MINH ĐẠO
Khi tôi viết nhưng dòng này, tôi không còn nhìn thấy gì nữa. Bóng tối bao phủ lấy tôi đã 10 năm qua rồi.
Họa sĩ Lê Duy Ứng - Ảnh: internet
Nhiều khi tôi mường tượng lại những cơn lũ dữ dằn mà ngày còn sáng mắt tôi vẫn thường thấy nó và bao giờ cũng vậy tôi luôn nghĩ đến lớp phù sa mỡ màng mà từ đó, cây cối lại đâm chồi nẩy lộc và ra hoa, kết quả. Song, tất cả đều không phải bắt đầu từ tôi, mà từ một người khác: Họa sỹ Lê Duy Ứng, đúng ra là một họa sỹ mù trong tôi, bên tôi và là ước vọng của tôi.
Lần chúng tôi gặp nhau gần đây nhất là vào một ngày tháng 3 ở Huế. Người họa mù tài hoa trước đó đã được bác sỹ Nguyễn Trọng Nhân chữa cho sáng mắt, giờ thì đó không là niềm vui vĩnh cửu nữa. Mắt anh đã mờ trở lại dẫu tuổi chỉ mới 45. Điều đó làm cho tôi đau xót và tiếc nuối cho anh biết bao! Anh đã ghé thăm tôi vào cái lúc mà tôi bắt đầu ngập vào tâm trạng hoảng loạn và nhớ đến anh, định viết thư xin ở anh một lời khuyên. Hầu như giữa anh và tôi bao giờ cũng có một linh nghiệm để tìm gặp nhau trong những giây phút nhớ về nhau. Vâng bao giờ cũng vậy.
Nhưng dẫu sao cũng xin bắt đầu từ xa xưa ấy của 10 năm trước, một ngày đầu thu năm 1982, ngày tôi được gặp anh. Hồi đó tôi được chuyển từ bệnh viện Chợ Rẫy ra viện mắt Trung ương Hà Nội. Phải nói rằng vào thời bấy giờ có rất nhiều người phải chờ đợi hàng tháng mới được nhập Viện, thế nhưng riêng bản thân tôi là bệnh nhân cũ của Viện, hơn thế nữa mặc dù lúc này đất nước đã thống nhất nhưng tình cảm yêu thương đối với người miền Nam của người miền Bắc, nhất là dân Thủ Đô, vẫn còn ăn sâu, nên tôi nhập viện rất nhanh chóng và dễ dàng. Thời gian đầu, một phần tôi có cái radio để nghe thời sự, một phần tôi là người miền Nam mà lại là dân thành phố Bác nên cứ vào mỗi buổi chiều sau khi cơm nước xong thì anh em bệnh nhân cùng khoa lại đến vây quanh giường tôi nằm. Họ đến để nghe đài và tán gẫu rất đông vui. Lâu ngày thành quen.
Thế rồi một chiều thứ bẩy vắng vẻ bệnh nhân do anh em về nhà, tôi bỗng nghe bên cạnh mình một tiếng nói lạ. Cái giọng của người thủ đô pha lẫn giọng Quảng Bình, cứ ngỡ đó là một bệnh nhân mới nhập viện, thế nhưng sau một hồi tiếp xúc tôi mới biết anh là một bệnh nhân nằm ở viện này lâu nhất, đồng thời cũng là người duy nhất của khoa tổng hợp bị hỏng cả 2 mắt và nay có thêm tôi nữa là người thứ hai.
Buổi đầu gặp nhau, cùng cảnh ngộ nên chúng tôi dễ nhanh chóng quen thân nhau và thông cảm cho nhau. Chúng tôi nằm bên nhau với bao câu chuyện xã hội, chính trị, từ trong nước đến ngoài nước, từ trong chiến tranh đến thời xây dựng, từ câu chuyện người sáng sang câu chuyện người mù... Cho đến một tuần sau tôi mới được biết tên anh. Đó thật là một ngày hạnh ngộ.
Ở đây tôi muốn nói thêm, trong thời gian đầu bị mù khi cả người tôi đang ngập vào một tâm trạng chán nản và phiền muộn, thì một học sinh lớp 12 trường Nguyễn Huệ - Huế đã thường xuyên đến chơi an ủi và động viên tôi. Cậu ta kể cho tôi nghe về một họa sĩ mù tên Nguyễn Duy Ứng (cậu ta nhớ lộn cái họ mà sau này khi nói chuyện, Lê Duy Ứng mới sửa lại họ cho tôi), một con người tuy mù nhưng đã phấn đấu làm những công việc khác thường. Hồi đó tôi không chú ý đến câu chuyện này lắm mà nghĩ nó như một chuyện đặt ra để nhằm giáo dục ý chí cho người khác mà thôi. Tôi nhớ rằng tôi gần như bật khóc khi biết rằng họa sĩ mù Lê Duy Ứng của câu chuyện năm nào là có thật.
