Ruđenxơ nhút nhát

15:31 29/08/2008
OTTO STEIGER (THỤY SĨ)Ai cũng biết rằng cái tên Ruđenxơ tượng trưng cho sức mạnh và lòng dũng cảm, vậy mà nhân vật của chúng ta lại là một người nhút nhát. Có thể nói là từ lúc lọt lòng: mặc cho bác sĩ hầm hừ doạ nạt và bà đỡ cố công thúc đẩy, mãi ông chẳng chịu ra cho. Điều này để lại dấu vết trên diện mạo của ông. Khi rốt cuộc ông cũng được sinh ra và nhìn thấy thế gian buồn khổ này, trông ông xấu xí quá lắm, còn cái đầu thì rõ là chiếc bắp cải chứ không ngoa.

Thủa thiếu thời, vì nhút nhát, ông đã phải chịu nhiều đau khổ, ấy vậy nhưng nó cũng đem lại cho ông một vài lợi thế. Chẳng hạn khi ông phạm lỗi, người lớn chẳng bao giờ ngờ vực đến ông. Và ông cũng không hề phản đối việc bạn bè phải chịu phạt thay mình. Không, không phải tại đớn hèn. Có điều ông quá nhút nhát đến nỗi chẳng dám đứng ra thú nhận.
Dù vậy, ông cũng leo lên được chức phó quản đốc phân xưởng của một nhà máy dệt. Cũng nên nói thêm rằng ông như vậy là nhờ ơn người cha ngoan đạo của mình. Cha ông luôn răn dạy con trai rằng lòng tin chân chính có sức mạnh dời núi lấp sông. Điều giáo huấn này của cha Ruđenxơ đã hấp thụ, như người ta nói, từ thủa còn bú mẹ. Dần dần đối với ông nó trở thành một chân lý hiển nhiên chẳng khác gì hết đêm sẽ lại đến ngày vậy. Hồi đầu, khi mới bắt đầu vận dụng lời dạy sáng suốt của người cha, Ruđenxơ chỉ tin vào những việc đơn giản. Những việc này tự nó vẫn trở thành hiện thực, bởi thế chưa lần nào ông nghi ngờ tính đúng đắn tuyệt đối của chân lý cha dạy.
Một tối, đang dạo chơi trong công viên ông trông thấy một cô gái ngồi sụt sùi khóc, cô đơn trên ghế. Khi đó Ruđenxơ 24 tuổi. Do nhút nhát ông chưa hề có kinh nghiệm giao tiếp với đàn bà. ông ngồi xuống cạnh cô gái một cách cả tin và ngờ nghệch. Họ nhanh chóng bắt chuyện với nhau. Cô gái kể rằng cô bị bạn trai ruồng bỏ, giờ đây trơ trọi trên thế gian này và chỉ còn nước trẫm mình nữa mà thôi.
Ruđenxơ thấy mến và thương hại cô gái tội nghiệp. Ông hết lòng khuyên can cô gái chớ dại dột liều mình. Trò chuyện hồi lâu ông đã hướng được sự chú ý của cô vào sức mạnh thần kỳ của niềm tin. Thậm chí ông đã thuyết phục được cô tin rằng mọi điều sẽ trở nên tốt đẹp hơn.
Họ ngồi bên nhau rất lâu. Trời về khuya trở lạnh, và đôi bạn trẻ sát lại gần nhau. Thoắt cái đã qúa nửa đêm, cô gái đột nhiên nức nở khóc, ôm chầm lấy cổ ông, miệng thì thầm rằng cô đã bị thuyết phục, rằng bây giờ cô tin chắc rằng ông sẽ cưới cô và điều này chẳng còn lâu la gì nữa.
