Những kẻ ăn cỏ

15:30 07/04/2009
KRISHNAN VARMAKrishnan Varma sinh ở Kerala, Ấn Độ. Ông viết bằng hai thứ tiếng Anh và Malayalam. Trong nhiều tác phẩm của mình, ông chia sẻ sự quan sát đối với cuộc sống của lớp người cùng khổ trên đất nước ông.

Nhiều năm trước đây, có thời tôi làm gia sư cho một cậu bé có hình dạng như một quả cầu (giờ là một anh chàng có hình dạng như một quả cầu). Ngày kia, ông Ramaniklal Misrila, ông bố có hình dạng như một quả trứng của cậu ta hỏi tôi sống ở đâu. Tôi trả lời.
Ông Misrila nhìn vẻ hết sức đau đớn “Cái ống sao Ajit Babu? Anh nói là cái ống sao Ajit Babu?”
Bà vợ có dáng hình lập phương của ông gần như khóc: “Cái ống sao Ajit Babu? Làm sao anh sống được trong một cái ống?”

Đúng vậy thời kỳ ấy tôi sống trong một cái ống cùng với Swapna, vợ tôi. Đó là một cái ống dài và từ bên này qua bên kia độ ba bốn feet. Với hai miếng bao tải treo ở hai đầu, chúng tôi cảm thấy nó tiện lợi hơn bất cứ chỗ nào trước đó.

Chỗ ở đầu tiên là một con hẻm trên đại lộ Chiharanjan Avennue. Chúng tôi chân ướt chân ráo đến Calcutta từ đông Bengal1, nơi người theo đạo Hinđu và người theo đạo Hồi Giáo đang sát hại nhau. Con hẻm, gồm dân địa phương và những kẻ tị nạn như chúng tôi, chật chội đến mức nếu khuya bạn dậy đi vệ sinh không chắc bạn có thể tìm lại chỗ của mình. Một sáng trời lạnh nọ, tôi trở giấc thì thấy người phụ nữ bên cạnh tôi chẳng phải là Swapna ma thay vào đó là một nhúm xương chừng 5,60 hoặc 70 tuổi. Một chân tôi còn gác lên người bà ta. Tôi cay đắng xin lỗi. Suýt nữa bà ta đã móc mắt tôi. Rồi Swapna tới, phùng mang trợn mắt... Tôi sống sót nhưng mất một cái tai. Rồi một người đàn ông gồ ghề, chồng của người phụ nữ tới, tay quay tít một khúc cây trên đầu, miệng gầm gừ... Đó dù sao cũng làm tôi kinh động. Tôi chạy thoát.

Ngày hôm sau Swapna và tôi chuyển vào một toa hàng bỏ hoang tại một ga xép. Với chúng tôi, nguyên cả toa, một chỗ ở có các cửa có thể đóng, mở được, là nơi chúng tôi chẳng cần phải treo triết gì cả, ngoại trừ việc mất suốt cả giờ để đóng mở các cửa, nơi mọi sinh hoạt riêng tư của một người đàn ông và vợ có thể cần đến, nơi không phải sợ hãi bởi mỗi khi thức giấc thì trong cánh tay có một người hoàn toàn xa lạ. Đó là thiên đường. Tôi cảm thấy mình là Chúa.

Thế rồi một tối nọ chúng tôi tỉnh giấc thì thấy trời đất đang trốn chạy: chúng tôi bị móc vào một tàu chở hàng. Chẳng biết làm gì hơn ngoài việc chờ tàu dừng lại. Khi tàu dừng thì đã cách Calcutta nhiều dặm. Chúng tôi xuống và lên một chiếc tàu chở khách để quay trở lại và chiếm một toa hàng bỏ hoang khác. Đó không phải là lần duy nhất chúng tôi lên giường ngủ ở Calcutta và thức giấc ở một nơi khác. Tôi cảm thấy điều đó thật nhức nhối, gây cảm xúc thương tâm nhưng Swapna không cảm thấy như vậy.

