Thực tâm trọng dụng nhân tài

16:08 13/03/2013

Trong những giá trị minh triết và sách lược tinh túy của tiền nhân, trọng dụng nhân tài mãi là bài học cho muôn đời sau.

Trân trọng hiền tài từ xa xưa đã trở thành mối quan tâm hàng đầu của minh quân, lãnh tụ. Tưởng không có cách biểu đạt nào thiêng liêng hơn dòng chữ đề bia tiến sĩ ở Văn miếu Quốc tử giám. Đại thần kiệt xuất Thân Nhân Trung được vua Lê Thánh Tông, vị vua anh minh vào bậc nhất giao soạn bài văn bia cho bia tiến sĩ đầu tiên. Trong bài văn bia này, Thân Nhân Trung đã nêu bật được tầm quan trọng của giáo dục nhân tài đối với việc hưng thịnh của đất nước: “Hiền tài là nguyên khí quốc gia. Nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh mà hưng thịnh. Nguyên khí suy thì thế nước yếu mà thấp hèn”. Nhà bác học Lê Quý Đôn học vấn uyên thâm, văn tài chói sáng vượt biên và lịch duyệt trong trước tác về thuật trị nước đã đúc kết rằng “không có tri thức thì không có hưng thịnh” và một trong những nguyên nhân dẫn tới mất nước là “sĩ phu ngoảnh mặt”.

Các bậc tiền nhân quan niệm nhân tài như mạch nguồn tiềm ẩn trong xã hội, phải có cách mới khai thông được. Nhân tài thường không tự tỏa sáng mà phải có chủ thuyết mới có thể thắp sáng lên được. Đối với nhân tài, cái cần đầu tiên không phải là đãi ngộ về vật chất mà là trọng thị về nhân tâm. Người cầu hiền phải thật sự có tâm và có tầm để đủ sức thu phục nhân tài. Người có tâm sáng xuất phát từ tầm nhìn cao rộng, vì đại cuộc mới phát hiện được, lắng nghe được và trọng dụng được nhân tài. Những ai đố kỵ nhân tài, bụng dạ hẹp hòi, thiển cận không sao làm nổi việc này.

Lịch sử nước ta chứng kiến không ít lần sau khi bình định giặc ngoài, thu lại non sông, công cuộc kiến thiết được bắt tay từ chiếu cầu hiền, giao trách nhiệm cho những người có nghĩa vụ tiến cử và khuyến khích những người có tài đức tự tiến cử. Người cầu hiền luôn canh cánh một nỗi là tài mình chưa đủ cao, đức mình chưa đủ dày để vời cho hết những nhân tài còn ẩn dật trong thiên hạ.

Tiếp đến, đó là các khoa thi được tổ chức nghiêm ngặt, công bằng và quy củ để kén chọn nhân tài. Những người đỗ đại khoa xuất thân từ những tầng lớp khác nhau nhưng vẫn được giao trọng trách, gần như không có sự hạn chế về thành phần hay phân biệt. Tuy vậy, khoa cử đã không phải là con đường tiến thân duy nhất của những người có tài. Thời vua Trần Anh Tông, vì thực tài Đoàn Nhữ Hài được bổ ngay làm Ngự sử Trung tán khi còn là một thư sinh trẻ tuổi mà không hề thuộc hàng hoàng thân quốc thích hay dòng dõi trâm anh.

Trọng dụng người tài giỏi, đối với người xưa không chỉ là sách lược của người đứng đầu, được triển khai trong thực tế thông qua các hình thức thu hút, tuyển chọn mà còn được thể chế hóa thành nghĩa vụ pháp lý của những người có phận sự. Điều 174 của Quốc triều hình luật (Bộ luật Hồng Đức) quy định: “Những người làm nhiệm vụ cử người mà không cử được người tài giỏi thì bị biếm hoặc phạt theo luật nặng nhẹ; nếu vì tình riêng hoặc lấy tiền thì xử tội nặng thêm hai bậc”. Đáng ngạc nhiên là cách đây hơn 500 năm, nghĩa vụ tuyển dụng người tài đối với quan chức hữu quan đã được luật hóa với chế tài cụ thể. Thiết nghĩ vượt qua từng ấy thời gian, điều luật này vẫn giữ nguyên tính thời sự.