Một tháng sau họ cưới nhau thật. Ngay trong đêm tân hôn cô gái thú nhận với ông rằng cô mong muốn có con tưởng phát điên phát rồ. Ruđenxơ trầm tĩnh, nhưng ông cũng đang chứa chan niềm vui chờ đợi như cô, trả lời rằng nếu họ vững tin và điều đó thì tất cả sẽ trở thành hiện thực.
Vợ ông ôm hôn chồng và reo lên sung sướng:
- Dĩ nhiên, anh yêu quý của em. Chúng mình hãy cùng tin rằng chỉ bốn tháng nữa thôi là chú nhóc của chúng mình sẽ ra đời. Em không chờ lâu hơn được nữa đâu, em đến chết vì chờ đợi mất.
Ruđenxơ thấy điều này hơi quá táo bạo, ông bày tỏ cho vợ sự nghi ngờ của mình. Nhưng cô vợ đang hân hoan với kế hoạch được thảo ra, cô rất tin tưởng và tuyên bố rằng nếu họ đem lòng tin mà khiến được đứa trẻ ra đời chỉ cần bốn tháng thì đó chính là cách tốt nhất làm cho hàng xóm láng giềng tin vào chân lý sống của họ. Luận cứ này đã hoàn toàn thuyết phục được Ruđenxơ. Họ hăng hái bắt tay vào việc, và kết quả chẳng phải chờ lâu - đúng bốn tháng sau cô vợ đã tặng ông một đứa con trai mập mạp.
Đứa bé lớn nhanh như thổi, trong tình thương yêu và sự chiều chuộng của bố mẹ. Nó cao ngồng lên, thậm chí hơi lòng khòng nữa, còn ăn thì khoẻ bằng ba đứa khác. Khách đến nhà chơi không ngớt lời khen ngợi chú bé có thân hình rắn chắc và đôi khi nói thêm:
- Mà sao nó chẳng giống bố chút nào?.
- Lẽ tự nhiên, - mỗi bận như thế Ruđenxơ lại liếc trộm vợ và trả lời, - một khi thời hạn quá cấp tốc như thế thì chẳng có gì đáng phải ngạc nhiên.
Dĩ nhiên Ruđenxơ cố giáo dục con theo cách của mình. Khi thằng bé đã lớn ông bắt đầu kể cho con nghe về sức mạnh diệu kỳ của nó. Thằng con không chịu tin. Điều này làm cho Ruđenxơ khổ tâm, khổ tâm hơn nhiều so với những lần ông phải đấu tranh với tính nhút nhát để thú nhận lỗi lầm. Khi ông trở thành phó quản đốc phân xưởng đứa con tròn 15 tuổi. Nhân dịp ấy ông lại nói với thằng con một lần nữa. Ông kể cho nó nghe rằng ngay từ đầu ông đã tin tưởng chắc chắn rằng mình sẽ được nhận chức này... và, thấy chưa, niềm tin của ông đã biến thành hiện thực.
- Bố có thể kể cho con nghe nhiều ví dụ kỳ diệu khác từ cuộc đời mình - ông thêm – nhưng bây giờ chỉ ví dụ ấy thôi cũng đã đủ rồi.
Toàn những chuyện nhảm nhí - thằng con đáp lại và nhổ kẹo cao su xuống thảm. Ruđenxơ buồn lắm nhưng vẫn tin là sẽ có dịp chứng tỏ cho con trai thấy sức mạnh thần kỳ của niềm tin.
Một thời gian dài bố mẹ mong cho con học hành đến nơi đến chốn nhưng té ra nó chẳng có chút năng khiếu nào về việc đèn sách. Ông bố xoay sang cho nó học nghề thợ nguội, song cả việc đó cũng không thành. Rốt cuộc ông cho nó đến làm việc tại nhà máy của mình. Chỗ này thì chàng trai ưa thích và những cô thợ dệt trẻ trung có vai trò không nhỏ trong chuyện ấy. Thằng con đã trưởng thành. Mới 20 tuổi nhưng nó đã râu ria