BỬU Ý
Hàn Mặc Tử (Nguyễn Trọng Trí) từng sống mấy năm ở Huế khi còn rất trẻ: từ 1928 đến 1930. Đó là hai năm học cuối cùng cấp tiểu học ở nội trú tại trường Pellerin (còn gọi là trường Bình Linh, thành lập năm 1904, do các sư huynh dòng La San điều hành), trường ở rất gần nhà ga tàu lửa Huế. Thời gian này, cậu học trò 17, 18 tuổi chăm lo học hành, ở trong trường, sinh hoạt trong tầm kiểm soát nghiêm ngặt của các sư huynh.
Mộ nhà thơ Hàn Mạc Tử ở Quy Nhơn
Cùng nằm trên một trục lộ Jules Ferry ấy là các mốc điểm: nhà ga, trường Pel- lerin, trường Quốc Học, trường Đồng Khánh, Câu lạc bộ thể thao dưới nước, cơ sở nhà hàng khách sạn Morin, Tòa Khâm sứ Pháp, Đập Đá, Vỹ Dạ, biển Thuận An...
Từ trường Pellerin đi xuống qua Đập Đá là tới Vỹ Dạ, đoạn đường ấy chưa đến hai cây số, có thể thả bộ đi đi về về (cũng như nữ sinh Đồng Khánh nếu nhà ở Vỹ Dạ, có thể đi bộ ngược lên trường mình hàng ngày và suốt năm).
Như vậy cậu Trí, học trường Pellerin hai năm ấy, chắc hẳn cũng có vài lần xuôi về Vỹ Dạ ngắm nhìn phong cảnh, dù bản thân chưa đầy hai mươi tuổi, bởi Vỹ Dạ thời buổi ấy hãy còn hoang sơ nhưng nổi tiếng là một nơi dừng chân mát mẻ, đẹp đẽ.
Cậu chưa biết để mắt đến ai, nhưng khung cảnh Vỹ Dạ đã như in vào lòng cậu học trò xa nhà và nhạy cảm.
Học xong ở Huế, về lại Quy Nhơn, Nguyễn Trọng Trí gặp Hoàng Thị Kim Cúc. Rồi, vì gia đình di chuyển, vì công việc, chàng thanh niên vào Sài Gòn, còn Hoàng về Huế.
Hàn MặcTử nhớ Huế, nhớ một người ở Huế, da diết ngóng tin, ngày ngày chờ chực văng vẳng đâu đây:
Sao anh không về chơi thôn Vỹ...
Đây là câu mở đầu cho bài thơ “Ở đây thôn Vỹ Dạ”.
Câu mở đầu thật nhẹ nhàng. Một lời nói tự nhiên thốt lên. Nó nhẹ nhàng tự nhiên đến nỗi, dù có dáng vẻ là câu hỏi, nó chẳng cần đến dấu chấm hỏi ở cuối câu.
Và đã không cần dấu hỏi ở cuối câu thì chữ “sao” ở đầu câu cũng nhạt mất ý nghĩa của “tại sao”, “vì sao” thường bắt gặp.
Quả tình đây không phải là câu hỏi, và nó cũng chẳng cần đến câu trả lời.
Nói ra để nói ra, chứ không phải để hỏi. Cho nên câu nói ra ấy là một lời ướm thử, một lời mời gọi, tương đương với: “Hay là anh về chơi thôn Vỹ”, “Anh thử về chơi thôn Vỹ”, “Anh về chơi thôn Vỹ một chuyến xem sao”.(1)
- Sao anh không về chơi thôn Vỹ…
Câu đầu tiên ấy đã chứa đựng ngay cái chủ quan khẳng định của nhà thơ: thôn Vỹ là địa điểm xứng đáng cho khách sành điệu đến chơi và hiểu ngầm: chứ đâu phải chờ đợi tôi lên tiếng mời mọc?
Nhưng cái chủ quan ấy, ở đây, không gây chõi, không gây chống nơi cảm quan của người đón nhận câu thơ, bởi lẽ cái chủ quan ấy chẳng qua đã từng bắt gặp sự đồng tình nơi nhiều người khác và đã hun đúc trở thành một kinh nghiệm, một xác tín.
Ướm một lời mời như trên đây bao hàm ý nghĩa người mời đã từng nếm trải cảnh đời ấy và nay đem ra giới thiệu.
