc theo bãi biển. Nhưng anh là người duy nhất có thể nhìn thấy chính xác những gì nàng đang cố gắng nắm bắt và mô tả qua các bức màu xám, ngọc lam, hoa cà... Họ thảo luận về ánh sáng, biển khơi rồi bầu trời hàng giờ liền. Dougie vắng nhà sáu tuần, sau đó về ở nhà với Catrina suốt bốn tuần, vừa cho nàng sự tự do cần thiết để làm việc riêng, vừa khiến thời gian bên nhau thêm quý giá, ý nghĩa hơn.
Khi nàng mang thai, mọi thứ thay đổi với Dougie. Lần đầu tiên anh lo lắng cho nàng. Vì vậy, anh đọc mục tìm việc trên nhiều tờ báo và tìm thấy một bài: cần người giảng dạy toán trên đảo. Khi Dougie rời giàn khoan, Catrina không hài lòng lắm nhưng vẫn chiều theo ý anh. Mọi thứ diễn ra bình thường, thực tế là còn tốt hơn. Ngay sau đó nàng đã trở lại như xưa. Nàng bắt đầu chú tâm, chăm chút cách ăn mặc của anh. Nàng nhanh chóng tròn ủm, bụng to lên và cả hai đều cười vang lúc anh gọi nàng là Beach-ball (Bóng-biển). Chủ yếu nàng thích cùng anh nhởn nhơ trên những con đường mòn dọc bờ biển nhưng đôi khi nàng nhất quyết đi dạo một mình vào ban đêm. Một hoặc hai tiếng sau khi họ đi ngủ, nàng thường thức dậy. “Thủy triều đang thay đổi,” nàng nói. “Em luôn thao thức khi trăng tròn và thủy triều thay đổi”.
Nếu bạn yêu ai đó, bạn không bó buộc người mình yêu và Dougie đã cố, nhưng nỗi âu lo trong anh tăng dần khi bụng Catrina lớn lên từng ngày. Một đêm anh nghe nàng trở dậy. Anh nhắm mắt, thở khẽ và đợi. Rồi anh lén theo nàng để đảm bảo rằng mọi chuyện đều ổn. Nàng lang thang trên bãi biển. Anh biết nàng rất thích loài hải cẩu ở đây. Khi Catrina đến gần mép nước, Dougie nhận ra dăm con hải cẩu nhoi đầu lên. Catrina hất dép, lội xuống. Đó là một đêm trời ấm. Rồi anh thấy nàng hạ thấp người, thả mình vào dòng nước lấp lánh. Lẽ ra nàng không nên bơi lúc bầu bì thế này.
Dougie nhận ra nàng chưa cởi áo khoác. Nó sẽ ướt sũng và kéo nàng xuống. Lao nhanh tới, anh hét, “Catrina, Catrina quay lại. Dòng chảy ở đó rất nguy hiểm”. Nàng quay đầu lại nhưng trăng bị khuất trong mây nên anh không thể nhìn rõ nàng. Vài con hải cẩu đang nhấp nhô xung quanh nàng, hướng đầu về phía anh. Bóng tối làm anh sợ hãi. “Catrina!” Anh gọi nhưng nàng không trả lời. Khi đám mây trôi đi, anh bắt đầu nhìn rõ. Bầy hải cẩu bình thản nhìn anh và anh lần lượt lia mắt tới từng cái đầu màu tối, nỗi sợ hãi lớn dần trong anh. Hết con này đến con khác bắt gặp ánh mắt của anh. Sau đó, chúng chụm đầu với nhau, lặn xuống, rồi xuất hiện lại cách bờ gần hai mươi mét. Những dấu chân tròn nhỏ dẫn ra biển đầy nước.