Cô ấy muốn có một chỗ ở cố định, cô ấy khăng khăng đòi có dù không nói tại sao. Nếu tôi cứ một hai chất vấn thì cô ta khóc. Nếu tôi cố thuyết phục cô ấy thay đổi ý muốn và chỉ ra tất cả những tiện lợi khi sống trong một toa hàng - có 4 bức tường, có mái che và cửa, tuyệt nhiên không phải trả tiền và hoàn toàn tự do ái ân ban ngày hoặc ban đêm - cô ta vẫn sụt sùi. Nếu tôi làm lơ sự càu nhàu của cô ấy thì bữa ăn trễ nãi, cơm sống, món cari mặn chát, tôi cuối cùng chịu thua. Chúng ta sẽ chuyển đi, tôi nói, cho dù phải chiếm cái nhà nào đó bằng vũ lực, nhưng cô ấy không thể nói được với tôi lý do, dù vô lý là tại sao cô ấy không thích cái toa hàng?

Lần đầu tiên trong nhiều tuần lễ, Swapna cười, một nụ cười rất mơ hồ. Rồi chầm chậm, cô kéo vạt áo sari phủ lên đầu, mắt cụp xuống, quay mặt tránh tôi và run run thì thào, chỉ vừa đủ nghe rằng (ngừng một lát) không (ngừng lâu) muốn (ngừng rất lâu) đứa bé (nói bằng tốc độ phản lực) sẽ được sinh ra trên một con tàu đang chạy. Nói rồi cô lấy tay bụm mặt... Đó là đứa bé thứ tư. Một đứa chết vì bệnh bạch hầu trên đường trở về nhà (giờ đã không còn là nhà của chúng tôi nữa) ở Dacca; đứa thứ hai chết bởi kiệt sức trong chuyến đi bộ khó nhọc tới Calcutta. Đứa bé sắp ra đời sẽ là một bé trai? Tôi thấy không có chút nghi ngờ gì về điều đó. Nó sẽ là một bé trai: sẽ có ai đó chăm sóc chúng tôi lúc tuổi già, sẽ làm lễ tang khi chúng tôi mất, đột nhiên tôi hôn lên khuỷu tay Swapna bởi khuôn mặt đã bị hai tay cô ấy che bụm lại và thẳng thắn quở trách. Hôn, theo cô ấy, là cái kiểu cách của Tây phương, lại cũng chẳng lành mạnh, bởi chung qui nó là liếm và tất cả người Hinđu ngoan đạo nên kiêng cử.

Tôi không mất chút thời gian nào trong việc tìm kiếm một nơi thích hợp để cô ấy sinh nở. Cô ta cương quyết bác bỏ mọi đề xướng của tôi: ga xe lửa (có quá nhiều cư dân); một cái cầu ít người qua lại (cô ấy không phải là một cái diều để sống ở một chỗ quá cao so với mặt đất); một cái bồn nước bị rớt xuống đất và được bỏ trống (phải chăng tôi nghĩ cô ấy là một con ếch). Tôi nghĩ đến đề nghị vào sống trong trường tiểu học của thành phố nơi lúc ấy tôi đang dạy nhưng cảm thấy rất ngượng ngập. Không phải ông hiệu trưởng sẽ phản đối nếu chúng tôi chiếm một cái góc cuối ở hiên sau vì ông là người tốt bụng, là cha của bảy đứa con tất cả là gái; ông sẽ chẳng bao giờ gây lo lắng có những người đàn bà hoang toành đều đặn đến đẻ trong trường của mình. Nỗi lo sợ của tôi là: biết đâu Swapna chạy vào lớp nói, “Giữ đứa bé một chút, được không anh? Em đi vào nhà... xí”. Dù thế, tôi cũng rời bỏ trường học. trên đường đi đến gần ga Seakhah, chúng tôi tình cờ thấy một cái ống làm bằng bê tông bị bỏ lại trong lần sửa chữa cống ngầm trước đây. Thật khó tin là nó chưa bị chiếm dụng và chẳng cần tôi gợi ý cô ấy đã bò vào, đó là chuyện như thế nào mà chúng tôi đến sống trong cái ống.