Tuy là lời mời, nhưng nó chứa chất một sự khẳng quyết bao trùm lời mời, cho nên nó dễ dàng thuyết phục như chuỗi luận lý của tam đoạn luận.
Sao anh không về chơi thôn Vỹ… Đây là một vế trong chuỗi tam đoạn luận lẻ vế:
Người sành điệu thì tìm đến nơi hữu tình
Anh là người sành điệu (hiểu ngầm)
Vậy anh phải đến nơi hữu tình (hiểu ngầm: thôn Vỹ)
hoặc là:
Huế có thôn Vỹ (nổi tiếng)
Anh về Huế
Anh phải về thôn Vỹ
Tác giả mở lời mời anh: “anh” tức là bạn, một người nào đó. Nhưng tất nhiên không phải bất cứ ai. Bởi lẽ giữa đời vẫn có những người không để mắt đến thiên nhiên vì tính tình, vì công việc… Nhưng “anh” ở đây cũng không bó hẹp vào một loại, một lớp người nào, mà chỉ một số người tương đối rộng, giống như thể ta ngầm bảo: miễn anh là người có tấm lòng, miễn anh có đôi mắt, miễn anh có đôi chân…
Lời mời mọc ấy cũng chỉ là dóng lên cho ai đó muốn nghe.
Và lời mời phát ra cũng tỏ lộ tấm lòng đang rộng mở, phơi phới, yêu đời của người cất tiếng.
Người mời rõ ràng đang nhìn đời bằng màu hồng, đang dạt dào yêu đời, hay là, nói tắt một tiếng, đang yêu.
Sao anh không về chơi thôn Vỹ…
Đại từ anh trong câu mở này, tuy nghe nhẹ nhàng êm ái, tuy nghe dễ dàng như không, vẫn có vị trí không thể nào thay thế bằng một đại từ nào khác.
Nếu giả sử, thay thế nó bằng “em” thì tác giả tự loại mình ra khỏi cuộc chơi, hoặc giả thử, thay thế nó bằng “ta” thì chữ “ta” này gây thiệt thòi lớn cho nhà thơ vì nó chỉ được việc cho độc thoại và không thiết lập đối thoại là điều mong ước của Hàn.
Chữ anh được dùng ở đây có thể có nhiều nghĩa mà nghĩa nào cũng tương thích: hoặc “anh” một cách phiếm chỉ cũng được, và lúc bấy giờ có thể ngỏ với bất cứ ai mà mình sẽ chuyển hóa thành người đồng điệu, thành kẻ tri âm để cùng gặp gỡ trong cảnh đẹp, cận bóng yêu kiều. Hoặc, nghĩa thứ hai, mình tự nói với mình, tự nhắn, tự lặp lại để thúc đẩy hành động. Hoặc nữa, nghĩa thứ ba, là câu như của người trong cuộc, như của người yêu gửi gắm cho mình, hoặc do mình tưởng tượng đọc ra từ tấm bưu ảnh mà Hoàng đã gửi tặng Hàn. Nếu hiểu theo cách thứ ba thì đây là một lối “ăn gian” tình cảm xét ra cũng vô tội của nhà thơ.
Nhưng đây không phải là một lời mời trịnh trọng, không phải mời về thăm viếng một cách lớn lao, khệ nệ, không phải mời về chiêm bái một hình tượng nào, thậm chí không phải mời về thưởng thúc một món ngon vật lạ thổ sản của Vỹ Dạ. Không, không phải mời về vì bấy nhiêu thứ ấy, mà là:... về chơi...
Một cuộc “về chơi” không mục đích, không hành lý mang theo, không ý tưởng tâm tình “giắt sẵn”. Về một cách không có gì mang theo và tâm hồn cùng trí não mở rộng sẵn sàng đón nhận.
... về chơi...
Có một số động từ (rất giống giới từ) bao hàm ý nghĩa định hướng sự xê dịch của bước chân hoặc của phương tiện xê dịch: về, lên, xuống, ra, vào, qua, lại, tới...
Có khi do địa hình, có khi do kiến trúc đô thị, những từ ấy thay đổi linh động.
Cũng có khi do vị trí đất đứng của người nói, hoặc người nghe. (2)
“... về chơi...”: “về” dùng trong trường hợp trên - dưới (đồi Thiên An về biển Thuận An), xa - gần (tôi sẽ về thăm bạn), không gian lớn - nhỏ (các bạn đi phố rồi về nhà tôi một lát), phố - làng (từ Huế về Vỹ Dạ).
