Cả làng chỉ có một vài nóc nhà ngói của mấy gia đình có người đỗ đại quan, còn lại là những túp nhà tranh vách đất xiêu vẹo. Chẳng mấy gia đình được ăn cơm đều đặn. Bữa ăn của hầu hết mọi nhà là khoai lát khô cõng vài hạt gạo. Nhà nào nghèo thì phải cách mấy ngày mới có một bữa ăn như vậy. Nhà tôi lúc đó chắc chắn không phải nghèo nhất làng, vậy mà vẫn thường đứt bữa. Những hôm như thế, hai anh em tôi lại đi kiếm rau sam, rau mực luộc ăn trừ bữa. Cha đi kháng chiến. Mẹ tôi tần tảo nuôi hai anh em chúng tôi bằng đôi quang gánh, một đầu là mấy lít dầu, đầu kia là một thùng nước mắm. Dân làng nghèo nên mỗi lần chỉ dám mua một "cút" (0,25 lít), lại thường mua chịu. Bởi vậy, kiếm được đồng tiền để sống qua ngày là khó khăn lắm. Nghèo vậy nhưng dân làng tôi rất hiếu học. No cũng học, đói cũng học. Năm ấy, hai anh em sinh đôi chúng tôi lên sáu tuổi, mẹ cho đến trường. Chắc mẹ phải dành dụm lâu lắm mới đủ tiền mua cho mỗi đứa một quyển vở, cái bút, lọ mực. Và thứ có giá nhất là một mảnh vải nâu. Mẹ tính toán rất cẩn thận để cắt được hai cái quần đùi. Cái cho anh tôi, Cu Lớn thì to, còn tôi, Cu Nhỏ thì cái nhỏ hơn. Sáng sáng, hai anh em tôi "diện" cái quần đùi, tung tăng dắt nhau đến trường làng, chiều về, lại cởi quần ra vắt lên dây để sáng hôm sau mặc đi học. Chỉ độc một cái quần, lại phải để dành mặc đi học, nên khi ở nhà, chúng tôi chẳng mặc gì, cứ nhông nhông thế đi chơi. Hầu hết bọn con trai vỡ lòng ở làng tôi đều thế. Chúng tôi chưa biết ngượng với bọn con gái, nhưng gặp thầy giáo thì xấu hổ lắm. Chẳng có gì ăn, lại bắt đầu tuổi lớn nên lúc nào tôi cũng thèm một cái gì đó. Trưa hôm ấy, tôi đang chơi thì có một bà cụ gánh một gánh toòng teng mỗi đầu quang mấy mớ dưa đi vào ngõ. Cụ vừa đi vừa rao: "Ai mua đưa khơ... ông". Thấy mẹ ra hỏi mua, tôi mừng lắm, chạy lại xem mẹ mặc cả với bà cụ. Cho đến khi mấy người khác ra mua thì mẹ không nói gì nữa. Tôi lo lắng giật áo mẹ:"Mẹ mua đi mẹ! Em thèm lắm!". Mẹ bảo: "Đắt lắm, nhà mình không mua được đâu!". Tôi cứ nhìn dán mắt vào mấy mớ dưa trong rổ. Đó chỉ là những cây cải già, chỉ dài hơn gang tay, nhưng với tôi, nó hấp dẫn lạ kì. Tôi nhớ lại mấy hôm trước, khi sang nhà hàng xóm chơi, thấy trên mâm cơm có đĩa dưa với mùi chua chua hấp dẫn đến nỗi tôi phải chạy ngay về nhà để tránh cái cảm giác thèm muốn. Đến bây giờ tôi vẫn không sao hiểu nổi làm cách nào mà tôi đã "cuỗm" được hai mớ dưa trước mặt mọi người. Tôi cầm hai mớ dưa lẩn vào cổng. Thấy tôi chạy về, mự tôi hỏi: "Mẹ mi mua dưa đó à?". Tôi lý nhí: "Dạ", rồi chạy xuống bếp, vùi hai mớ dưa vào bồ chè khô. Mẹ tôi từ ngoài cổng về, than phiền với mự: - Nỏ biết ai mua không chịu trả tiền để bà hàng dưa chửi quá! Tội nghiệp, chắc bà nớ nghèo lắm nên mất hai mớ dưa mà cứ vừa chửi vừa khóc. Mự tôi hỏi: - Rứa chị có mua không? - Không! - Khi nãy tui thấy thằng Cu Nhỏ cầm về hai mớ. Mẹ tôi tái mặt: - Thật rứa không Nhỏ? Tôi lý nhí: - Dạ... có. - Cha ơi! răng lại ra ri - Mẹ nói như nghẹn giọng - Mi vô lấy ra đây tau coi! Tôi vào bếp xách hai mớ dưa