Trong những giá trị minh triết và sách lược tinh túy của tiền nhân, trọng dụng nhân tài mãi là bài học cho muôn đời sau.
Trân trọng hiền tài từ xa xưa đã trở thành mối quan tâm hàng đầu của minh quân, lãnh tụ. Tưởng không có cách biểu đạt nào thiêng liêng hơn dòng chữ đề bia tiến sĩ ở Văn miếu Quốc tử giám. Đại thần kiệt xuất Thân Nhân Trung được vua Lê Thánh Tông, vị vua anh minh vào bậc nhất giao soạn bài văn bia cho bia tiến sĩ đầu tiên. Trong bài văn bia này, Thân Nhân Trung đã nêu bật được tầm quan trọng của giáo dục nhân tài đối với việc hưng thịnh của đất nước: “Hiền tài là nguyên khí quốc gia. Nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh mà hưng thịnh. Nguyên khí suy thì thế nước yếu mà thấp hèn”. Nhà bác học Lê Quý Đôn học vấn uyên thâm, văn tài chói sáng vượt biên và lịch duyệt trong trước tác về thuật trị nước đã đúc kết rằng “không có tri thức thì không có hưng thịnh” và một trong những nguyên nhân dẫn tới mất nước là “sĩ phu ngoảnh mặt”.
Các bậc tiền nhân quan niệm nhân tài như mạch nguồn tiềm ẩn trong xã hội, phải có cách mới khai thông được. Nhân tài thường không tự tỏa sáng mà phải có chủ thuyết mới có thể thắp sáng lên được. Đối với nhân tài, cái cần đầu tiên không phải là đãi ngộ về vật chất mà là trọng thị về nhân tâm. Người cầu hiền phải thật sự có tâm và có tầm để đủ sức thu phục nhân tài. Người có tâm sáng xuất phát từ tầm nhìn cao rộng, vì đại cuộc mới phát hiện được, lắng nghe được và trọng dụng được nhân tài. Những ai đố kỵ nhân tài, bụng dạ hẹp hòi, thiển cận không sao làm nổi việc này.
Lịch sử nước ta chứng kiến không ít lần sau khi bình định giặc ngoài, thu lại non sông, công cuộc kiến thiết được bắt tay từ chiếu cầu hiền, giao trách nhiệm cho những người có nghĩa vụ tiến cử và khuyến khích những người có tài đức tự tiến cử. Người cầu hiền luôn canh cánh một nỗi là tài mình chưa đủ cao, đức mình chưa đủ dày để vời cho hết những nhân tài còn ẩn dật trong thiên hạ.
Tiếp đến, đó là các khoa thi được tổ chức nghiêm ngặt, công bằng và quy củ để kén chọn nhân tài. Những người đỗ đại khoa xuất thân từ những tầng lớp khác nhau nhưng vẫn được giao trọng trách, gần như không có sự hạn chế về thành phần hay phân biệt. Tuy vậy, khoa cử đã không phải là con đường tiến thân duy nhất của những người có tài. Thời vua Trần Anh Tông, vì thực tài Đoàn Nhữ Hài được bổ ngay làm Ngự sử Trung tán khi còn là một thư sinh trẻ tuổi mà không hề thuộc hàng hoàng thân quốc thích hay dòng dõi trâm anh.
Trọng dụng người tài giỏi, đối với người xưa không chỉ là sách lược của người đứng đầu, được triển khai trong thực tế thông qua các hình thức thu hút, tuyển chọn mà còn được thể chế hóa thành nghĩa vụ pháp lý của những người có phận sự. Điều 174 của Quốc triều hình luật (Bộ luật Hồng Đức) quy định: “Những người làm nhiệm vụ cử người mà không cử được người tài giỏi thì bị biếm hoặc phạt theo luật nặng nhẹ; nếu vì tình riêng hoặc lấy tiền thì xử tội nặng thêm hai bậc”. Đáng ngạc nhiên là cách đây hơn 500 năm, nghĩa vụ tuyển dụng người tài đối với quan chức hữu quan đã được luật hóa với chế tài cụ thể. Thiết nghĩ vượt qua từng ấy thời gian, điều luật này vẫn giữ nguyên tính thời sự.