xồm xoàm, mặc áo đỏ và có thói quen gác chân lên sau mỗi bữa ăn. Nhưng ngay cả lúc này Ru-den vẫn không bỏ lỡ cơ hội để đem niềm tin của mình truyền lại cho con. Thường thì ông bố rụt rè đưa ra một ví dụ mới, thằng con vẫn lặng thinh xem vô tuyến truyền hình, miệng không ngừng nhai kẹo cao su. Nhưng rồi, sốt ruột vì sự nhẫn nại của bố, nó nhấc một chân khỏi mặt bằng, đạp cho Ruđenxơ một cái và mắt vẫn không rời màn ảnh, quát:
- Câm!
Một buổi tối, khi Ruđenxơ lại bắt đầu bài thuyết giáo của mình (ông ngồi tận mép ghế để tránh cú đạp của thằng con), nó đột ngột quay lại, bộ dạng nom thật gớm ghiếc hỏi:
- Này, cái gì ông tin cũng trở thành hiện thực chứ?
Tuyệt đối đúng như vậy! - Ruđenxơ hân hoan trả lời.
- Thế thì hãy tin rằng ông là một chiếc xe máy đi xem chỗ nào, tôi đang cần đấy.
Thoạt tiên Ruđenxơ cảm thấy bị sỉ nhục, thậm chí bàng hoàng, khi nghe những lời nói của con trai. Nhưng rồi một ý nghĩa loé lên trong óc ông. Vậy là thời điểm ông dày công chờ đợi đã đến. Bây giờ là lúc để ông chứng minh bằng thực tế cho thằng con thấy lòng tin có thể dem lại cho con người những gì. Ông lặng lẽ đứng dậy đi về. phòng mình. Đến ngưỡng cửa ông quay lại hỏi:
- Xe đạp máy à?
- Không, một chiếc xe máy thực thụ - thằng con đáp.
Ruđenxơ ngồi xuống giường, nhắm mắt lại. Sau đó ông vận hết lòng tin của mình vào cuộc. Ông hiểu rằng kết quả cuộc thí nghiệm này sẽ quyết định tất cả, bởi thế ông đã gắng tin với nỗ lực chưa từng có trong đời. Vậy mà không có kết quả. Hồi lâu sau vẫn không có kết quả. Thế rồi đột nhiên ông cảm thấy chân mình biến thành một bánh xe, còn tay thì biến thành tay lái. Khi mở mắt ra ông thấy mình thực sự đã biến thành một chiếc xe máy, một chiếc xe máy có chiếc yên dành cho người lái màu xanh sáng và cả ghế dành cho bạn gái phía sau.
Ruđenxơ sững sờ. Sự biến hoá kỳ diệu đã làm cho giây phút đó trở nên hạnh phúc nhất đời ông. Ông muốn kêu lên "xong rồi! " nhưng lẽ dĩ nhiên, lúc này ông không còn nói được nữa mà chỉ húc bánh xe vào cánh cửa.
Tiếng động làm vợ ông hoảng hốt chạy tới. Khi trông thấy ông dưới lớp sơn và ánh kim loại sáng loáng bà ta vung tay kêu lên:
- Ôi Ruđenxơ, thật là đẹp mặt!
Riêng thằng con trai khi trông thấy bố trong vai trò mới chỉ nói:
- Khổ lắm! - Nó sờ nắn động cơ, yên, tay lái rồi thêm: - Nào, ta làm vài vòng chơi chứ bố!
Nó dắt xe ra đường và dựng trước nhà. Bà mẹ theo sau. Thằng con đạp cần khởi động. Lúc này ai cũng thấy có sự cố gắng hết sức của Ruđenxơ: cả thùng nhiên liệu cũng đã đầy xăng. Thằng con nhảy lên yên đi thử một vòng, khi trở lại nó đặt xe cạnh nhà rồi lại gần mẹ, nói:
- Một ông bố thế này thì con thích nhất trên đời.
Đứng trước cửa Ruđenxơ vẫn lâng lâng, vui sướng. Nhưng dần dần ông bình tĩnh lại. Gần sáng trời đổ mưa. Ông thoáng lo ngại cho những bộ phận bằng kim loại của mình. Nhưng thằng con đã cẩn thận trùm kín ông bằng vải bạt.
Mới đầu Ruđenxơ dự định cứ là xe máy cho đến khi thằng con trai cầu xin ông trở lại làm người. Nhưng khi hôm sau thằng con cưỡi ông đến cửa hàng, khi ông nghe thấy ngài quản đốc phân xưởng hỏi han về ông và thằng con đẻ của ông chỉ lơ đãng nhún vai để đáp lại thì ông bỗng thấy khát khao được mang lại lốt làm người. Ông quyết định ngay lập tức tin rằng mình sẽ lại là người.
Một lần nữa ông vận hết niềm tin của mình vào việc. Ông đứng dưới mái lán kim loại cùng đám xe đạp, và đau khổ tập trung niềm tin xưa cũ của mình. Nhưng chẳng có gì thay đổi - đôi chân vẫn là bánh xe, đôi tay vẫn là tay lái. Ông sợ hãi điên cuồng. Đến lúc này ông cố gắng tin tưởng bằng tất cả niềm khát khao cháy bỏng rằng ông là người, tin tưởng không ngừng không nghỉ. Ban ngày thằng con dẫn bạn bè đến giảng giải cho chúng nghe những ưu điểm của chiếc xe máy mới. Sau đó nó cưỡi lên bố và chồm đi. Dọc đường về, ngay cả lúc len lỏi giữa dòng xe cộ. Ruđenxơ vẫn không nguôi hy vọng sẽ tìm lại được sức mạnh của niềm tin ngày trước.
Nhưng vô ích. Quá rõ là lòng tin của ông vẫn chưa đủ mạnh. Không thể có cách giải thích nào khác.
Như vậy ông vẫn phải là chiếc xe máy. Thoạt tiên những người thân thích thảy đều mừng rỡ và cứ ngày nghỉ là cả gia đình kéo ra ngoại ô. Nhưng đến cuối tháng, gia đình trở nên túng bấn do thiếu khoản tiền lương của ông. Bà vợ bắt đầu nổi giận. Buổi tối, bà lại gần ông, lúc đó đang dựng bên chiếc máy giặt dưới mái lều và sa sả nhiếc móc ông. Bà yêu cầu ông phải thôi ngay cái trò ngu ngốc ấy. Bà nói rằng bà thừa biết ông làm vậy để làm gì, rằng ngần ấy tuổi đầu đáng lẽ ông phải biết xấu hổ khi xử sự như thế.
Đêm đó lại một lần nữa Ruđenxơ cố trở về với lốt cũ. Nhưng lại một lần nữa uổng công. Rồi bà vợ dĩ nhiên cũng phải hiểu rằng việc làm của ông không phải cố tình. Ít nhất thì bà cũng thôi nhiếc móc ông. Trái lại, đêm đêm, khi con trai trở về sau những cuộc phi điên dại trên lưng bố, bà thường ra ngoài lều, đứng bên chiếc máy giặt và trò chuyện đôi ba giờ với Ruđenxơ như trước vẫn làm.
Tuy nhiên tình trạng túng thiếu vẫn ngày càng trầm trọng. Cuối cùng hai mẹ con đành phải nghiến răng bán đứng Ruđenxơ. Họ làm một tờ thông báo. Đã tìm được kẻ muốn mua. Bà vợ cố lo cho ông được rơi vào một tay người phúc hậu. Có một ngài gầy gò mua chiếc xe, trả bằng tiền mặt và hứa sẽ giữ gìn cẩn thận.
NGÔ TỰ LẬP dịch từ tiếng Nga