![]() |
Ảnh: vietnamnet |
Từ đó, chúng tôi coi nhau như là anh em. Vào những chiều thứ bẩy thỉnh thoảng chị Lê (vợ anh) đến đưa anh và tôi về thăm nhà. Nhà của anh chị là một gian phòng của khu tập thể thương binh Trương Định, chật hẹp và khá xuềnh xoàng, chất đầy những tượng gỗ, tượng đá thạch cao, gò đồng... Cái hoàn chỉnh, cái đang dở dang. Tôi còn nhớ buổi đầu tiên anh dẫn tôi đi sờ soạng khắp các tác phẩm điêu khắc của anh, tôi như đứng sững trước những đường nét và ngập trong cảm xúc dịu vợi mà tôi chưa bao giờ có được. Cả đôi bàn tay anh đang cầm lấy tôi lúc ấy cũng như truyền cho tôi một sức sống mới: phóng khoáng, tài hoa và thật đầy nhân ái. Khi ấy tôi mới nhận ra tinh thần ý chí tự lực và tài năng của anh thật sự vượt quá mức tưởng tượng của tôi mà từ khi quen nhau tôi đã không hình dung nổi. Hình như đoán được suy nghĩ của tôi nên anh vội lên tiếng " - Nói thiệt với Đ, không phải ban đầu mình làm được ngay như vậy đâu. Mình cũng từng chán nản và nghĩ đến cái chết đó chứ. Nhưng qua thời gian nằm ở trường thương binh hỏng mắt, được các anh, các chú ở Hội Người mù động viên tinh thần, khuyến khích mình trở lại công việc. Mình cũng hay sang đây chơi, thấy các anh ấy vẫn tin yêu cuộc sống và sinh hoạt như người sáng... Từ đó mình đã suy nghĩ lại, phải vui sống như mấy anh, hơn nữa mình nghĩ cuộc sống lúc nào cũng cần có mục đích, có làm việc nên mình đã quyết tâm trở lại công việc làm nghệ thuật của mình dẫu trong hoàn cảnh bóng tối".
Tuy lời anh nói ngắn ngủi, có chất lý thuyết quen thuộc nhưng đối với tôi lúc ấy sao mà giá trị đến thế, nó như mở ra cho tôi một thế giới mới. Song tôi vẫn gắng biện hộ.
- Dù sao trước khi mù anh đã quen với công việc chứ em thì đang đi học, chưa biết làm chi cả thì đã mù rồi, thì biết làm sao được.
- Thì mình cứ tìm học một nghề trong hoàn cảnh bóng tối vậy. - Anh đáp ngay và không kịp cho tôi nói, anh tiếp - Theo mình nên đi theo con đường viết văn, viết báo thì mình thấy Đ ít nhiều có năng khiếu đó.
Tôi im lặng không trả lời nhưng anh có biết đâu lời khuyên của anh đã đeo đuổi tôi suốt 10 năm nay. Tôi nhớ ngày tôi ra Viện trở lại Sài Gòn, thời gian này anh đang mổ đợt thứ 6 và nằm trong tư thế ngửa bất động (cái khổ nhất của người mù là phải nằm trong tư thế này). Vậy mà anh vẫn bảo tôi đưa quyển sổ tay của tôi cho anh, rồi anh vẽ. Trong một tiếng đồng hồ, anh đã kịp vẽ tặng tôi một bức chân dung của Bác, của Lê-Nin và của chính tôi. Mọi người chứng kiến đã ồ lên thán phục khi các bức vẽ đều rất giống. Anh đã vẽ Bác, vẽ Lê-Nin với lòng ngưỡng mộ, vẽ tôi từ lòng yêu thương. Anh vẽ tôi qua sự mô tả của chị Lê và bằng đôi tay sờ mó. Đối với tôi, đó là một món quà vô giá mà tôi phải giữ cho đến cuối cuộc đời mình.
