Những kẻ ăn cỏ

15:30 07/04/2009
KRISHNAN VARMAKrishnan Varma sinh ở Kerala, Ấn Độ. Ông viết bằng hai thứ tiếng Anh và Malayalam. Trong nhiều tác phẩm của mình, ông chia sẻ sự quan sát đối với cuộc sống của lớp người cùng khổ trên đất nước ông.

Nhiều năm trước đây, có thời tôi làm gia sư cho một cậu bé có hình dạng như một quả cầu (giờ là một anh chàng có hình dạng như một quả cầu). Ngày kia, ông Ramaniklal Misrila, ông bố có hình dạng như một quả trứng của cậu ta hỏi tôi sống ở đâu. Tôi trả lời.
Ông Misrila nhìn vẻ hết sức đau đớn “Cái ống sao Ajit Babu? Anh nói là cái ống sao Ajit Babu?”
Bà vợ có dáng hình lập phương của ông gần như khóc: “Cái ống sao Ajit Babu? Làm sao anh sống được trong một cái ống?”

Đúng vậy thời kỳ ấy tôi sống trong một cái ống cùng với Swapna, vợ tôi. Đó là một cái ống dài và từ bên này qua bên kia độ ba bốn feet. Với hai miếng bao tải treo ở hai đầu, chúng tôi cảm thấy nó tiện lợi hơn bất cứ chỗ nào trước đó.

Chỗ ở đầu tiên là một con hẻm trên đại lộ Chiharanjan Avennue. Chúng tôi chân ướt chân ráo đến Calcutta từ đông Bengal1, nơi người theo đạo Hinđu và người theo đạo Hồi Giáo đang sát hại nhau. Con hẻm, gồm dân địa phương và những kẻ tị nạn như chúng tôi, chật chội đến mức nếu khuya bạn dậy đi vệ sinh không chắc bạn có thể tìm lại chỗ của mình. Một sáng trời lạnh nọ, tôi trở giấc thì thấy người phụ nữ bên cạnh tôi chẳng phải là Swapna ma thay vào đó là một nhúm xương chừng 5,60 hoặc 70 tuổi. Một chân tôi còn gác lên người bà ta. Tôi cay đắng xin lỗi. Suýt nữa bà ta đã móc mắt tôi. Rồi Swapna tới, phùng mang trợn mắt... Tôi sống sót nhưng mất một cái tai. Rồi một người đàn ông gồ ghề, chồng của người phụ nữ tới, tay quay tít một khúc cây trên đầu, miệng gầm gừ... Đó dù sao cũng làm tôi kinh động. Tôi chạy thoát.

Ngày hôm sau Swapna và tôi chuyển vào một toa hàng bỏ hoang tại một ga xép. Với chúng tôi, nguyên cả toa, một chỗ ở có các cửa có thể đóng, mở được, là nơi chúng tôi chẳng cần phải treo triết gì cả, ngoại trừ việc mất suốt cả giờ để đóng mở các cửa, nơi mọi sinh hoạt riêng tư của một người đàn ông và vợ có thể cần đến, nơi không phải sợ hãi bởi mỗi khi thức giấc thì trong cánh tay có một người hoàn toàn xa lạ. Đó là thiên đường. Tôi cảm thấy mình là Chúa.

Thế rồi một tối nọ chúng tôi tỉnh giấc thì thấy trời đất đang trốn chạy: chúng tôi bị móc vào một tàu chở hàng. Chẳng biết làm gì hơn ngoài việc chờ tàu dừng lại. Khi tàu dừng thì đã cách Calcutta nhiều dặm. Chúng tôi xuống và lên một chiếc tàu chở khách để quay trở lại và chiếm một toa hàng bỏ hoang khác. Đó không phải là lần duy nhất chúng tôi lên giường ngủ ở Calcutta và thức giấc ở một nơi khác. Tôi cảm thấy điều đó thật nhức nhối, gây cảm xúc thương tâm nhưng Swapna không cảm thấy như vậy.