Dougie không biết bơi nhưng anh lội đến chỗ nước dâng tới ngực, vô dụng. Những con sóng đập vào mặt anh và anh có thể cảm nhận được sóng đang kéo anh ra. Dưới ánh trăng mờ, anh quay lại, cố sức chống dòng chảy để vào bờ. Anh trở về nhà, ớn lạnh, kiệt sức. Bộ đồ ngủ của Catrina ở dưới gối, quần áo nàng được xếp ngay ngắn trên ghế. Nàng chắc hẳn đã trần truồng dưới chiếc áo khoác thẫm màu đó. Anh gọi điện cho cơ quan tuần duyên, sau đó thay bộ đồ khô vào rồi đi dọc bờ biển, mỗi hướng một dặm, trong khi thủy triều dâng cao xóa sạch dấu chân nàng. Catrina đã chết. Lúc hừng đông, Dougie trở về ngôi nhà nhỏ và nghe thấy tiếng hát. Anh chạy lên gác và nàng đang tắm, chiếc áo khoác da hải cẩu của nàng nằm trên sàn. “Chào anh yêu,” nàng nói. “Đó là đêm đi dạo tuyệt vời nhất đời em. Anh cũng vậy à?”
“Ừ,” Dougie nói. “Anh đã tản bộ. Anh nhìn mấy con hải cẩu bơi rồi ngắm bình minh. Anh nghĩ anh cũng thấy em bơi nữa đó”.
“Có đâu. Em thậm chí còn chẳng lội xuống nước,” nàng nói. Ánh trăng đã gây ảo giác khi anh mệt đó mà”. Nàng dịu dàng nói, bình thản nhìn anh. Một nỗi sợ hãi lan tỏa, lồng ngực anh đông cứng.
Khi cảnh sát địa phương đến báo bên tuần duyên không tìm thấy gì, Dougie rối rít xin lỗi và giải thích rằng Catrina đã về nhà bình yên và mọi chuyện đều ổn. Anh ngủ được mười hai giờ liền. Cho rằng mình đã bị ảo giác, anh cảm thấy khá hơn. Hai tuần sau các cơn co thắt của Catrina bắt đầu xuất hiện. Ngay trước khi y tá của quận đến, Catrina nói với Dougie rằng cô yêu anh nhiều bao nhiêu và rằng, dù bất cứ chuyện gì xảy ra, anh hãy nhớ điều đó. “Sẽ không có chuyện gì xấu đâu,” anh nói. “Với lượng cá trích mà em đã nạp vào cơ thể thì chuyện mẹ tròn con vuông chỉ là đương nhiên.” Dougie đã đúng. Nàng đẻ dễ còn thằng cu khỏe mạnh. Nó có màu tóc và mắt của mẹ nhưng giống ông nội của Dougie. Có lẽ rốt cuộc cha mẹ của Dougie cũng sẽ đến.
Những ngày đầu tiên là khoảnh khắc bận rộn nhọc nhằn trong ngất ngây hạnh phúc. Catrina ở trên giường, học cách cho con bú trong khi Dougie dành từng phút giây thức canh thay tã, ủ ấm cho Lewis. Bốn mùa trăng trôi quá nhanh với Catrina lẫn Dougie. Vào một buổi tối, khi Lewis được 5 tháng tuổi, nó khó chịu trong người, quấy khóc suốt. Bầu trời suốt ngày u ám; đến đêm mây dày che khuất mặt trăng. Mẹ Lewis cho bú, đút ăn liên tục còn bố thì ôm lên ôm xuống, dạo quanh nhưng nó vẫn không nín. Catrina nói: “Chắc bị sình bụng.”
Dougie nói: “Có lẽ chúng ta nên kêu bác sĩ.”
“Trước tiên chúng ta hãy thử cho nó uống loại thuốc nước. Đi mua chỉ mất độ nửa tiếng.”
Dougie vừa lái xe về nhà vừa huýt sáo. Trước khi Lewis được sinh ra, mọi thứ tuyệt vời. Bây giờ phải gọi là hoàn hảo. Ngay khi anh vừa đẩy cửa bước vào, sự im lặng bao trùm. Thằng cu bé bỏng tội nghiệp chắc đã thiếp đi, vậy là ổn rồi. Dougie bước rón rén vào phòng ngủ, tới bên cái cũi. Lewis say giấc bình yên như thể cu cậu chưa hề nếm trải chút bứt rứt khó chịu nào. Dougie liếc về chỗ vợ mình. Catrina không bao giờ ngủ trên một chiếc giường ngăn nắp trật tự mà nàng thường cuộn tròn, nằm ẩn sâu dưới nhiều lớp mền. Anh nhón chân đi đến... Chiếc giường trống rỗng.