Sau này khi vào Sài Gòn, qua thông tin báo chí, tôi biết anh đã được sáng mắt. Tôi đã quá xúc động và nỗi vui sướng của tôi trào lên. Tôi những muốn viết ngay một lá thư ra chúc mừng anh nhưng tôi lại không làm điều đó. Vì lúc đó tôi chợt nhớ lại lời hứa của mình: Chỉ gặp lại anh khi đã thực hiện được lời khuyên của anh.
Cho đến mùa hè năm 1987 tôi mới có điều kiện để trở lại Huế tiếp tục học ở khoa ngữ văn trường Đại học tổng hợp Huế. Thời gian ban đầu, mọi khó khăn vất vả gian nan chồng chất lên đầu, nhiều lúc tôi cảm thấy không thể nào vượt qua nổi. Vâng, tôi sẽ không vượt qua nổi nếu như không có những ngày tháng bên anh và những lời khuyên của anh. Cũng vào dịp Tết năm đó thật tình cờ, tôi lại được gặp anh ở Huế. Chúng tôi đã ôm chầm lấy nhau trong cơn xúc động tột cùng. Và từ đó, trong suốt 4 năm tôi đến giảng trường Đại học, thỉnh thoảng có dịp vào Huế, anh lại đến thăm và động viên, khuyến khích tôi...
Rồi năm học cũng đi qua, khi rời khỏi ghế nhà trường tôi vẫn nghĩ rằng mình không thể ngồi một chỗ để viết văn, viết báo mà cần phải có một môi trường để hoạt động. Nên sau khi nhận bằng tốt nghiệp, tôi một mặt viết bài gửi lên báo, một mặt gõ cửa các cơ quan chức năng xin thành lập Hội người mù của tỉnh T. T - Huế.
Nhiều khi tôi nghĩ anh như là phù sa trong cuộc đời tôi, cơn lũ cay nghiệt nhất đã phủ lên tôi bóng tối, bom đạn và chiến trường đã lùi xa, thế rồi anh đến, và mỗi lần đến, như cho tôi một sức sống mới, mãnh liệt mà trước đó tôi nghĩ dẫu cố sức bao nhiêu cũng không thể nào có được. Nhiều khi tôi muốn gọi anh là người họa sĩ với cây cọ phù sa đen. Một chất phù sa làm cây cọ sinh sôi mau chóng nhất.
- 1992 -
M.Đ.
(TCSH50/07&8-1992)
TRẦN PHƯƠNG TRÀ
Cuối năm 1961, tôi rời Vụ Báo chí Bộ Ngoại giao về làm biên tập viên chương trình Tiếng thơ Đài Tiếng nói Việt Nam. Chương trình này nằm trong Phòng Văn học do nhà văn Trọng Hứa làm Trưởng phòng.
KIMO
Mười Cents, một đồng xu nhỏ nhất, mỏng nhất được gọi là “dime” và đồng xu nầy được đúc với chất liệu 90 phần trăm bạc và 10 phần trăm đồng như đồng xu năm cents và 25 cents nhưng lại khác với đồng xu một cent.
HƯỚNG TỚI 70 NĂM THÀNH LẬP LIÊN HIỆP CÁC HỘI VHNT THỪA THIÊN HUẾ
TÔ NHUẬN VỸ
HƯỚNG TỚI KỶ NIỆM 70 NĂM NGÀY THÀNH LẬP LIÊN HIỆP CÁC HỘI VHNT THỪA THIÊN HUẾ
NGUYỄN KHẮC PHÊ
KỶ NIỆM 40 NĂM GIẢI PHÓNG THỪA THIÊN HUẾ
NGÔ KHA
LTS: Dưới đây là một ghi chép của cố nhà báo, nhà nghiên cứu lịch sử Ngô Kha về những ngày đầu đoàn quân giải phóng về thành Huế dịp 26/3/1975. Rất ngắn gọn, song đoạn ghi chép đã gợi lại cho chúng ta không khí sôi nổi, nô nức những ngày đầu.
Lời nói đầu: Mỗi khi về nhà ở Quỳnh Mai, tôi luôn hình dung thấy Cha tôi đang ngồi đâu đó quanh bàn làm việc của mình. Trong một lần về nhà gần đây, sau khi thắp hương cho Cha, chờ hương tàn bèn mang máy đánh chữ, là vật hết sức gần gũi đã gắn bó với Cha tôi cho tới khi mất, để lau chùi, làm vệ sinh.
Những năm 1973-1976, đến Paris tôi bắt đầu công việc sinh viên, vừa làm vừa học là ký tên và đánh số giùm tranh litho cho Họa sĩ Lê Bá Đảng.
