Những lời nói dối

16:05 08/01/2010
Kamala Das tên thật là Kamala Suraiyya, sinh ngày 31.3.1934 tại Punnayurkulam, quận Thrissur, thành phố Kerala, vùng tây nam Ấn Độ. Bà là nhà văn nữ nổi tiếng của Ấn Độ. Bà sáng tác truyện ngắn bằng tiếng Malayalam. Bà sáng tác thơ và tiểu thuyết ngắn bằng tiếng Anh. Bà chủ yếu nổi tiếng trong thể loại truyện ngắn. Trong sự nghiệp sáng tác, bà đã có nhiều giải thưởng văn học, trong số đó là: Asian Poetry Prize, Kent Award for English Writing from Asian Countries, Asan World Prize, Ezhuthachan Award và một số giải thưởng khác nữa. Ngày 31 tháng Năm, 2009, bà mất tại bệnh viện thành phố Pune, Ấn Độ, thọ 75 tuổi.

Nhà văn Ấn Độ Kamala Das - Ảnh: askmeany.com


KAMALA DAS



K
hi nó mở mắt, Mẹ đang đứng bên giường. “Amma, Amma, đỡ con”, nó nói trong khi ngồi dậy. Bàn tay của Mẹ mát, mắt mẹ mở to khi mẹ hôn nó. “Con xa mẹ quá nhiều ngày rồi”, nó than. Nó đã quyết không bao giờ tha thứ cho bà về việc bà bỏ nó một mình với Cha và người đầu bếp có đôi bàn tay thô ráp. Không ai hỏi ý kiến của nó về sự lừa dối này. Không ai hỏi nó có đồng ý hay không. Nó đã quyết không cười khi bà trở về. Thậm chí nó sẽ không muốn gặp bà. Nhưng khi Mẹ ôm nó lên trong vòng tay bà, nó đã khóc tức tưởi.

“Sao vậy, Appu? Mẹ chỉ đi có hai ngày thôi mà”. Mẹ đặt nó xuống ghế bên cạnh bàn ăn trong nhà bếp. Cha đang ngồi trên một cái ghế khác, mặt ông khuất sau tờ báo. “Appu, bữa nay uống trà với ba mẹ nha. Con cũng có bánh Me mua về nữa nè”. Bà mở mấy hộp thiếc.

Mẹ đang cố làm cho mình vui. Mình không nên để bị phỉnh nữa.

“Con không muốn gì hết”.

Cha hạ tờ báo xuống nhìn nó, rồi chầm chậm hút một hơi thuốc.

“Đừng giận con”, Mẹ nói.

“Chính do em đó, Radha, em nuông chiều nó. Nó không bao giờ vâng lời. Đúng là một đứa trẻ ương bướng”.

“Nhưng nó chỉ là một đứa bé”. Mẹ để một cái bánh ngọt laddu nhỏ và một miếng bánh murrukku lên dĩa của nó. Cha nhìn nó. Ông lấy điếu thuốc xuống, mím môi và thở khói.

Bánh laddu quá ngọt. Mình sẽ nói cho Mẹ mọi chuyện, nó quyết định khi nó nhai murrrukku. Mình sẽ nói với mẹ mọi chuyện đã xảy ra khi mẹ vắng nhà. Mình sẽ nói với Mẹ rằng mình bị ép ăn cơm chỉ với bơ chua, rằng mình bị ép ngủ một mình trong phòng tối, rằng Stella đã đến, rằng ban đêm nhiều người cười la và nhậu dưới nhà. Như thế khi Mẹ đưa nó đi ngủ, bà sẽ không bảo là Cha thương nó nhiều đến mức ông sẽ luôn luôn nghe theo lời nó. Hãy để Mẹ thấy Cha ác như thế nào. Rồi chắc bà sẽ thôi lơ là nó khi Cha đi làm về.

“Em nghĩ là Appu sẽ tự điều chỉnh. Em lo lắng nghĩ về những chuyện đang xảy ra ở nhà này”, Mẹ nói.