Dougie nhảy bổ ra, chạy quanh nhà rồi lao về hướng bờ biển tối om, hét gọi nhưng không thấy Catrina đâu cả. Mấy cái đầu đen ngòm bung lên mặt sóng dữ sau đó biến mất. Trên đám cỏ bị cắt sát rạt bao quanh bờ cát, một khối đen thù lù cựa quậy nhưng đó chỉ là một con cừu đang vào sâu hơn trong đất liền. Nhớ đến đứa con trai đang say ngủ, Dougie vội vàng trở lại ngôi nhà im ắng. Lewis vẫn đang ngủ ngon lành. Tim Dougie ngừng đập. Anh pha một tách trà rồi dành thời gian xem xét kĩ ngôi nhà. Đúng như anh dự đoán, đồ nàng còn đủ, trừ chiếc áo khoác da hải cẩu. Anh đợi đến rạng sáng mới gọi cho lực lượng tuần duyên. Sau ba ngày, họ ngừng tìm kiếm.
*
Mặc dù đã hòa giải với cha mẹ, nhưng giờ Dougie hầu như không thể theo tín ngưỡng của họ. Ông tin rằng ông đã đánh mất Catrina vì chút yếu đuối trong con người mình, một điều gì đó kìm hãm. Vậy nên ông đổ lỗi cho giáo hội, cho nhà thờ. Dougie đã ngắm nhìn bãi biển trong rất nhiều đêm trăng sáng, nhưng con trai ông không hề biết mẹ mình. Lewis lớn lên, trông xanh xao, khô cằn, không ra dáng thanh niên. Mặc dù cha con ông rất thương nhau, nhưng cả hai ít khi tâm sự. Vào những buổi chiều chủ nhật, họ đến thăm ông bà nội của Lewis, những người đã cố ép Lewis ăn bánh pút-đinh với thịt bò nướng nhưng cháu trai của họ quá kén, anh chỉ ăn ít bánh còn thịt thì chẳng hề đụng.
Dẫu sống ven biển, Lewis đã không học bơi cho tới lúc lên cấp hai khi cứ nửa tháng lại có một buổi học bơi. Anh bắt đầu miệt mài tập luyện bơi lội như khu vườn khô hạn gặp mưa. Tại phòng giáo viên, thầy dạy thể dục nói với Dougie rằng Lewis có tài năng thực sự. Thầy nói thêm, “Tất nhiên, em nó hầu như không thể trở thành một vận động viên bơi lội đỉnh cao với thể trạng như thế được.” Dougie cười gượng gạo; rốt cuộc, ông không thể ngăn cản cậu chàng. Kể từ hôm đó, hầu như sáng thứ Bảy nào Dougie cũng lái xe chở Lewis đến bể bơi, ngay cả những ngày hè ông cũng không cho cậu chàng bơi ở biển. Các dòng chảy trong vịnh đó thay đổi khôn lường, quá nguy hiểm.
Năm mười bảy tuổi, Lewis nhận được một suất học tại trường Robert Gordon, vì vậy anh đã đến Aberdeen để học. Cha của anh đã giúp anh mang đồ đạc tới căn hộ mà anh thuê chung với hai học viên mới người nước ngoài. Dougie muốn gặp họ. Ông không lo lắng về người Malaysia, nhưng sau những câu chuyện rùng rợn trong chiến tranh, ông muốn kiểm tra xem anh chàng người Nhật có phải là một kẻ tâm thần hay không. Ito có vẻ tử tế, dễ chịu và Dougie cảm thấy còn vui hơn những gì mình mong đợi khi lái xe về nhà. Anh ước gì Catrina có thể nhìn thấy Lewis - vẫn là một chàng trai gầy gò nhưng là thật đáng yêu. Còn ước gì hơn.