SƠN TÙNG
Một ngày giáp Tết Canh Dần - tháng 2/1950, gặp dịp đi qua làng Sen, tôi ghé vào thăm nơi đã lưu lại những kỷ niệm tuổi thơ của Người.
L.T.S: Vương Đình Quang nguyên là thư ký tòa soạn báo "Tiếng Dân" do Huỳnh Thúc Kháng làm chủ biên, vừa là thư ký riêng của nhà yêu nước Phan Bội Châu, chuyên giúp Phan Bội Châu hoàn chỉnh những văn bản tiếng Việt trong mười lăm năm cuối đời sống và sáng tác tại Huế. Bài này trích từ "Hồi ký về cụ Phan và cụ Huỳnh" do chính tác giả viết tại quê hương Nam Đàn Nghệ Tĩnh khi tác giả vừa tròn 80 tuổi (1987).
NGUYỄN NGUYÊN
Tháng 6-1966, ở Sài Gòn, giữa cái rừng báo chí mấy chục tờ báo hằng ngày, báo tháng, báo tuần, bỗng mọc thêm một từ bán nguyệt san: Tin Văn.
Cứ vào những ngày cuối năm, khi làm báo tết, trong câu chuyện cà phê sáng, làng báo Sài Gòn hay nhắc đến họa sĩ Choé, tác giả những bức tranh biếm - hí họa từng không thể thiếu trên khắp các mặt báo. Có thể nói, cùng với nhà văn Sơn Nam, nhà thơ Bùi Giáng, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, họa sĩ Ớt - Huỳnh Bá Thành, danh ca Út Trà Ôn, danh hài Văn Hường,… họa sĩ tuổi Mùi - Choé là một trong những “quái kiệt” của Sài Gòn.
(Lược thuật những hoạt động nhân kỷ niệm 5 năm Sông Hương)
(Bài phát biểu của nhà văn Tô Nhuận Vỹ - Nguyên Tổng biên tập tạp chí Sông Hương trong lễ kỷ niệm 5 năm)
(SHO). Huế đầu đông. Mưa lâm thâm,dai dẳng. Mưa kéo theo các cơn lạnh se lòng. Cái lạnh không đậm đà như miền Bắc không đột ngột như miền Nam, nó âm thầm âm thầm đủ để làm xao xuyến nổi lòng người xa quê... Ngồi một mình trong phòng trọ, con chợt nhớ, một mùa mưa, xa rồi...
(SHO). Mùa mưa cứ thế đến, những nỗi nhớ trong tôi lại từng cái từng cái ùa về, thổi qua và tôi chợt nhận ra trong lúc ngây ngốc tôi đã bỏ quên nhiều thứ như vây; bỏ quên những người thân yêu trong nỗi nhớ của tôi, ở trong kỉ niệm đã qua và giờ tôi nhớ ra cảm giác hạnh phúc, vui vẻ khi ở bên họ, để từ đó tôi quý trọng hơn nữa những giây phút bên cạnh những người mà tôi yêu thương.
NGUYỄN ĐẮC XUÂN
Sau một thời gian bị bệnh hiểm nghèo, ca sĩ Hà Thanh đã qua đời vào lúc 19 giờ 30 ngày 1 tháng 1 năm 2014 (giờ Boston) tại thành phố Boston, tiểu bang Massachusetts, Hoa Kỳ.
ĐẶNG VĂN NGỮ
Hồi ký
Cha tôi lúc còn nhỏ tự học chữ nho có tiếng là giỏi, nhưng đến tuổi đi thi thì thực dân Pháp đã bãi bỏ các kỳ thi chữ nho.
TÔ NHUẬN VỸ
Lớp sinh viên chúng tôi tốt nghiệp Khoa Văn - Sử trường Đại học Sư phạm Hà Nội năm 1964, đúng vào thời điểm Mỹ đánh phá miền Bắc và Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam kêu gọi con em miền Nam đang ở miền Bắc hãy trở về chiến đấu cho quê hương.
Giải phóng quân Huế với phong trào Nam tiến
PHẠM HỮU THU
Sau ba năm đi giang hồ Trung Quốc. Nguyễn Du trở về, ở tại Thăng Long từ cuối năm 1790 cho đến năm 1794. Đó là ba năm «Chữ tình chốc đã ba năm vẹn», lưu lại trong Lưu Hương Ký của Hồ Xuân Hương.