ra, lấm lét đưa cho mẹ. Đến bây giờ, tôi vẫn không quên được ánh mắt mẹ lúc ấy. Nó thảng thốt, đau khổ như vừa bị mất một vật gì vô cùng quí giá. Lúc ấy tôi không hiểu hết ý nghĩa của ánh mắt ấy, nhưng tôi hiểu ngay là mình đã làm một điều dại dột để mẹ rất buồn phiền. Mẹ ra lệnh: - Mi ra đồng, quăng hai mớ dưa xuống ruộng, rồi về tau nhủ! Lúc này tôi đâu thiết gì hai mớ dưa nữa, mà tôi chỉ lo sợ bị đòn. Mỗi khi mắc lỗi nặng, tôi thường bị mẹ bắt nằm úp mặt xuống giường, quất mấy roi vào mông rồi quát: "Nhỏ! Từ rày mi đã chừa chưa?". Những lúc ấy, tôi vừa khóc vừa van xin: "Em chừa! Em chừa!". Nghĩ đến ánh mắt của mẹ, tôi hiểu trận đòn hôm nay chắc nặng lắm. Từ ngoài đồng về, tôi đã thấy mẹ cầm một cái roi rất dài. Anh tôi đứng cạnh, trông mặt cũng sợ sệt chẳng kém gì tôi. Mẹ đập mạnh cây roi xuống mặt đất, nhìn tôi rất nghiêm khắc: - Mi đứng đây! Thằng Lớn, mi nhắc lại cho em biết hắn có tội chi, khi nãy mẹ dặn ra răng! Anh tôi khoanh tay nói: - Dạ, Cu Nhỏ có tội đã ăn trộm dưa. Mẹ dặn thà chết đói chứ nhất quyết không được ăn trộm. - Mi nghe rõ chưa Nhỏ? - mẹ nghiêm giọng - Chừ tau đạp cho mi nhớ! Câu nói chưa dứt thì ngọn roi đã quất lên người tôi. Lần này mẹ không nói tôi úp mặt xuống giường, cũng không phải chỉ đánh vào mông. Ngay cái quất đầu tiên, tôi đã cảm nhận được lằn roi từ vai xuống lưng, vắt qua mông. Tôi đau quá nhảy dựng lên, một tay xoa vào vết đau ở mông, tay kia theo phản xạ, giữ lấy tay cầm roi của mẹ. Tôi hét lên: "Mẹ ơi, em xin chừa!". Nhưng mẹ như không để ý đến nỗi khiếp hãi của tôi. Roi vẫn tới tấp quất lên người tôi. Vừa đánh, mẹ tôi vừa nói: “Ăn trộm này, tau mần chi mà đẻ con hư đốn ra ri!". Tội nghiệp thằng bé, chẳng có manh vải nào trên người nên ngọn roi như cắn vào da thịt. Tôi cảm thấy không thể chịu đựng thêm được nữa, liền vùng khỏi tay mẹ, lao ra cổng. Mẹ thét: "Cu Lớn, mi ra lôi hắn vô đây!". Anh tôi tuy sinh đôi, nhưng khỏe hơn tôi nhiều, tôi chỉ đứng đến tai anh. Bởi thế chỉ vài bước nhảy tắt qua luống rau là anh tóm ngay được tôi, lôi vào nhà. Tôi sợ hãi khoanh tay trước mặt mẹ: "Mẹ ơi, em biết tội rồi mà. Mẹ tha em, dừng đập em nữa, em đau lắm!". Tôi bỗng thấy hai chân mẹ quỵ xuống, mẹ ôm lấy tôi nức nở: "Con ơi! mẹ có muốn đập con mô. Mẹ thương con lắm. Con nỏ có chi ăn mẹ cũng đứt từng khúc ruột, nhưng mẹ phải dậy cho con để con nhớ". Mẹ tôi vừa xoa vào những lằn roi trên người tôi vừa khóc. Trời ơi! Dòng nước mắt của mẹ rơi lên vai, chảy xuống tấm lưng trần bé nhỏ của tôi, thấm vào những vết lằn roi, làm cho tôi cảm thấy vô cùng xót xa ân hận. Đó là lần đầu đứa bé trẻ thơ như tôi hiểu thế nào là ân hận. Cái cảm giác ấy cứ theo tôi đến tận bây giờ. Tháng 7 năm 2000 H.S.H (140/10-00) |
VÕ TUẤN ANHTà áo dài đượm màu tím biếc, nón lá nghiêng che thấp thoáng lúc sang sông ngập trán trong những giọt nước mưa đầu mùa trên đất cố đô. Những phong vị ấy dường như là mùi vị của Huế, nguyên sơ và thanh thoát đến lạ thường, tất cả hình ảnh đấy quá đỗi thân thương đối với những ai đã trót nặng lòng với Huế.