Sinh thời, đi theo truyền thống quý trọng kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí, bồi đắp nhân tài của tiền nhân, lãnh tụ Hồ Chí Minh là gương sáng về trọng dụng nhân tài. Ngay sau Tuyên ngôn độc lập, cùng với một trong những việc cấp bách phải làm ngay là “phải có một hiến pháp dân chủ” để nhân dân ta “được hưởng quyền tự do dân chủ”, Chủ tịch Hồ Chí Minh liên tiếp có những lời kêu gọi, bài viết bộc lộ sự tha thiết, lòng khát khao, ý chí mong mỏi mời được người tài ra giúp nước, phụng sự nhân dân, căn dặn những người có trách nhiệm lãnh đạo phải biết cách trọng dụng nhân tài. Người nhìn nhận bấy giờ, “nhân tài nước ta dù chưa có nhiều lắm nhưng nếu chúng ta khéo lựa chọn, khéo phân phối, khéo dùng thì nhân tài càng ngày càng phát triển nhiều thêm”. Người luôn áy náy: “Chính phủ không nghe đến, không thấy khắp, đến nỗi những bậc hiền tài không thể xuất thân” và giao trách nhiệm cụ thể cho các địa phương tìm kiếm, báo cáo, tiến cử những người tài đức cho Chính phủ. Chủ trương thông thoáng trong trọng dụng nhân tài phát đi từ người đứng đầu Chính phủ đã làm cho nhiều nhân sĩ, trí thức bỏ lại sau lưng cuộc sống phồn hoa, sung túc, danh vọng để đi theo kháng chiến kham khổ mà vinh quang. Nhiều người sau này đã trở thành tri kỷ với Người. Nhà chí sĩ cao tuổi Huỳnh Thúc Kháng lúc đầu ra Hà Nội chỉ để “bày tỏ một vài ý kiến, còn việc khác thì không thể nhận” đã cảm động tấm lòng liên tài của Người mà nhận lãnh trọng trách bộ trưởng Bộ Nội vụ trong chính phủ liên hiệp kháng chiến và quyền chủ tịch nước khi Người đi vắng.
Đúc kết bài học từ tiền nhân về trọng dụng nhân tài, chúng ta thấy chỉ có chủ trương thông suốt, chính sách thỏa đáng, chiến lược thực chất, khung pháp lý đầy đủ và môi trường tương thích mới thu hút được nhân tài. Nếu chỉ quan tâm một cách hình thức, chiếu lệ hay bỏ mặc cho các địa phương tùy hứng mà “chiêu hiền, đãi sĩ” thì nhân tài khó mà ngoảnh lại.
Trọng dụng nhân tài phải mang tầm chiến lược.Và điều quan trọng hơn, muốn trọng dụng được nhân tài thì những người đứng đầu các cơ quan, đơn vị phải có tâm thế để có thể phát hiện và thu phục. Bởi lẽ người xưa có câu rất thanh tao về sự tương ngộ: “Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”. Nhưng người xưa cũng có câu đầy cảnh tỉnh về thói bè phái: “Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã”.
Theo TS Huỳnh Văn Thới ( phapluattp.vn)
Ngày nay, khi văn học không hoàn toàn bấu víu vào những đại tự sự mà thay vào đó là sự lên ngôi của tiểu tự sự thì thế giới trong văn chương trở thành những thế giới ảo, dung chứa tất cả những lệch pha và ngụy tạo so với thế giới khách thể. Người sáng tạo cũng từ đó ý thức được sức mạnh trong việc cách tân bút pháp và thay đổi cảm quan trong thế giới chữ của mình.
NGUYỄN VĂN TOÀN
Té ra, cái thời nhân dân lao động làm chủ xã hội đã… xưa rồi Diễm. Và rằng, ở thời điểm hiện nay, VIP đã là một phần tất yếu của cuộc sống. Và họ cũng được dân gian nhìn nhận là những ông vua “con” ở cõi nhân tình thế thái khi sở hữu đầy ắp bao cơ man đô la và vàng bạc.
Huế là thành phố sông ngòi chằng chịt, từ sông đến đầm phá và biển. Đặc biệt, sông Hương và hệ thống thủy đạo kinh thành Huế cũng như các cồn bao quanh kinh thành phần lớn là hình ảnh mang tính biểu tượng của Huế, là một trong những cảnh quan chính của thành phố. Một sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa sông nước và lịch sử thành phố có khả năng tạo ra một sản phẩm du lịch độc đáo cho Huế, mở ra nhiều cơ hội việc làm và thu nhập cũng như cải thiện cuộc sống người dân dọc hai bên bờ sông.
Tri thức vốn dĩ là tài sản chung của nhân loại. Tri thức là cái kho học thuật vô giá mà mỗi con người cần được trau dồi để bảo đảm vai trò, chức năng của mình trong xã hội.