Cô ấy muốn có một chỗ ở cố định, cô ấy khăng khăng đòi có dù không nói tại sao. Nếu tôi cứ một hai chất vấn thì cô ta khóc. Nếu tôi cố thuyết phục cô ấy thay đổi ý muốn và chỉ ra tất cả những tiện lợi khi sống trong một toa hàng - có 4 bức tường, có mái che và cửa, tuyệt nhiên không phải trả tiền và hoàn toàn tự do ái ân ban ngày hoặc ban đêm - cô ta vẫn sụt sùi. Nếu tôi làm lơ sự càu nhàu của cô ấy thì bữa ăn trễ nãi, cơm sống, món cari mặn chát, tôi cuối cùng chịu thua. Chúng ta sẽ chuyển đi, tôi nói, cho dù phải chiếm cái nhà nào đó bằng vũ lực, nhưng cô ấy không thể nói được với tôi lý do, dù vô lý là tại sao cô ấy không thích cái toa hàng?

Lần đầu tiên trong nhiều tuần lễ, Swapna cười, một nụ cười rất mơ hồ. Rồi chầm chậm, cô kéo vạt áo sari phủ lên đầu, mắt cụp xuống, quay mặt tránh tôi và run run thì thào, chỉ vừa đủ nghe rằng (ngừng một lát) không (ngừng lâu) muốn (ngừng rất lâu) đứa bé (nói bằng tốc độ phản lực) sẽ được sinh ra trên một con tàu đang chạy. Nói rồi cô lấy tay bụm mặt... Đó là đứa bé thứ tư. Một đứa chết vì bệnh bạch hầu trên đường trở về nhà (giờ đã không còn là nhà của chúng tôi nữa) ở Dacca; đứa thứ hai chết bởi kiệt sức trong chuyến đi bộ khó nhọc tới Calcutta. Đứa bé sắp ra đời sẽ là một bé trai? Tôi thấy không có chút nghi ngờ gì về điều đó. Nó sẽ là một bé trai: sẽ có ai đó chăm sóc chúng tôi lúc tuổi già, sẽ làm lễ tang khi chúng tôi mất, đột nhiên tôi hôn lên khuỷu tay Swapna bởi khuôn mặt đã bị hai tay cô ấy che bụm lại và thẳng thắn quở trách. Hôn, theo cô ấy, là cái kiểu cách của Tây phương, lại cũng chẳng lành mạnh, bởi chung qui nó là liếm và tất cả người Hinđu ngoan đạo nên kiêng cử.

Tôi không mất chút thời gian nào trong việc tìm kiếm một nơi thích hợp để cô ấy sinh nở. Cô ta cương quyết bác bỏ mọi đề xướng của tôi: ga xe lửa (có quá nhiều cư dân); một cái cầu ít người qua lại (cô ấy không phải là một cái diều để sống ở một chỗ quá cao so với mặt đất); một cái bồn nước bị rớt xuống đất và được bỏ trống (phải chăng tôi nghĩ cô ấy là một con ếch). Tôi nghĩ đến đề nghị vào sống trong trường tiểu học của thành phố nơi lúc ấy tôi đang dạy nhưng cảm thấy rất ngượng ngập. Không phải ông hiệu trưởng sẽ phản đối nếu chúng tôi chiếm một cái góc cuối ở hiên sau vì ông là người tốt bụng, là cha của bảy đứa con tất cả là gái; ông sẽ chẳng bao giờ gây lo lắng có những người đàn bà hoang toành đều đặn đến đẻ trong trường của mình. Nỗi lo sợ của tôi là: biết đâu Swapna chạy vào lớp nói, “Giữ đứa bé một chút, được không anh? Em đi vào nhà... xí”. Dù thế, tôi cũng rời bỏ trường học. trên đường đi đến gần ga Seakhah, chúng tôi tình cờ thấy một cái ống làm bằng bê tông bị bỏ lại trong lần sửa chữa cống ngầm trước đây. Thật khó tin là nó chưa bị chiếm dụng và chẳng cần tôi gợi ý cô ấy đã bò vào, đó là chuyện như thế nào mà chúng tôi đến sống trong cái ống.