Có thể do khí hậu ở miền biển phía đông hoặc do thức ăn hay tập thể dục mà ở Aberdeen một thời gian Lewis đã lớn hẳn ra. Anh tham gia câu lạc bộ bơi lội của trường và có chân trong đội dự bị. Ba người bạn cùng phòng trở thành bạn bè thân thiết và thay phiên nhau nấu bữa tối. Món hải sản tươi sống Nhật Bản rồi các buổi tập hàng ngày đã tạo sự thèm ăn nơi Lewis. Sau hai tuần đầu tiên với xúc xích, khoai tây chiên và bánh pizza, Lewis đã bỏ các món kiểu Scotland của mình và bắt đầu tập ăn theo Ito. Ở Aberdeen, người ta có thể sống thanh đạm với những con cá tươi nhất và họ thường ăn cá trích ba bốn lần một tuần. Đến lễ Phục sinh, Lewis đã cao lên hơn 5 cm và tăng thêm 10 kg. Mùa hè sau đó, anh bắt đầu hẹn hò với Jess, con gái út nhà Kirsty Greenwood.
Lewis trở thành chủ tịch câu lạc bộ bơi lội của trường đại học. Lần đầu tiên anh đi bơi ở vịnh nơi anh sinh ra, người cha sợ hãi của anh đã đứng canh trên bờ. Dougie không kìm được vẻ tự hào về nét thanh nhã, duyên ngầm và vẻ mặt lành lạnh của con trai mình khi đang đối mặt với những vùng nước thực sự nguy hiểm. “Nó có tố chất đó… Cá gặp nước, phải không nào?”, một giọng nói khô khan vang lên. Dougie đã không thấy ông mục sư đến gần và hơi nghi ngờ câu nói đó. Nhưng ánh mắt của ông già thật thân thiện. Ông ta vừa dắt con chó nhỏ đi dạo vừa chuyện trò.
“Đúng vậy,” Dougie đáp. “Sở thích của nó”.
Những cuộc bơi đêm của Lewis bắt đầu vào mùa hè năm anh hai mươi tuổi. Khi Dougie nghe tin, ông thầm cầu nguyện lần đầu tiên kể từ khi Catrina chết. Có lẽ những lời cầu nguyện của ông mong cho con trai trở về bình an vô sự. Có lẽ những lời nguyện cầu của ông sẽ khiến con trai ông không ra biển vào mùa trăng, đông cũng như hè. Kỹ năng của Lewis ngày càng phát triển và anh đã thi đấu ở cấp quốc gia sau đó là quốc tế. Rồi anh trở nên nổi tiếng với tấm huy chương đồng Olympic. Anh bơi rất nhanh, nhưng thể lực: sức chịu đựng, sự bền bỉ dẻo dai mới thật đáng nể. Khi anh bơi liền một vòng quanh hòn đảo, tin được báo chí đưa lên trang nhất. Và mùa hè sau, bài báo Chàng trai bơi qua eo biển Minch gây sốt cộng đồng mạng.
Điều đó đã thay đổi cuộc đời của Lewis. Khi người chủ chuỗi nhà hàng Tokyo đọc một bài báo trên tờ The Independent nói cá sống giúp nâng cao thể lực, sức bền của chàng trai liền mời anh đến Nhật Bản. Những cuộc bơi lội của Lewis giữa các hòn đảo của Nhật Bản dẫu mang tính cổ động, quảng cáo là chính đã trở thành huyền thoại nhưng quan trọng hơn, anh gặp được Yuki. Cuộc hôn nhân của anh làm tan nát trái tim Jess suốt hai năm trời nhưng lại khiến người cha của anh hài lòng. Yuki và Lewis đã có ba mặt con, tất cả đều khỏe mạnh - minh chứng rõ ràng lợi ích dinh dưỡng của sushi và sashimi. Giống người mẹ, Lewis coi trọng sự riêng tư của mình và đã yêu cầu gia đình không bao giờ làm phiền khi anh đang tắm. Một đêm xuân trăng sáng, anh quên khóa cửa phòng tắm lớn kiểu Nhật và Yuki vô tình bước vào. Cô giật lùi ngay lập tức vì thấy cái... gò đen dưới mặt nước. Yuki yêu và trọng anh, người cũng hết lòng yêu thương vợ con. Cô chôn chặt hình ảnh đó, nhủ thầm rằng mình hoa mắt, đầu óc lơ đễnh và ánh trăng đã tạo ảo giác. Họ sống hạnh phúc, từng ngày trọn vẹn.