Kể từ 1930, Hàn giã từ Huế vào làm việc ở Quy Nhơn. Và tại đây, Hàn biết có thiếu nữ Hoàng Thị Kim Cúc ở cùng đường Khải Định với mình. Hàn gặp Hoàng hai lần nhưng không trò chuyện gì được.
Đến năm 1936, Hàn về Huế, gặp Hoàng tại Hội chợ Huế. Hàn đánh bạo về thăm Hoàng tại Vỹ Dạ nhưng không gặp.
Suốt một đời cút bắt với người trong mộng, Hàn đoạn trường mong ngóng mỗi một câu:
Sao anh không về chơi thôn Vỹ…
Câu bình thường ấy, lời mời gọi bình thường ấy, suốt đời không đến với Hàn.
Mà, vạn nhất nó có đến, thì đã chậm mất rồi! Hàn sẽ không thể quay về Huế được nữa, Hàn đã bệnh nặng và ngày cuối đời sẽ không còn bao xa.
Sao anh không về chơi thôn Vỹ…
Thôn Vỹ?
Thôn Vỹ không là gì cả. Ấy vậy mà nó đã từng có một thời làm xao xuyến con tim của bao tao nhân mặc khách trên con đường sưu tập cái đẹp của cảnh vật, cái đẹp của tâm hồn trên đất nước mình. Đơn cử trường hợp này đây với những vần thơ, hình ảnh, những lời nhắn gửi, con người ẩn hiện, những tình cảm phiêu phất nhưng mặn mà, tạo thành một câu chuyện, một bài thơ, một giai thoại đẹp như truyện cổ tích.
B.Y
(SH281/7-12)
-----------------
(1) Sao anh không về chơi thôn Vỹ…: chữ “sao” ở đây, ta cũng có bắt gặp trong những trường hợp tương tự:
- “Họ bảo nhau: Nó lần đầu tiên đến Huế, -+chẳng thông thuộc đường sá. Sao ta không lên ga đón nó nhỉ!”
- “Còn sớm chán. Sao ta không vào quán bên đường ăn lót dạ rồi đi tiếp.”
- “Hội chợ mới khai trương. Sao mình không đánh một vòng bên trong xem có gì lạ không.”
- “Khoan ăn món ấy đã, sao ta không bắt đầu bằng món này kẻo nguội.”
Trong những câu nói như trên đây, chữ “sao” nhạt hẳn tính nghi vấn mà nghiêng nặng về tính mời mọc.
(2) Thí dụ câu: “Chiều một mình qua phố....” (Trịnh Công Sơn).
... qua... khiến người ngầm hiểu rằng có hai bên (bên này và bên kia). Ở đây là bờ Nam và bờ Bắc, hay là như người ta thường nói hiện nay: Nam sông Hương và Bắc sông Hương. Giống như thể trước đây, trước 1975, người ta gọi tả ngạn và hữu ngạn. Như vậy, người bên này “qua” bên kia hoặc ngược lại. Và thông thường ở giữa hai bên là một cây cầu.
“Vào” và “ra” chỉ định di chuyển từ tỉnh này sang tỉnh nọ: “vào” chỉ di chuyển theo hướng Bắc - Nam và “ra” theo hướng ngược lại là Nam - Bắc. (Trong khi tiếng Pháp dùng chữ “xuống” và “lên” theo vị trí của tỉnh thành ấy trong bản đồ).
Sau khi hoàn tất bản thảo tập thơ Độc Hành thì nhà thơ Hải Bằng cũng “độc hành” về chốn vĩnh hằng vào ngày 7 tháng 7 năm 1998.
CÁT LÂM
Bình đẳng giới, nữ quyền, những vấn đề tưởng như mới mẻ ở nước ta nhưng thực chất vấn đề này đã được luận bàn từ những năm đầu của thế kỷ XX.
NGUYỄN QUANG HÀ
Ghi chép
Trước, và ngay cả khi vừa giải phóng, vào lúc gần tối, nếu có một người khách nào đón đường gọi xe thồ, xe xích lô xin về làng Thế Lại, thì sẽ bị chủ xe lắc đầu ngay. Bởi chủ xe sợ một điều này: có đi mà không có về. Hoặc ít nhất là cũng về hai tay trắng.