Kính gửi: Ban biên tập Tạp chí Sông HươngTừ ngày biết đến Tạp chí Sông Hương, cháu thường theo dõi và rất thích đọc, đặc biệt là những trang thơ. Gần đây cháu rất vui là tạp chí đã có những thay đổi về hình thức cũng như nội dung.Thỉnh thoảng cháu cũng làm thơ, nhưng chủ yếu viết cho mình đọc, cùng lắm là tặng cho bạn bè. Không dám gửi cho tạp chí nào cả, sợ họ cười.Lần này theo lời khuyên của mấy đứa bạn, cháu gửi mấy bài thơ này lên Tạp chí Sông Hương để các chú các cô trong ban biên tập xem cho cháu.Cháu xin chân thành cám ơn và kính chúc các chú các cô trong ban biên tập khỏe, hạnh phúc. Q.L
LTS: Cái đẹp có khi phải hơi thiêu thiếu một chút mới gây được mỹ cảm ở người thưởng ngoạn... Có lẽ xuất phát từ quan điểm ấy mà Lãng Hiển Xuân viết truyện ngắn nầy với chiều sâu ý tưởng đầy chất nhân văn, nhưng người đọc cảm thấy vẫn còn thiếu một chút gì...Chúng ta vui mừng khi biết đây là trang viết đầu tay của anh. Xin giới thiệu với bạn đọc, và chờ đợi Lãng Hiển Xuân những sáng tác mới.SH
LTS: 17 bài thơ đầu tay làm thành tập "Mùa huyết phượng" 17 nốt nhạc xanh lưu luyến thổn thức chia tay với tuổi thần tiên.Sông Hương xin giới thiệu trong số 17 bài thơ ấy
TẠ XUÂN HẢI - ĐỖ THƯ
LTS: Trong những ngày đầu tháng 8, Sở GD-ĐT, Hội LH VHNT TT-Huế đã phối hợp tổ chức Trại sáng tác Thiếu nhi 2009 tại làng cổ Phước tích và Khu du lịch Thanh Tân. Trên 40 tác giả nhí đến từ các thôn làng, TP Huế đã cùng nhau viết về nét đẹp quê hương, về bốn mùa đi qua trong mắt, về những kỷ niệm đẹp trong đời và những khát vọng vươn lên... Do số trang có hạn, Sông Hương xin giới thiệu 2 bài thơ trong số rất nhiều tác phẩm có được từ trại viết ấy.
MINH CHÂU TRẦN Truyện ngắnTôi sinh ra và lớn lên ở làng Tây Hồ, ngôi làng được ngăn cách với chung quanh bằng mấy luỹ tre rậm rạp và cánh đồng quê bát ngát. Làng chúng tôi cách làng Đông một cái gò và cánh đồng ấy. Trên gò là một ngôi miếu nhỏ nhưng cổ kính. Nghe bà tôi kể lại thì nó đã rất lâu đời rồi và linh thiêng vô cùng.