*
Hàng năm Dougie đến thăm con trai và con dâu ở Hokkaido và những năm sau đó ông rất vui vì hạnh phúc của họ. Ông thấy Yuki linh hoạt hơn, mạnh mẽ hơn ông trong cách cư xử và quản lí gia đình và ông biết ơn cô về điều đó. Trở về quê, ông vẫn đi dạo trên bãi biển dưới ánh trăng, dù thời tiết ôn hòa hay khắc nghiệt. Đôi khi có những hải cẩu xuất hiện. Nhớ khi cháu gái của ông lần đầu tiên bơi qua Nhật Bản, ông đã hét tướng lên, kèm lời nhắn nhủ vọng theo các con sóng nhưng không một cái đầu đang nhấp nhô nào quay lại. Máu của Dougie vẫn chảy nhanh, tim vẫn loạn nhịp trước bất kỳ tiếng động nào từ những vũng nước tối quanh bờ đá nhưng không có người phụ nữ luống tuổi nào trong chiếc áo khoác đẫm nước xuất hiện. Tuy nhiên, ông vẫn hy vọng. Điều đó có thể xảy ra.
Hồ Nghĩa dịch
(Nguyên bản: The boy who swam the Minch)
(TCSH397/03-2022)
MISHIMA YUKIO (Nhật Bản)Nhà văn Nhật Bản Mishima Yukio (1925 - 1970) bắt đầu in các tác phẩm của mình từ những năm 20 tuổi. Ông được tặng nhiều giải thưởng văn học và ba lần được đề cử vào giải Nobel văn chương.
PAUXTÔPXKIChúng ta yêu mến thứ ánh sáng bảo hiểm của những ngọn hải đăng nhưng ít khi nhìn thẳng vào nó. Thường chỉ có những người bảo vệ và các tay lái tàu dán mắt vào hải đăng để kiểm tra bí mật độ loé sáng của nó. Bởi vì tất cả hải đăng trên biển đều nháy và nhấp nhánh khác nhau, theo những tín hiệu đó, người ta có thể biết được hải đăng nào và con tàu đang ở đâu.
SLAWOMIR MROZEK (Ba Lan)(Lê Bá Thự dịch từ nguyên bản tiếng Ba Lan)
ALPHONSE DAUDETSự kiện phản ánh trong truyện xảy ra năm 1871, thời kỳ chiến tranh Pháp - Phổ, khi quân đội Phổ (Đức) đã chiếm đóng và sáp nhập hai tỉnh Alsace và Lorraine của Pháp vào lãnh thổ Đức.
DOMINIQUE DE VILLEPINTác giả Dominique de Villepin, sinh năm 1953, đương kim Bộ trưởng Ngoại giao Pháp, là người phát ngôn cho chính sách hòa bình đối lập với đường lối chiến tranh Bush-Blair trong vụ tập kích Irak đầu năm 2003. Nơi đầu sóng ngọn gió của bang giao quốc tế, ông đã đồng thời cho xuất bản một khảo luận về Thơ, Ngợi ca những Người Cướp Lửa, tượng trưng cho Người Làm Thơ, qua hình ảnh mượn của Arthur Rimbaud, lấy từ huyền thoại Prométhée.
MARK TWAINTwain, Mark, (Samuel Langhorne Clemens), nhà văn Mỹ, (1835-1910). Sinh tại Florida, bang Missouri. Là con thứ tư trong một gia đình thương nhân nghèo. Chưa đầy 12 tuổi, Clemens đã phải thôi học để học nghề sắp chữ in, rồi làm đủ nghề. Năm 1853, bị thôi thúc bởi ý muốn tìm hiểu thế giới, lên đường đi nhiều nơi, làm thợ in công nhật ở St. Louis, New York và Philadelphia. Đến sông Mississipi, hành trình dự kiến đi Brazil bị đình lại vì Clemens lại mơ ước trở thành hoa tiêu trên sông.
HARUKI MURAKAMI (Nhật Bản)Chàng và nàng đang đi trên một con đường. Dọc bãi tha ma. Lúc nửa đêm. Sương mờ vây phủ. Họ tuyệt nhiên không định đi ở nơi chốn này vào lúc này. Nhưng vì các nguyên do khác nhau họ đã buộc phải đi. Họ bước vội vàng, nắm chặt tay nhau.