NGUYỄN QUANG HÀ
Trong kháng chiến chống Mỹ, huyện Quảng Điền ở mãi dưới sâu, phải mượn địa bàn của xã Phong Sơn huyện Phong Điền làm chiến khu.
NGUYỄN QUANG HÀ
Ngoảnh đi ngoảnh lại, vừa mới đó, vậy mà đã 100 số Sông Hương trình làng.
PHẠM HỮU THU
Ghi chép
Ngót nửa thế kỷ trôi qua, từ những chàng trai, cô gái giờ họ đã là những ông, những bà.
NGUYỄN QUANG HÀ
Hồi ký
NGUYỄN QUANG HÀ
Năm 1947 có hai chiến sĩ được cử về công tác tại chiến khu Ba Lòng. Đó là Trần Quốc Tiến, quê Quảng Trị và Hải Bằng, quê Thừa Thiên.
BẠCH DIỆP
Bút ký
Tôi từng là đứa con nít mê chuyện cổ tích và trò chơi bán đồ hàng. Khi bọn trẻ cùng lứa đánh khăng tập trận, chạy băng vườn cải mụ Tép, vượt rào bứt dưa hấu nhà ông Phường, phá nát ụ rơm cậu Dưỡng, thì tôi vẫn ngồi yên nghe ngoại kể chuyện. Chỉ có trò họp chợ, chơi mua bán với các dì mới rứt tôi ra khỏi ngoại.
NGUYỄN QUANG HÀ
Hồi ký
Mùa mưa 1968 là mùa mưa nghiệt ngã nhất. Sau trận càn lớn chưa từng có lên miền tây Thừa Thiên, địch tiếp tục phong tỏa miền núi bằng biệt kích.
NGUYỄN KHẮC PHÊ
Ghi chép
Từ mùa xuân năm ấy đến nay vừa tròn 30 năm, chẳng phải vì con số tròn ba thập kỷ mà tôi nhắc lại chuyện cũ. Chỉ vì từ mùa xuân năm ấy, cuộc đời tôi có một bước ngoặt mới và nhờ có mùa xuân năm ấy, cuốn sách đầu tay của tôi đã ra đời.
HỒ THANH THOAN
Đã gần 34 năm nay chúng ta không còn nghe đến tên Đoàn kịch nói Bình Trị Thiên nữa, chuyện đã trở về dĩ vãng của một thời vàng son.
CHÂU PHÙ
Thảo Am Nguyễn Khoa Vy (1881 - 1968) sinh ra trong một gia đình danh gia vọng tộc ở Huế, tinh thông Nho học và chữ Pháp. Cụ cùng Ưng Bình Thúc Giạ Thị thành lập Hương Bình thi xã và giữ vai trò phó soái của thi xã này.
LỆ HẰNG
Bút ký dự thi
"Bánh lọc em ơi! Bánh mới hấp xong, nóng hổi luôn nì, lấy giùm chị ít chục hí?”
NGUYỄN KHẮC PHÊ
Mấy năm trước, trong dịp cùng lên thăm vườn An Hiên của bà Nguyễn Đình Chi, nhà văn Nguyễn Đắc Xuân đã giới thiệu cho tôi biết cụ Sa Giang Đào Thái Hanh (thân phụ của bà Nguyễn Đình Chi, tức bà Đào Thị Xuân Yến) có tập thơ "Ái Châu danh thắng" (trong "Mộng Châu thi tập") được các danh nho đương thời đánh giá rất cao.
NGUYỄN QUANG HÀ
Bút ký
BẠCH DIỆP
Bút ký dự thi
Tôi uống chậm, từng ngụm nhỏ.
VIỆT HÙNG
Ký
Tuổi hai mươi tràn trề hoài bão lớn và tuổi hai mươi... Ở thời đại nào cũng được coi là lứa tuổi hồn nhiên trong sáng, ấp ủ bầu nhiệt huyết, khát khao làm được cái gì có ích cho đời.
HỒ ĐĂNG THANH NGỌC
Ghi chép
Trời bỗng nhiên mưa, những cơn mưa cuối cùng của mùa mưa rét đậm. Với tôi, hình như mưa bao giờ cũng là cánh cửa mở cho những vũ khúc hoài niệm ùa về.
LỆ HẰNG
Bút ký dự thi
“Thấu Huế rồi.”