LTS: Cuộc thi sáng tác văn học “Trang viết học trò” do Sở Giáo dục - Đào tạo tỉnh Thừa Thiên Huế phát động trong năm 2008 đã thu hút hơn hai ngàn bài dự thi của cả ba cấp học và đã tổ chức lễ trao giải thưởng ngày 15/5/2009 cho hơn 50 bài viết có chất lượng. Các nhà văn, nhà thơ Hồng Nhu, Lâm Thị Mỹ Dạ, Mai Văn Hoan, Phạm Phú Phong, Nguyễn Khắc Phê đã được mời làm Ban Chung khảo cuộc thi. Tạp chí Sông Hương kỳ này vui mừng giới thiệu với bạn đọc một bài đạt giải trong cuộc thi này.
HOÀNG KIM NHI (CLB Văn học Trẻ Thừa Thiên Huế) Nhân đôi mắt, máu trái tim
Đêm Phước Tích
Khúc hát chị đi tìm
...Mùa nắng hạn thèm được nghe tiếng sấmCha thở dài nhìn đập nước cạn khôCỏ cháy héo thương bầy trâu trơ mõmĐêm con cóc nghiến răng đến thẫn thờ...
DƯƠNG THÙY DƯƠNG (Câu lạc bộ Viết Trẻ Thừa Thiên Huế)Lớp 3. Vào năm 198 mấy, tôi biết về những giao xúc yêu đương của người lớn. Phòng ngủ của mẹ tôi không có cửa vì phòng ngủ của những người lớn lúc bấy giờ đều như thế, không có cửa. Một tấm rèm nhựa màu xanh lấp lánh như phòng ngủ của mẹ đã thuộc hạng sang.
Trần Vĩnh Liên, sinh tháng Tư năm 1975, vào thời điểm lịch sử dân tộc chuyển sang trang mới.Bạn viết trẻ của Sông Hương dù khá đông đảo nhưng tìm được một người chào đời vào cái mốc lịch sử ấy thì quả là hiếm!Sông Hương giới thiệu trang thơ đầu tay của Trần Vĩnh Liên với ý nghĩa đó.Ước mơ thời học sinh của Liên là sẽ theo học văn chương, nhưng như một duyên nợ, Liên lại là cử nhân ngoại ngữ (Khoa tiếng Đức - Đại học Ngoại ngữ Hà Nội). Thơ Trần Vĩnh Liên giàu ước mơ và dự cảm nhưng còn thao thức, phân vân giữa đường biên hư - thực; nhiều rung động muốn giãi bày nhưng lại giữ gìn, e ấp. Chính điều đó đã làm nên nét quyến rũ thầm kín, run rẩy của thơ Trần Vĩnh Liên.
Phan Danh Hiếu - Ngô Thị Thục Trang - Trần Đình Khuê - Nguyễn Thị Hương - Trần Văn Quyết - Nguyễn Đình Dương
LÊ THỊ PHƯƠNG HIỀN Truyện ngắnTháng bảy mưa ngâu ấy với Thuỷ là nhiều kỷ niệm nhất. Đúng dịp nghỉ hè của trường đại học, Thuỷ và Huy có thời gian quấn quít bên nhau bù lại những ngày bận tối mắt vì ôn thi. Huy chở Thuỷ trên cái xe đạp vẹo vọ, đợt ấy Hà Nội dầm trong mưa nhưng chẳng có ai cảm thấy chán đi chơi cả. Hai đứa chung nhau một chiếc áo mưa.
NGUYỄN LÊ VÂN KHÁNHGió lạ“Huế vào đêm cuối năm mưa lùn phùn và những cơn lạnh ù ù miết vào da thịt tôi. Gió mỗi lúc một lớn. Tôi không nghĩ đêm 30 vẫn còn những cơn gió lạ lùng như thế. Mẹ tôi lúc còn sống bà thường nói rằng ông trời dung dưỡng tất cả con người sống trên mặt đất này.
NGUYỄN MẠNH TIẾN (*)“Thiên sứ đích thực của triết gia là điều chỉnh những điều chênh lệch; kiện tráng những điều chính nghĩa; thăng hoa những điều thánh thiện”. (Alcuin)
NGUYỄN KIM LOAN - NHỤY NGUYÊN
Lê Thị Phương Thảo - Hoàng Lan