GRAHAM GREENE (Anh)Có tám người đàn ông Nhật đang ăn bữa tối ở nhà hàng cá nổi tiếng Bentley's. Họ chỉ trao đổi với nhau dăm ba câu bằng thứ tiếng mẹ đẻ khó hiểu của họ, nhưng luôn có nụ cười nhã nhặn và thường mỗi câu lại kèm một cử chỉ cúi đầu lịch thiệp. Tất cả tám người, trừ có một, đều đeo kính. Thỉnh thoảng cô gái xinh đẹp ngồi phía cửa sổ lại đưa một cái nhìn lướt qua họ, nhưng xem ra chuyện của cô ta quá quan trọng, khiến cô ta không thể thực sự chú ý tới bất kỳ ai trên đời ngoài chính mình và người ngồi cùng bàn.
VICTORIA CHIE (ÚC)Cảm giác xấu hổ như kẻ đang làm điều mờ ám, Anne Peterson đặt bút run run ghi tên mình vào phần trống trong bản tự giới thiệu của văn phòng môi giới hôn nhân. Chẳng lẽ lại đến nông nổi này sao? 49 tuổi, trông còn rất trẻ, duyên dáng, đầy sức sống, thành đạt, vật chất đầy đủ, đã ly dị, thế mà phải nhờ môi giới kiếm cho một tấm chồng. Mà anh ta là ai, cũng là một kẻ nào đấy tìm đến đây với những dòng tự giới thiệu cứng nhắc. Thôi, đành vậy chứ biết sao, chỉ vì quá yêu con gái Cindy mà Anne đã phải chịu đựng nỗi trống trải cô đơn ròng rã suốt bao năm trời.
NGÔ KIM LƯƠNG (Trung Quốc)"Nếu còn gặp người, nhất định phải nói", Trần Tĩnh đang nghĩ, ngước mắt lên nhìn ánh đèn vàng vọt trong ngõ nhỏ. Đêm khuya rồi, khắp nơi là hình ảnh kỳ quái của một màn đêm đen kịt. "Ai cha! Chiếc xe đạp xui xẻo này!" - Cô đẩy chiếc xe, không biết phải nói thế nào.Sau lưng vang lên một hồi chuông xe đạp, Trần Tĩnh "ai cha" một tiếng, chàng trai cưỡi xe đạp đã lướt vèo qua rồi.
S.MROZEKCó một lần tôi đi du lịch.Vì không có tàu trực tiếp đến nơi tôi cần tới nên tôi phải xuống một ga dọc đường để chuyển sang tàu khác.Hôm đó là một buổi tối. Mãi sáng hôm sau con tàu tiếp theo tôi sẽ phải đi mới đến.Tôi rời nhà ga, vào thị trấn để kiếm nơi ở trọ.
JOYCE BEGG (Úc)Bà Firbank trở thành hàng xóm của chúng tôi đã lâu, dễ đến sáu bảy năm nay, nhưng thật sự trong chúng tôi chẳng ai dám khẳng định mình biết rõ về người đàn bà này. Xung quanh bà ta lúc nào cũng bao phủ một bầu không khí bí hiểm, ma quái, ngay cả toà dinh thự cổ của bà ta cũng gợi cho người ta cái vẻ rờn rợn, lạnh lẽo giống như nơi trú ẩn của những linh hồn cõi âm.
KRISHNAN VARMAKrishnan Varma sinh ở Kerala, Ấn Độ. Ông viết bằng hai thứ tiếng Anh và Malayalam. Trong nhiều tác phẩm của mình, ông chia sẻ sự quan sát đối với cuộc sống của lớp người cùng khổ trên đất nước ông.
ARTURO VIVANTELời giới thiệu: Nhà văn Arturo Vivante sinh năm 1923 ở Rome, tốt nghiệp cử nhân đại học McGill, Canada, 1945, tốt nghiệp y khoa đại học Rome, 1949. Ông hành nghề bác sĩ toàn khoa, đồng thời sinh hoạt và nghiên cứu về văn chương ở một số trường đại học Mỹ. Vivante là nhà văn rất nổi tiếng với các truyện cực ngắn và các giai thoại.