Sinh thời, đi theo truyền thống quý trọng kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí, bồi đắp nhân tài của tiền nhân, lãnh tụ Hồ Chí Minh là gương sáng về trọng dụng nhân tài. Ngay sau Tuyên ngôn độc lập, cùng với một trong những việc cấp bách phải làm ngay là “phải có một hiến pháp dân chủ” để nhân dân ta “được hưởng quyền tự do dân chủ”, Chủ tịch Hồ Chí Minh liên tiếp có những lời kêu gọi, bài viết bộc lộ sự tha thiết, lòng khát khao, ý chí mong mỏi mời được người tài ra giúp nước, phụng sự nhân dân, căn dặn những người có trách nhiệm lãnh đạo phải biết cách trọng dụng nhân tài. Người nhìn nhận bấy giờ, “nhân tài nước ta dù chưa có nhiều lắm nhưng nếu chúng ta khéo lựa chọn, khéo phân phối, khéo dùng thì nhân tài càng ngày càng phát triển nhiều thêm”. Người luôn áy náy: “Chính phủ không nghe đến, không thấy khắp, đến nỗi những bậc hiền tài không thể xuất thân” và giao trách nhiệm cụ thể cho các địa phương tìm kiếm, báo cáo, tiến cử những người tài đức cho Chính phủ. Chủ trương thông thoáng trong trọng dụng nhân tài phát đi từ người đứng đầu Chính phủ đã làm cho nhiều nhân sĩ, trí thức bỏ lại sau lưng cuộc sống phồn hoa, sung túc, danh vọng để đi theo kháng chiến kham khổ mà vinh quang. Nhiều người sau này đã trở thành tri kỷ với Người. Nhà chí sĩ cao tuổi Huỳnh Thúc Kháng lúc đầu ra Hà Nội chỉ để “bày tỏ một vài ý kiến, còn việc khác thì không thể nhận” đã cảm động tấm lòng liên tài của Người mà nhận lãnh trọng trách bộ trưởng Bộ Nội vụ trong chính phủ liên hiệp kháng chiến và quyền chủ tịch nước khi Người đi vắng.

Đúc kết bài học từ tiền nhân về trọng dụng nhân tài, chúng ta thấy chỉ có chủ trương thông suốt, chính sách thỏa đáng, chiến lược thực chất, khung pháp lý đầy đủ và môi trường tương thích mới thu hút được nhân tài. Nếu chỉ quan tâm một cách hình thức, chiếu lệ hay bỏ mặc cho các địa phương tùy hứng mà “chiêu hiền, đãi sĩ” thì nhân tài khó mà ngoảnh lại.

Trọng dụng nhân tài phải mang tầm chiến lược.Và điều quan trọng hơn, muốn trọng dụng được nhân tài thì những người đứng đầu các cơ quan, đơn vị phải có tâm thế để có thể phát hiện và thu phục. Bởi lẽ người xưa có câu rất thanh tao về sự tương ngộ: “Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”. Nhưng người xưa cũng có câu đầy cảnh tỉnh về thói bè phái: “Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã”.

Theo TS Huỳnh Văn Thới ( phapluattp.vn)

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • Theo định hướng phát triển hiện nay, Huế sẽ là đô thị trung tâm, đô thị hạt nhân giữ vai trò động lực cho Thành phố trực thuộc Trung ương trong tương lai.

  • Thuở xưa, mỗi làng có một hương ước, nhiều làng có hương ước thành văn nhưng cũng có làng có hương ước bất thành văn.

  • Khi nhắc đến xứ sở Phù Tang, điều đầu tiên thế giới nghĩ đến là một Nhật Bản thần kỳ, giàu mạnh về kinh tế và điều thứ hai chắc chắn sẽ là sự đối mặt thường xuyên với thảm họa thiên tai.

  • “Có động đất ở Nhật Bản!” Tôi đang loay hoay xếp lại chồng sách vở ngổn ngang trên bàn thì nghe chồng tôi, giáo sư Michimi Munarushi người Nhật mới về Việt Nam 3 hôm trước báo.

  • Không có một vùng đất thứ hai nào trên dải đất hình chữ S của Việt Nam có vị trí hết sức đặc biệt như Huế. Nơi đây, từ 1306, bước chân Huyền Trân xuống thuyền mở đầu cho kỷ nguyên mở nước về Nam, Thuận Hóa thành nơi biên trấn.

  • I. Đặt vấn đề 1.1. Năm 1945, sau khi nhà Nguyễn cáo chung, một số giá trị văn hóa phi vật thể của Huế không còn giữ được môi trường diễn xướng nguyên thủy, nhưng những gì nó vốn có vẫn là minh chứng độc đáo về sự sáng tạo văn hóa của dân tộc Việt Nam.

  • Đưa Thừa Thiên Huế trở thành thành phố trực thuộc Trung ương trong vài năm tới đã trở thành quyết tâm chính trị của cán bộ đảng viên và nhân dân Thừa Thiên Huế.

  • Thăng Long - Hà Nội, thủ đô, trái tim của cả nước, qua ngàn năm phát triển, đã trở thành biểu tượng của nền văn hiến Việt Nam, là niềm tự hào của cả dân tộc.

  • Sau khi phục dựng thành công lễ tế Nam Giao và lễ tế Xã Tắc trong những năm qua, thiết nghĩ việc tái hiện lễ tế Âm Hồn 23.5 ở quy mô thành phố/ tỉnh là một việc làm có ý nghĩa trong việc bảo tồn bản sắc văn hóa và quảng bá du lịch của thành phố Huế chúng ta.