Cha keo Mẹ ngã vào lòng ông. Appu nhìn xuống, giả bộ như không thấy. Nó bẻ bánh laddu và rải các miếng bánh lên đĩa. Cha chỉ nổi giận với Mẹ khi nào ông nhìn thấy hai mẹ con. Khi nó đi xuống nhà đêm đó - đêm trước khi mẹ về - Stella đang ngồi trong lòng cha. Nó đã nghĩ rằng Stella đã về trước khi trời tối. Tại sao Stella ngồi trong lòng cha mà đèn lại để sáng trong khi mọi người khác đã đi ngủ? Tựa mình vào thành cầu thang, nó nhẹ nhàng gọi: “Stella”. Stella nhìn lên và cười nhưng không trả lời. Rồi Cha hỏi, “Sao em cười?”. Giọng ông là lạ, như thể cổ họng ông bị đau. Stella im lặng.

“Nói đi em”, cha nói.

“Thằng bé”, Stella quay mặt nhìn ông. Cha nhanh chóng đứng dậy. Stella suýt té. Cha dắt nó về phòng và bắt nó vào giường. Ông vỗ chân nó, cố dỗ nó ngủ.

“Sao Stella không về nhà?”

Đóng cửa lại, Cha nói, “Cô ấy sẽ về. Tối cô ấy sẽ về”.

“Bây giờ không phải tối sao?”

“Đối với trẻ con thì là tối. Đối với người lớn, chỉ mới đầu đêm”.

Nó biết đó là một lời nói dối, vì thỉnh thoảng, khi nó thức giấc vào ban đêm, nó nghe cái đồng hồ tích tắc điểm giờ. Mẹ lúc ấy ngủ say. Nó sẽ leo lên mình bà và đánh thức bà dậy, bảo rằng nó khát. Nó biết rằng Cha đang nói dối. Trên cầu thang, nó nghe đồng hồ gõ giờ như đã từng nghe. “Cha, nằm xuống đây. Con không buồn ngủ”.

“Appu, cha sẽ trở lại ngay”.

Cha nó nhẹ nhàng đóng cửa mà nó còn muốn hỏi nữa, “Sao Stella không đi về?”. Không ai trả lời. Một lúc lâu sau nó nghe giọng nói của cha nó. Mới đầu là tức giận, rồi sau đó là tiếng khóc tấm tức của Stella, rồi giọng nói dịu dàng và năn nỉ…Khi nó thức dậy vào buổi sáng, nó sống động nhớ lại giấc mơ nó cưỡi một con ngựa bay qua bầu trời.

“Amma, con đã cưỡi ngựa đi nhiều nơi”.

“Khi nào?”

“Khi mẹ vắng nhà. Khi Stella đến vào buổi tối”

“Ai?”

Cha làm rơi tờ báo. Đầu điếu thuốc lá lấp lánh trên môi ông.

“Stella. Mẹ không biết Stella, hả Mẹ? Cô Stella cao cao ấy? Cái cô Stella môi son má phấn ấy?”

Cha dập điếu thuốc lá trong tách trà của ông và cười to: “Trước hết, nó nói đến một con ngựa. Bây giờ, Stella. Nó mơ về tất cả những chuyện này hay tưởng tượng ra chúng chắc?”.

Mẹ rót một chút cà phê vào ly sữa của cha cho nó có màu. Bà có vẻ như sắp cười. Cha có vẻ tức giận. Mình đang làm gì đây, nó tư hỏi mình.

“Stella… Nó lấy cái tên đó ra từ chỗ quỷ nào vậy? Radha, em có biết nó nói dối bao nhiêu lần một ngày không?”

Cha đốt một điếu thuốc khác và búng que diêm đang cháy đi.

“Nó chỉ là một đứa bé”, Mẹ rót chỗ ca phê của cha vào cái chén nông để hâm lại.