KÔNXTANTIN PAUXTÔPXKI Mùa Thu. Những hạt sương mai tháng Chín lạnh giá, mọng nước rơi tung tóe từ những tán lá trên cao xuống và bắn cả vào người tôi. Sương từ các nhành cây nhỏ giọt xuống mặt nước sông đen thẫm, tạo thành những vòng tròn và chậm rãi lan ra xung quanh.
LTS: Mario Bendetti sinh tại Paso de los Toros (Tacuarembó ) ngày 14 tháng 9 năm 1920. Ông theo học tại trường tiểu học tiếng Đức ở Montevideo và trường trung học Miranda, đã từng làm nhiều nghề như nhân viên bán hàng, tốc kí, kế toán, viên chức nhà nước và phóng viên. Từ năm 1938 đến 1941 ông sống chủ yếu ở Buenos Aires . Năm 1945, khi trở về Montevideo, ông viết bài cho tuần báo nổi tiếng Marcha, qua đó trở thành phóng viên bên cạnh Carlos Quijano và rồi trở thành một thành viên trong ê-kíp của ông này cho tới tận năm 1974 khi tuần báo ngừng xuất bản.Năm 1973, vì lí do chính trị, ông phải rời bỏ tổ quốc,bắt đầu cuộc sống lưu vong kéo dài mười hai năm ở những quốc gia: Ác-hen-ti- na và Tây Ban Nha. Quãng thời gian này đã để lại những dấu ấn vô cùng sâu sắc trong cuộc đời ông cũng như trong văn nghiệp.
YUKIO MISHIMA (Nhật Bản)YUKIO MISHIMA tên thật là HIRAOKA KIMITAKE (1925-1970). Sinh tại Tokyo.Tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Tokyo . Nhà văn, kịch tác gia, đạo diễn sân khấu và điện ảnh, diễn viên.Năm 16 tuổi đã xuất bản truyện vừa lãng mạn Khu rừng nở hoa. Tiểu thuyết Lời thú tội của chiếc mặt nạ ra năm 1949 đã khẳng định tên tuổi của nhà văn trẻ tài năng và trở thành tác phẩm được đánh giá là kinh điển của nền văn học Nhật Bản.
KOMASHU SAKIO (Nhật Bản)Sinh 28/1/1931 tại Osaka (Nhật Bản). Nhà văn chuyên viết truyện khoa học giả tưởng nổi tiếng của Nhật Bản.Tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Kyoto , chuyên ngành Văn học Italia.Từ năm 1957 là phóng viên Đài Phát thanh Osaka và viết cho một số các báo. Năm 1961 chiến thắng trong cuộc thi truyện ngắn giả tưởng xuất sắc do tạp chí "SF Magasines" tổ chức.Tác phẩm của Komatsu đã được dịch ra rất nhiều thứ tiếng trên thế giới.
S. MROZEK (Ba Lan)Có lần tôi bắt gặp một con chó ác bụng đang rượt đuổi một con mèo. Bởi tôi là người yêu động vật nên tôi bèn vớ ngay một cục đá to sụ quẳng vào con chó khiến nó ngã lăn quay, nằm đứ đừ một hồi lâu. Chú mèo nhỏ không nhà, con vật bé xíu nom mệt phờ râu. Không chút do dự - tôi cho nó nương nhờ. Đây quả là một con mèo đẹp mã, lông mịn màng, mắt long lanh. Tôi đem nhốt nó vào trong nhà, đoạn bỏ đi chơi bời trác táng.
KITA MORIO (Nhật Bản)Kita Morio (sinh năm 1927) là nhà văn thuộc thế hệ hậu chiến của Nhật Bản. Tốt nghiệp Đại học Y. Năm 1960 được trao giải thưởng mang tên Akutagawa với truyện ngắn Trong bóng tối đêm, cốt truyện xảy ra trong một bệnh viện tâm thần ở Đức thời kì Chiến Tranh Thế Giới thứ II. Nổi tiếng với các tác phẩm giả tưởng khoa học và chống chiến tranh.