“Không hợp lẽ”, ông Misrilal nói, “không hợp lẽ, bởi thầy giáo mà sống trong một cái ống” ông thở dài ngao ngán. “Sao không chuyển tới một trong các toà nhà của tôi Ajit Babu?”. Nhà mà tôi sắp đến ở, nếu tôi quan tâm đến, ông ta giải thích, là ở Entally, không xa chỗ cái ống; tôi sẽ không gặp khó khăn khi sống ở đó; đó là một cái toà nhà cũ và có một số thùng cũ đựng than làm nhựa đường bỏ không trên mái; tôi có thể ở trên mái nếu tôi xếp chồng các thùng lên nhau làm thành hai hàng và phủ một tấm vải dầu lên.

Chúng tôi sống trên mái nhà ấy từ đó. Nó không tồi như khi nghe nói về nó. Mái nhà bằng phẳng, không có đầu hồi và được xây bằng bê tông chứ không phải bằng tôn múi. Tiền thuê nhà thấp hơn nhiều so với những người thuê nhà khác ở phía dưới là Bijoy Babu, Akhanda Chatterjee và Sayar Sen. Chúng tôi có ánh sáng nhiều hơn, thoáng gió hơn họ. Lũ chuột và bọn gặm nhắm không gặm chúng tôi như chúng vẫn thường. Và con trai chúng tôi Prodeep, có phòng rộng hơn để chơi so với bọn trẻ ở dưới.

Prodeep giờ đây không ở cùng với chúng tôi, nó tham gia phong trào bí mật Naxalite2. chúng tôi nhớ nó khủng khiếp. Tuy vậy, cũng có cái bù lại, dù nhỏ thôi. Nếu có nó, chúng tôi phải mặc quần áo. Giờ thì không phải, đúng ra là không nhiều. Tôi chỉ mặc một cái khố và Swapna thì chỉ quấn một mảnh vải nhẹ rộng hơn để giữ cho số quần áo ít ỏi đã sờn rách của chúng tôi không bị sờn rách thêm. Tôi có thể tiết kiệm một ít từ tiền trợ cấp của mình để mua áo quần mới. Swapna thấy cái bộ dạng ăn mặc quá phong phanh và quá tính toán của tôi giữa thanh thiên bạch nhật như thế nên bối rối và cứ quay cái lưng về phía tôi. Như một con tinh tinh đang hờn dỗi, tôi bất bình nhìn cái mông của cô ấy và nói chẳng có cái gì của cô ấy là không bị tôi thấy. Nhưng cô ta cứng rắn, không chịu quay lưng lại. Tuy vậy, khi đêm xuống, cô ấy bớt cứng hơn vì cả hai chúng tôi đều bị quáng gà.

Khi chúng tôi đi ra ngoài - đi đến nhà xí công cộng, đi nhặt than vụn trên đường rầy xe lửa, đi hái rau - chúng tôi mặc quần áo. Rau cỏ bây giờ là thức ăn chính của chúng tôi: một mớ rau xanh nấu với ớt sống và muối, vài thìa cháo trắng lễnh loãng. Chúng tôi bắt đầu ăn rau khi giá gạo vọt tăng. Tôi rất muốn làm như anh Bijoy Babu ở phía dưới cái điều mà người ta tin là anh ấy đang thực hiện. Thuyết của anh ấy là nếu bạn giảm lượng gạo tiêu thụ đi 5 gram mỗi người, bạn sẽ không chỉ không nhận thấy rằng bạn đang ăn ít hơn mà sau một thời gian, bạn có thể sẽ chẳng cần ăn gì cả. Ngày nọ, tôi tình cờ nhận thấy rằng anh ấy đứng chẳng còn vững nữa. Thấy thế tôi dừng lai. Anh ấy còn có thể đi lại được dù là nghiêng nghiêng ngã ngã vì còn có hai chân nhưng tôi thì chỉ có một chân. Tôi mất một chân từ sau vụ té ngã từ mui xe điện. Ở Calcutta, xe điện luôn đông đúc và nếu bạn không thể vào được trong toa, bạn có thể leo lên mui. Người soát vé sẽ không cản bạn. Nếu anh ta cố cản, hành khách sẽ đánh anh ta, đốt xe điện và bất cứ xe cộ nào khác đậu ở xung quanh, cướp phá các cửa hàng gần đó, đập vỡ điện đường, cản trở lưu thông, tổ chức meeting kiến nghị, lên án chủ nghĩa đế quốc Anh, chủ nghĩa thực dân mới Mỹ, chính quyền trung ương, chủ nghĩa tư bản và cho nổ pháo ống. Tôi chẳng thấy làm tiếc chút nào về cái sự tật nguyền của mình bởi tôi chỉ cần mang một chiếc sandal và nhờ đó tiết kiệm được trong chuyện giày dép.