(nguồn: TCSH số 162 - 08 - 2002)

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • SORBON (Tajikistan)Sorbon sinh năm 1940 tại làng Amondar  trong một gia đình nông dân  thuộc  tập đoàn sản  xuất nông nghiệp. Năm 1963 ông tốt nghiệp Đại học Lenin của Tajikistan với bằng tiến sĩ ngôn ngữ học. Các tác phẩm của Sorbon xuất hiện lần đầu vào năm 1965. Tuyển tập truyện ngắn đầu tiên của ông “Không phải tất cả đã được nói ra” xuất bản năm 1969. Nhiều truyện ngắn của ông mau chóng được thu thập lại, trong đó có truyện “Ngày đầu tiên đến trường” nói về một phụ nữ Tajikistan  trong Thế chiến thứ Hai, “Sự phòng thủ của đá” và “Người du mục” nói về sự thiết lập chính quyền Xô Viết tại ngôi làng ven sông Zeravshan, và “Áo khoác đồ sộ” nói về một cậu bé bị mất cha trong chiến tranh. Sorbon là nhà văn có tiếng tăm lớn của nền văn xuôi Tajikistan ở thập niên bảy mươi. Truyện ngắn “Người đánh bẫy chim” được viết năm 1974.

  • MISHIMA YUKIO (Nhật Bản)Nhà văn Nhật Bản Mishima Yukio (1925 - 1970) bắt đầu in các tác phẩm của mình từ những năm 20 tuổi. Ông được tặng nhiều giải thưởng văn học và ba lần được đề cử vào giải Nobel văn chương.

  • PAUXTÔPXKIChúng ta yêu mến thứ ánh sáng bảo hiểm của những ngọn hải đăng nhưng ít khi nhìn thẳng vào nó. Thường chỉ có những người bảo vệ và các tay lái tàu dán mắt vào hải đăng để kiểm tra bí mật độ loé sáng của nó. Bởi vì tất cả hải đăng trên biển đều nháy và nhấp nhánh khác nhau, theo những tín hiệu đó, người ta có thể biết được hải đăng nào và con tàu đang ở đâu.

  • SLAWOMIR MROZEK (Ba Lan)(Lê Bá Thự dịch từ nguyên bản tiếng Ba Lan)

  • ALPHONSE DAUDETSự kiện phản ánh trong truyện xảy ra năm 1871, thời kỳ chiến tranh Pháp - Phổ, khi quân đội Phổ (Đức) đã chiếm đóng và sáp nhập hai tỉnh Alsace và Lorraine của Pháp vào lãnh thổ Đức.

  • DOMINIQUE DE VILLEPINTác giả Dominique de Villepin, sinh năm 1953, đương kim Bộ trưởng Ngoại giao Pháp, là người phát ngôn cho chính sách hòa bình đối lập với đường lối chiến tranh Bush-Blair trong vụ tập kích Irak đầu năm 2003. Nơi đầu sóng ngọn gió của bang giao quốc tế, ông đã đồng thời cho xuất bản một khảo luận về Thơ, Ngợi ca những Người Cướp Lửa, tượng trưng cho Người Làm Thơ, qua hình ảnh mượn của Arthur Rimbaud, lấy từ huyền thoại Prométhée.

  • MARK TWAINTwain, Mark, (Samuel Langhorne Clemens), nhà văn Mỹ, (1835-1910). Sinh tại Florida, bang Missouri. Là con thứ tư trong một gia đình thương nhân nghèo. Chưa đầy 12 tuổi, Clemens đã phải thôi học để học nghề sắp chữ in, rồi làm đủ nghề. Năm 1853, bị thôi thúc bởi ý muốn tìm hiểu thế giới, lên đường đi nhiều nơi, làm thợ in công nhật ở St. Louis, New York và Philadelphia. Đến sông Mississipi, hành trình dự kiến đi Brazil bị đình lại vì Clemens lại mơ ước trở thành hoa tiêu trên sông.

  • HARUKI MURAKAMI (Nhật Bản)Chàng và nàng đang đi trên một con đường. Dọc bãi tha ma. Lúc nửa đêm. Sương mờ vây phủ. Họ tuyệt nhiên không định đi ở nơi chốn này vào lúc này. Nhưng vì các nguyên do khác nhau họ đã buộc phải đi. Họ bước vội vàng, nắm chặt tay nhau.