“Anh sẽ dẹp cái tật nói láo này của nó”, cha tức giận nói, Appu không dám nhìn ông. Nó nhúng ngón tay vào cà phê. Ai nói láo? Cha, hay nó? Đó mà là giấc mơ sao? Cái cô Stella ấy đã đến, và nó đã cưỡi một con ngựa? Nó chưa hề nhớ những mặt người trong những giấc mơ của nó. Nhưng nó nhớ cô Stella rất rõ. Những móng tay của cô tô son, tiếng cười lớn của cô, mùi quần áo của cô. Nó nhớ mọi thứ rõ ràng. Nhất định Stella không phải là giấc mơ. Stella đã đến vào buổi tối. Cô ấy nựng cằm nó và hỏi, “Mẹ có nhà không? Cô đến để gặp mẹ?”. Rồi cô nói chuyện với cha hồi lâu - bằng thứ tiếng mà nó ít hiểu - và họ cười cùng nhau. Rồi họ uống trà. Đây là lời nói dối sao? Đây chỉ là giấc mơ sao? Nó không nhớ con ngựa của nó như thế nào. Nó chỉ nhớ bụi trắng tung bay đầy trời khi ngựa phi. Đó chắc chắn là một giấc mơ. Nhưng Stella…

Cha đứng dậy và dùng chân dập điếu thuốc trên nền nhà. “Nếu con còn nói dối như thế này nữa thì, ba sẽ…”

“Sao anh lại tức giận như thế? Nó chỉ là một đứa bé”. Mẹ dắt nó ra ngoài và để nó xuống chiếc chiếu trải ngoài hàng hiên. Bà thả đồ chơi trước mặt nó. Con thỏ mất tai, chiếc xe tải đỏ, những cái que…

Cha cầm tờ báo vào phòng ngủ. Khi chỉ còn lại hai mẹ con, Mẹ cầm tay nó trong tay bà và nói, “Appu, đừng bao giờ nói láo. Con không muốn giống như cha của con khi con lớn lên phải không?”

Bàn tay mẹ mát. Nó nghĩ mẹ nó rất đẹp. “Amma, con cũng không được nói về con ngựa nữa sao?”, nó hỏi.

VÕ HOÀNG MINH dịch
(Lies - Little Magazin)
(250/12-09)



 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • Dazai Osamu (1909 - 1948) tác gia kiệt xuất, đại diện cho “trường phái vô lại”, đó là một nhóm các nhà văn có khuynh hướng nổi loạn và tự hủy, trong nền văn học cận - hiện đại Nhật Bản. Phần lớn những tác phẩm của ông đều mang tính chất tự thuật với văn phong u mặc, diễn tả tâm trạng bế tắc trong thời kỳ hậu chiến và bi kịch cá nhân, đồng thời cũng dí dỏm, hài hước một cách cay đắng.

  • Han Kang được trao giải Nobel Văn học năm 2024 do có “văn xuôi đầy chất thơ mãnh liệt đối mặt với những tổn thương lịch sử và phơi bày sự mong manh của đời người”.


  • XERGÂY ĐÔVLATÔP

  • SHERWOOD ANDERSON

  • WILLIAM SOMERSET MAUGHAM

    William Somerset Maugham là tiểu thuyết gia người Anh. Ông sinh năm 1874 tại Paris, Pháp, và là con của một cố vấn pháp luật trong tòa đại sứ Anh tại Paris.

  • Okamoto Kanoko (1889 - 1939) nhà thơ Tanka và là nhà nghiên cứu Phật giáo. Sinh ra trong một gia đình giàu có tại Tokyo, sau khi tốt nghiệp trường nữ sinh Atomi, bà theo học nữ tác gia Yosano Akiko và đã công bố một số bài thơ Tanka.

  • Nhà văn Mỹ Sarah Orne Jewett sinh năm 1849 và mất năm 1909. Bà là nhà tiểu thuyết, nhà thơ và nhà văn viết truyện ngắn (Short Story Writer). Bang Maine là không gian chính trong tác phẩm của bà. Văn chương của bà sớm đề cập đến các vấn đề sinh thái và các vấn đề xã hội khác, có tính vùng miền.
                        Trần Ngọc Hồ Trường dịch và giới thiệu

  • C. J. MCCARTHY

    Cormac McCarthy là nhà văn người Mỹ, ông nổi tiếng với phong cách viết bạo liệt và u ám. McCarthy chuyên viết tiểu thuyết và được giới hàn lâm đánh giá cao ở ngay tiểu thuyết đầu tiên, The Orchard Keeper (1965), nhưng ông không thành công với độc giả đại chúng.