  • Thừa Thiên Huế - vùng đất chiến lược nối giữa hai miền Bắc - Nam từng là “phên dậu thứ tư về phương Nam” của Đại Việt, nơi “đô hội lớn của một phương”; từng là thủ phủ của xứ Đàng Trong, kinh đô của đất nước dưới thời Quang Trung - Nguyễn Huệ và triều Nguyễn (1802 - 1945); là miền đất địa linh nhân kiệt gắn liền với những tên tuổi lớn trong hành trình lịch sử của dân tộc, của ngàn năm Thăng Long...

  • Đưa Thừa Thiên Huế trở thành thành phố trực thuộc trung ương trong vài năm tới theo tinh thần kết luận số 48 của Bộ Chính trị đã mở ra một mốc mới mang tính lịch sử. Với kết luận này, đặt ra nhiệm vụ cho Huế phải trở thành trung tâm của khu vực miền Trung và là một trong những trung tâm lớn, đặc sắc của cả nước về văn hóa, du lịch, khoa học công nghệ, y tế chuyên sâu và giáo dục đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực.

  • Ôn cố để tri tân, Festival Huế 2010 là lần tổ chức thứ VI. Qua 6 lần tổ chức, nhìn lại những ngày liên hoan văn hóa Việt Pháp (1992) do thành phố Huế phối hợp với Codev tổ chức, anh chị em văn nghệ sĩ Huế lúc bấy giờ phấn khích lắm vì đây là cơ hội tiếp xúc với thế giới dù chỉ mới có một nước Pháp. Họ thấy cần có trách nhiệm phải tham mưu để xây dựng chương trình cũng như chủ động tham gia hoạt động trong lĩnh vực của mình.

  • Như thường lệ, hàng năm Hội LHVHNT Thừa Thiên Huế tiến hành xét tặng thưởng cho các tác phẩm, công trình văn học nghệ thuật xuất sắc.

  • Chúng ta đã đi hết gần chặng đường 10 năm đầu của thiên niên kỷ mới. Thời đại chúng ta đang sống là thời đại mà sự phát triển song hành giữa cơ hội và thách thức đan xen.

  • (Thừa Thiên Huế trên tiến trình xây dựng thành phố trực thuộc Trung ương)

  • Những năm cuối cùng của thế kỷ XX, cùng với thành tựu của công cuộc đổi mới diễn ra sôi động trên đất nước Việt Nam, sức sống của vùng văn hoá Huế sau những năm dài tưởng chừng đã ngủ yên chợt bừng dậy và lấp lánh tỏa sáng.

  • Thơ không thể tách rời đời sống con người. Điều đó đã được thời gian minh chứng. Từ lời hát ru của mẹ, những giọng hò trên miền sông nước,… đã đánh thức tình yêu thương trong mỗi chúng ta.

  • Gần đây, khi Đảng ta chứng tỏ sự quan tâm của mình đối với đội ngũ trí thức thì trong dư luận cũng đã kịp thời có những phản ứng cộng hưởng. Điều mà chúng tôi lĩnh hội được gồm 3 câu hỏi tưởng chừng như "biết rồi khổ lắm nói mãi" nhưng lại không hẳn thế. Nó vẫn mới, vẫn nóng hổi vì sự tuyệt đối của qui luật vận động cũng như vì tính cập nhật, tính ứng dụng của đời sống. Chúng tôi xin được nêu ra và cùng bàn, cùng trao đổi cả 3 vấn đề.

  • Trí thức là những người mà lao động hàng ngày của họ là lao động trí óc, sản phẩm của họ làm ra là những sản phẩm trí tuệ, nhưng sản phẩm ấy phải là những sản phẩm có ích cho xã hội...

  • Ở Huế ngày xưa, người học trò nào cũng có một “Tủ sách Học trò” riêng tư cho mình và nhà nào cũng có một “Tủ sách Gia đình” để dùng chung trong nhà. Người Huế rất trọng học vấn, rất trọng sự hiểu biết nên rất trọng sách. Vì vậy, họ cất sách rất kỹ. Họ thường cất sách để làm kỷ niệm riêng tư cho mình về sau đã đành mà họ còn cất sách để dành cho đám đàn em con cháu của họ trong gia đình, dùng mà học sau nầy. Người Huế nào cũng đều cùng một suy nghĩ là ở đời, muốn vươn lên cao thì phải học và đã học thì phải cần sách. Đối với họ, sách quý là vậy. Lễ giáo Khổng Mạnh xưa cũng đã đòi hỏi mỗi người Huế thấy tờ giấy nào rớt dưới đất mà có viết chữ Hán “bên trên” là phải cúi xuống lượm lên để cất giữ “kẻo tội Trời”! Người xưa cũng như họ, không muốn thấy chữ nghĩa của Thánh hiền bị chà đạp dưới chân.