  • GRAHAM GREENE (Anh)Có tám người đàn ông Nhật đang ăn bữa tối ở nhà hàng cá nổi tiếng Bentley's. Họ chỉ trao đổi với nhau dăm ba câu bằng thứ tiếng mẹ đẻ khó hiểu của họ, nhưng luôn có nụ cười nhã nhặn và thường mỗi câu lại kèm một cử chỉ cúi đầu lịch thiệp. Tất cả tám người, trừ có một, đều đeo kính. Thỉnh thoảng cô gái xinh đẹp ngồi phía cửa sổ lại đưa một cái nhìn lướt qua họ, nhưng xem ra chuyện của cô ta quá quan trọng, khiến cô ta không thể thực sự chú ý tới bất kỳ ai trên đời ngoài chính mình và người ngồi cùng bàn.

  • VICTORIA CHIE (ÚC)Cảm giác xấu hổ như kẻ đang làm điều mờ ám, Anne Peterson đặt bút run run ghi tên mình vào phần trống trong bản tự giới thiệu của văn phòng môi giới hôn nhân. Chẳng lẽ lại đến nông nổi này sao? 49 tuổi, trông còn rất trẻ, duyên dáng, đầy sức sống, thành đạt, vật chất đầy đủ, đã ly dị, thế mà phải nhờ môi giới kiếm cho một tấm chồng. Mà anh ta là ai, cũng là một kẻ nào đấy tìm đến đây với những dòng tự giới thiệu cứng nhắc. Thôi, đành vậy chứ biết sao, chỉ vì quá yêu con gái Cindy mà Anne đã phải chịu đựng nỗi trống trải cô đơn ròng rã suốt bao năm trời.

  • NGÔ KIM LƯƠNG (Trung Quốc)"Nếu còn gặp người, nhất định phải nói", Trần Tĩnh đang nghĩ, ngước mắt lên nhìn ánh đèn vàng vọt trong ngõ nhỏ. Đêm khuya rồi, khắp nơi là hình ảnh kỳ quái của một màn đêm đen kịt. "Ai cha! Chiếc xe đạp xui xẻo này!" - Cô đẩy chiếc xe, không biết phải nói thế nào.Sau lưng vang lên một hồi chuông xe đạp, Trần Tĩnh "ai cha" một tiếng, chàng trai cưỡi xe đạp đã lướt vèo qua rồi.

  • S.MROZEKCó một lần tôi đi du lịch.Vì không có tàu trực tiếp đến nơi tôi cần tới nên tôi phải xuống một ga dọc đường để chuyển sang tàu khác.Hôm đó là một buổi tối. Mãi sáng hôm sau con tàu tiếp theo tôi sẽ phải đi mới đến.Tôi rời nhà ga, vào thị trấn để kiếm nơi ở trọ.

  • JOYCE BEGG (Úc)Bà Firbank trở thành hàng xóm của chúng tôi đã lâu, dễ đến sáu bảy năm nay, nhưng thật sự trong chúng tôi chẳng ai dám khẳng định mình biết rõ về người đàn bà này. Xung quanh bà ta lúc nào cũng bao phủ một bầu không khí bí hiểm, ma quái, ngay cả toà dinh thự cổ của bà ta cũng gợi cho người ta cái vẻ rờn rợn, lạnh lẽo giống như nơi trú ẩn của những linh hồn cõi âm.

  • KRISHNAN VARMAKrishnan Varma sinh ở Kerala, Ấn Độ. Ông viết bằng hai thứ tiếng Anh và Malayalam. Trong nhiều tác phẩm của mình, ông chia sẻ sự quan sát đối với cuộc sống của lớp người cùng khổ trên đất nước ông.