Như vậy nói tóm lại, cuộc đời chúng tôi đã trải qua nhiều bất trắc. Tất nhiên những biến thiên ấy không phải lúc nào cũng dễ chịu. Nhưng có hề chi? Chúng tôi thọ hơn những biến thiên. Và giờ đây, chúng tôi chẳng thấy sợ hãi hay lo âu. Chúng tôi có một cái nhà làm bằng những thùng nhựa đường. Chúng tôi mỗi ngày ăn hai bữa rau thịnh soạn. Chúng tôi chẳng cần mặc quần áo. Chúng tôi có một đứa con để làm cho cái lễ tang. Chúng tôi sống rất lặng lẽ bằng lòng nhìn cảnh đời đang trôi qua: xe điện đang bốc cháy, một gã đàn ông đang đấm một gã khác, một người phụ nữ đang vứt đứa bé con cô vào sọt rác.

TRẦN NGỌC BIAN dịch

(Dịch từ The International story” NXB Saint Martin′s press,
New york, 1994, t.167-170)

(199/09-05)

-------------------
1. Đông Bengal: chủ yếu theo Hồi Giáo, Đông Bengal trở thành Đông Pakistan năm 1947, rồi dành độc lập trở thành Bangladesh vào năm 1971.
2. Naxalite: Phong trào đặt mục tiêu thay đổi cấu trúc xã hội Ấn Độ bằng cách thay đổi đẳng cấp và tái phân phối đất đai trong tầng lớp nghèo nông thôn.

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • Salman Rushdie (1947), nhà văn và người viết tiểu luận, gốc Ấn, hiện sống tại Mỹ, là tác giả của nhiều tiểu thuyết gây tiếng vang, như Những đứa con của nửa đêm, được trao giải Booker, năm 1981, và cả những tiểu thuyết gây tranh cãi như Những vần thơ của Satan, 1988. Văn phong Rushdie thâm trầm, khoáng lộng, hài hước và tươi mới.

  • FRANK O’CONNOR  

    Khi tôi tỉnh giấc, tôi nghe có tiếng mẹ ho ở nhà bếp. Mẹ bị ho đã nhiều ngày nhưng tôi không để ý. Chúng tôi sống ở Old Youghal Road, nơi mà vào lúc đó, có một con đường nhiều đồi dốc dẫn tới East Cork.


  • E. RUXACỐP (Nga)

  • ABDULRAZAK GURNAH    

    Tôi nghĩ anh ta đã nhìn thấy tôi đang tiến lại gần, nhưng vì lý do riêng nào đấy nên anh ta vẫn không có dấu hiệu gì.

  • Maurice Druon, sinh năm 1918, theo học Đại học Luật Paris. Trong chiến tranh thế giới ln thứ hai, ông tham gia lực lượng kháng chiến Pháp chng phát xít Đức, là thông tin viên Đài Phát thanh Kháng Chiến. Giải Goncourt 1948 với tác phm "Đại Gia đình" (Les Grandes Familles). Các tác phm đậm chất trữ tình của nhà văn: "Kết thúc đời người" (La Fin des Hommes), "Hẹn gặp tại Địa ngục" (Rendez-vous aux enfers) phản ánh một thiên hướng theo trường phái Balzac.
    Ông đồng thời là tác giả một số tiểu thuyết lịch sử.

  • JENNIFER WALKUP   

    Tôi sẽ không nói với ai về việc chẩn đoán.
    Không hé răng với mẹ hay em gái tôi. Chắc chắn không phải Jake và có lẽ với Steve cũng không hề.

  • GRAHAM GREEN

    Cái chết đến kề như một nỗi nghiệt ngã day dứt mà ta hổ thẹn không dám thổ lộ với bạn bè hoặc đồng nghiệp.