  • FERNANDO SORRENTINO

  • Jon Fosse là kịch gia đương đại, nổi danh với tặng thưởng Nobel văn chương 2023. Số lượng truyện ngắn đã xuất bản không nhiều, Jon Fosse vẫn ghi dấu với một phong cách độc đáo. Người em gái nhỏ (Søster) xuất bản năm 2000, bản dịch Anh ngữ in trong tập Scenes from a childhood (Damion Searls dịch) năm 2018.

  • JOSEPHIN JOHNSON
                       (Mỹ)

    Gnark ngồi trong buồng ngủ, mắt nhìn những tấm giấy phủ tường. Một cảm giác là lạ xâm chiếm lòng anh.

  • SRI DAORUANG

    Nhà văn Sri Daoruang tên thật là Wanna Sawasdsri, sinh năm 1943, quê quán ở Phitsanulok, Bắc Bangkok, Thái Lan. Bà là tác giả của tuyển tập Quỷ truyện Dân gian (Tales of the Demon Folk, 1984).

  • HENRI TROYAT

    LTS. Henri Troyat tên thật là Lev Tarassov sinh năm 1911 tại Moskva. Viện sĩ Viện Hàn lâm Pháp. Giải thưởng văn học đầu tiên với tác phẩm "Faux jours" (1935). Ông đã xuất bản trên 20 tác phẩm tiểu thuyết và truyện ngắn. Những tác phẩm được dư luận đặc biệt chú ý như bộ ba tiểu thuyết "Tant que la terre durera" (1947), "Le sac et la cendre" (1948) và "Etrangers sur la terre" (1950) hoặc như "La lumière des Justes"... Ông còn viết cả kịch bản văn học. Truyện ngắn "Cơn choáng" (Le vertige) lấy từ tập "La Fosse Commune" xuất bản năm 1986.

  • Yamakawa Masao (1930 - 1965), tên thật là Yamakawa Yoshimi, ông sinh ở Tokyo, tốt nghiệp Đại học tư thục Keo (khoa Pháp văn). Yamakawa Masao từng làm biên tập cho Tạp chí văn học Mita Bungaku. Sau đó ông viết và công bố các truyện ngắn như: Cái chết mỗi ngày, Năm ấy, Công viên ven biển… với phong cách tinh tế, miêu tả sự phi lý của cái chết và tuổi trẻ thời kỳ hậu chiến. Ông qua đời năm 34 tuổi do tai nạn giao thông.

  • Nhà văn Ấn Độ (người Hindi), Krishna Baldev Vaid sinh năm 1927. Ông học đại học tại Punjab và Harvard; dạy học tại nhiều trường đại học ở Ấn Độ và Mỹ. Ông viết tiểu thuyết, kịch, truyện ngắn, phê bình và dịch thuật văn học. Tác phẩm của ông được dịch ra nhiều ngôn ngữ như Anh, Pháp, Đức, Ý, Ba Lan, Nga, Nhật và các tiếng khác ở Ấn Độ.

  • HÁCH XUYÊN THỨ LANG
                          (Nhật)

    Phải dấu việc này không cho anh ấy biết. Lãng Tử nghĩ vậy và nắm chặt bao nhỏ trong tay, tần ngần rảo bước trên cầu. Đêm tối không người với dòng sông lặng lẽ trôi giữa một màn đen kịt, và rồi nó sẽ mang đi điều bí mật của ta.

  • DHUMKETU

    Dhumketu là bút danh của Gaurishankar Govardhauram, là nhà văn Ấn Độ (1892 - 1965), thường được xem như là một trong những người khai sáng loại hình truyện ngắn. Tác phẩm của ông thường có bút pháp gây xúc động, lãng mạn hoặc miêu tả đậm nét những cảm xúc của con người.