  • ARTURO VIVANTELời giới thiệu: Nhà văn Arturo Vivante sinh năm 1923 ở Rome, tốt nghiệp cử nhân đại học McGill, Canada, 1945, tốt nghiệp y khoa đại học Rome, 1949. Ông hành nghề bác sĩ toàn khoa, đồng thời sinh hoạt và nghiên cứu về văn chương ở một số trường đại học Mỹ. Vivante là nhà văn rất nổi tiếng với các truyện cực ngắn và các giai thoại.

  • KÔNXTANTIN PAUXTÔPXKI Mùa Thu. Những hạt sương mai tháng Chín lạnh giá, mọng nước rơi tung tóe từ những tán lá trên cao xuống và bắn cả vào người tôi. Sương từ các nhành cây nhỏ giọt xuống mặt nước sông đen thẫm, tạo thành những vòng tròn và chậm rãi lan ra xung quanh.

  • LTS: Mario Bendetti sinh tại Paso de los Toros (Tacuarembó ) ngày 14 tháng 9 năm 1920. Ông theo học tại trường tiểu học tiếng Đức ở Montevideo và trường trung học Miranda, đã từng làm nhiều nghề như nhân viên bán hàng, tốc kí, kế toán, viên chức nhà nước và phóng viên. Từ năm 1938 đến 1941 ông sống chủ yếu ở Buenos Aires . Năm 1945, khi trở về Montevideo, ông viết bài cho tuần báo nổi tiếng Marcha, qua đó trở thành phóng viên bên cạnh Carlos Quijano và rồi trở thành một thành viên trong ê-kíp của ông này cho tới tận năm 1974 khi tuần báo ngừng xuất bản.Năm 1973, vì lí do chính trị, ông phải rời bỏ tổ quốc,bắt đầu cuộc sống lưu vong kéo dài mười hai năm ở những quốc gia: Ác-hen-ti- na và Tây Ban Nha. Quãng thời gian này đã để lại những dấu ấn vô cùng sâu sắc trong cuộc đời ông cũng như trong văn nghiệp.

  • YUKIO MISHIMA (Nhật Bản)YUKIO MISHIMA tên thật là HIRAOKA KIMITAKE (1925-1970). Sinh tại Tokyo.Tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Tokyo . Nhà văn, kịch tác gia, đạo diễn sân khấu và điện ảnh, diễn viên.Năm 16 tuổi đã xuất bản truyện vừa lãng mạn Khu rừng nở hoa. Tiểu thuyết Lời thú tội của chiếc mặt nạ ra năm 1949 đã khẳng định tên tuổi của nhà văn trẻ tài năng và trở thành tác phẩm được đánh giá là kinh điển của nền văn học Nhật Bản.

  • KOMASHU SAKIO (Nhật Bản)Sinh 28/1/1931 tại Osaka (Nhật Bản). Nhà văn chuyên viết truyện khoa học giả tưởng nổi tiếng của Nhật Bản.Tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Kyoto , chuyên ngành Văn học Italia.Từ năm 1957 là phóng viên Đài Phát thanh Osaka và viết cho một số các báo. Năm 1961 chiến thắng trong cuộc thi truyện ngắn giả tưởng xuất sắc do tạp chí "SF Magasines" tổ chức.Tác phẩm của Komatsu đã được dịch ra rất nhiều thứ tiếng trên thế giới.

  • S. MROZEK (Ba Lan)Có lần tôi bắt gặp một con chó ác bụng đang rượt đuổi một con mèo. Bởi tôi là người yêu động vật nên tôi bèn vớ ngay một cục đá to sụ quẳng vào con chó khiến nó ngã lăn quay, nằm đứ đừ một hồi lâu. Chú mèo nhỏ không nhà, con vật bé xíu nom mệt phờ râu. Không chút do dự - tôi cho nó nương nhờ. Đây quả là một con mèo đẹp mã, lông mịn màng, mắt long lanh. Tôi đem nhốt nó vào trong nhà, đoạn bỏ đi chơi bời trác táng.