  • ELISABETH SILANCE BALLARD

    Một truyện ngắn cảm động về tình thầy trò. Truyện khiến người đọc có thể nghĩ chuyện xảy ra hôm nay, không phải cách đây hơn bốn mươi năm.

  • Tác giả tên đầy đủ là Heinrich Theodor Böll (1917 - 1985). Ông được coi là một trong những nhà văn lớn nhất của Đức thời hậu chiến. Năm 1972 ông được nhận giải Nobel Văn học. Tác phẩm và quan điểm chính trị của Böll thể hiện khát vọng xây dựng một xã hội mang tính nhân văn. Các tiểu thuyết tiêu biểu của ông: “Thiên thần im lặng”, “Và tôi đã không nói một lời duy nhất”, “Nhà không có người che chở”, “Qua con mắt của chú hề”, “Bức chân dung tập thể với một quý bà”…

  • KATE CHOPIN

    Catherine O’ Flaherty sinh năm 1850 tại Saint Louis, Missouri, bố gốc người Ái Nhĩ Lan, mẹ gốc Pháp, lớn lên trong môi trường đa văn hóa, từ nhỏ đã nói tiếng Pháp đồng thời với tiếng Anh.

  • Nhà văn, nhà thơ, triết gia, họa sỹ, dịch giả Ấn Độ Rabindranath Tagore sinh năm 1861 tại Calcutta, Ấn Độ và mất năm 1941. Ông để lại một di sản văn học - nghệ thuật đồ sộ với hàng ngàn tác phẩm đủ các thể loại. Tagore còn là nhà yêu nước, đòi giải phóng Ấn Độ khỏi sự cai trị của Anh. Ông được trao giải Nobel văn học năm 1913.

  • O’Neil De Noux sinh ngày 29/11/1950 tại New Orleans, bang Louisiana, Hoa Kỳ. Ông là một nhà văn Hoa Kỳ có sức sáng tác mãnh liệt với nhiều tiểu thuyết và truyện ngắn, đã có 42 đầu sách được xuất bản. Phần lớn sáng tác của ông là truyện trinh thám hình sự, tuy nhiên ông cũng viết nhiều thể loại khác như tiểu thuyết lịch sử, truyện dành cho trẻ em, truyện khoa học viễn tưởng, kinh dị, tình cảm, v.v.

  • JASON HELMANDOLLAR

    Jason Helmandollar là một nhà văn người Mỹ, tác giả của nhiều truyện ngắn nổi tiếng được đăng trên các báo, tạp chí đang thịnh hành lúc bấy giờ như Encounters Magazine, Bartleby Snopes, Title Goes Here, Sideshow Fables. “The Backward Fall” là một trong những truyện ngắn hay và hấp dẫn của ông.

  • TIMUR JONATHAN KARACA

    Timur Jonathan Karaca được sinh ra ở San Francisco. Ông là bác sĩ y khoa khoa gây mê tại UCSF. Ông sống ở Oakland, nơi ông hành nghề. Karaca theo học sáng tác tại Studio Hi Nhà văn San Francisco.

  • Naguib Mahfouz (1911 - 2006) sinh ra trong một gia đình nghèo tại Cairo. Ông học triết học tại Đại học Cairo và làm công chức cho tới khi về hưu năm 1971. Mahfouz là nhà văn lớn của Arab và của thế giới. Ông có 35 tiểu thuyết, 14 tập truyện ngắn và nhiều tác phẩm kịch. Tác phẩm của ông rất phổ biến ở phương Tây. Mahfouz được trao giải Nobel văn chương năm 1988.
    Truyện ngắn dưới đây diễn tả bi kịch của cá nhân khi bị phụ thuộc vào kẻ khác. Tuy nhiên, như rất nhiều tác phẩm khác của văn học Arab, nó còn mang tính ẩn dụ và nghĩa hàm ẩn.

  • ALBERT LAMORISSE (Pháp)

    Albert Lamorisse là một nghệ sĩ đa tài của nước Pháp. Ông vừa viết văn, làm thơ, vừa biên kịch và đạo diễn điện ảnh. Truyện "Quả bóng đỏ" (Le Ballon Rouge) này đã được chính Albert Lamorisse dựng thành phim, rất nhiều người hâm mộ.