Việc đại biểu Đỗ Văn Đương (TP HCM) đề nghị Quốc hội nên có Luật Từ chức (17/11) khiến dư luận xã hội có những phản ứng trái ngược nhau trong mấy ngày trở lại đây.
Việt Nam đang đứng trước con đường có khá nhiều chông gai và nhiều thử thách. Hơn bất cứ quốc gia nào trên thế giới, Việt Nam cần nhiều sự đổi mới để tiếp tục phát triển.
Trong những năm gần đây, công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn đã tạo nên sự trù phú cho nhiều làng quê Việt. Tuy nhiên, song hành với đó bản sắc văn hóa làng Việt đang bị mai một dần; nếu không có giải pháp gìn giữ thì những làng quê truyền thống, những nếp làng xưa sẽ chỉ còn trong ký ức.
I. Ba bước chuyển hệ hình trong văn học Việt Nam và vai trò của các nhà văn trẻ
SHO - Có cảm giác như xã hội đang mặc nhiên coi chuyện chạy điểm cho con em, chạy theo thành tích cho học trò lâu ngày đã thành thói quen khó chữa khiến người ta quên rằng lòng tự trọng, lòng nhân ái là cao hơn hết và cần có mặt hơn hết! Có phải người ta đã quên đi lòng tự trọng, lòng nhân ái cần có hay không? Tôi không bi quan đến mức nói rằng người ta đã quên nhưng quả thật không thể dửng dưng trước câu hỏi đó.
Bài viết này có thể gọi là sự nối tiếp bài " Các cây viết trẻ Việt liệu đã thua trên sân nhà? " cách đây không lâu của tôi. Tôi viết bài tiếp theo này là vì ở bài viết trước có nhiều ý kiến thảo luận của người đọc đã mở ra cho tôi những cách nhìn sâu rộng khác hơn về chủ đề đã nói trong bài viết trước.
LTS: Tình cờ trong lúc lang thang trên mạng, SHO đã đọc được bài viết này trong một blog. Thiết nghĩ đây cũng là vấn đề nảy sinh thực trạng đáng buồn giữa các nhà văn trẻ và các nhà xuất bản, SHO đăng tải để chúng ta cùng cận cảnh...
Tháng bảy về rồi, nơi quê nhà quê mẹ đã thu chưa? Nơi con ở bây giờ, gió đã chuyển mùa, để rồi chiều nay khi lang thang trên con đường xứ sở, con chợt thảng thốt nhận ra rằng chỉ còn vài ngày nữa thôi, mùa Vu lan sẽ lại về. Nhanh thật đó!
Với đặc thù của môn Lịch sử ở bậc THPT, những câu hỏi mang tính khái quát về tiến trình lịch sử sẽ có giá trị hơn nhiều so với những câu hỏi đi quá sâu vào tiểu tiết mà chúng ta vẫn gặp trong các đề thi Lịch sử hiện nay và kết quả thi nhiều khả năng sẽ tốt hơn.
Dễ ai quên câu hát: “Trời sinh voi trời không sinh cỏ, Thượng đế buồn Thượng đế bỏ đi”.
Lòng yêu nước vốn rất sâu sắc và mãnh liệt xét trên 2 bình diện xã hội gồm giai tầng lãnh đạo(người nắm quyền cai trị) và người dân (kẻ bị trị) đã có lúc bị mai một và chỉ còn như cái bóng khi dân bị bóc lột, hà hiếp còn vua, quan chỉ chăm chăm cướp đoạt, làm giàu, hưởng lạc và chia bè kéo cánh.
Có những tình huống mà im lặng không giúp ta tránh né được hiểm nguy, ngược lại chỉ làm tăng mối họa vì khiến người khác lầm tưởng im lặng là bạc nhược.
Bán bà con xa mua láng giềng gần, điều đó đúng trong trường hợp người láng giềng có đủ nhân cách và mức độ tự tin để chúng ta làm được điều đó.
Báo chí trong tháng 5.2011 vừa qua trong rất nhiều thông tin đời sống xã hội, có nêu những vấn đề nổi cộm khiến cho nhiều người cầm bút phải suy nghĩ.
Trong tháng Năm này, cả nước tiến hành cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIII và đại biểu hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011 - 2016.
Dư luận đang lo lắng về việc rớt giá thê thảm của khối C. Khối C đã thật sự bị sĩ tử thẳng thừng từ chối, điều đó cho thấy rằng xã hội đang quay lưng… đằng sau đó có những hệ lụy gì?