“Không hợp lẽ”, ông Misrilal nói, “không hợp lẽ, bởi thầy giáo mà sống trong một cái ống” ông thở dài ngao ngán. “Sao không chuyển tới một trong các toà nhà của tôi Ajit Babu?”. Nhà mà tôi sắp đến ở, nếu tôi quan tâm đến, ông ta giải thích, là ở Entally, không xa chỗ cái ống; tôi sẽ không gặp khó khăn khi sống ở đó; đó là một cái toà nhà cũ và có một số thùng cũ đựng than làm nhựa đường bỏ không trên mái; tôi có thể ở trên mái nếu tôi xếp chồng các thùng lên nhau làm thành hai hàng và phủ một tấm vải dầu lên.

Chúng tôi sống trên mái nhà ấy từ đó. Nó không tồi như khi nghe nói về nó. Mái nhà bằng phẳng, không có đầu hồi và được xây bằng bê tông chứ không phải bằng tôn múi. Tiền thuê nhà thấp hơn nhiều so với những người thuê nhà khác ở phía dưới là Bijoy Babu, Akhanda Chatterjee và Sayar Sen. Chúng tôi có ánh sáng nhiều hơn, thoáng gió hơn họ. Lũ chuột và bọn gặm nhắm không gặm chúng tôi như chúng vẫn thường. Và con trai chúng tôi Prodeep, có phòng rộng hơn để chơi so với bọn trẻ ở dưới.

Prodeep giờ đây không ở cùng với chúng tôi, nó tham gia phong trào bí mật Naxalite2. chúng tôi nhớ nó khủng khiếp. Tuy vậy, cũng có cái bù lại, dù nhỏ thôi. Nếu có nó, chúng tôi phải mặc quần áo. Giờ thì không phải, đúng ra là không nhiều. Tôi chỉ mặc một cái khố và Swapna thì chỉ quấn một mảnh vải nhẹ rộng hơn để giữ cho số quần áo ít ỏi đã sờn rách của chúng tôi không bị sờn rách thêm. Tôi có thể tiết kiệm một ít từ tiền trợ cấp của mình để mua áo quần mới. Swapna thấy cái bộ dạng ăn mặc quá phong phanh và quá tính toán của tôi giữa thanh thiên bạch nhật như thế nên bối rối và cứ quay cái lưng về phía tôi. Như một con tinh tinh đang hờn dỗi, tôi bất bình nhìn cái mông của cô ấy và nói chẳng có cái gì của cô ấy là không bị tôi thấy. Nhưng cô ta cứng rắn, không chịu quay lưng lại. Tuy vậy, khi đêm xuống, cô ấy bớt cứng hơn vì cả hai chúng tôi đều bị quáng gà.

Khi chúng tôi đi ra ngoài - đi đến nhà xí công cộng, đi nhặt than vụn trên đường rầy xe lửa, đi hái rau - chúng tôi mặc quần áo. Rau cỏ bây giờ là thức ăn chính của chúng tôi: một mớ rau xanh nấu với ớt sống và muối, vài thìa cháo trắng lễnh loãng. Chúng tôi bắt đầu ăn rau khi giá gạo vọt tăng. Tôi rất muốn làm như anh Bijoy Babu ở phía dưới cái điều mà người ta tin là anh ấy đang thực hiện. Thuyết của anh ấy là nếu bạn giảm lượng gạo tiêu thụ đi 5 gram mỗi người, bạn sẽ không chỉ không nhận thấy rằng bạn đang ăn ít hơn mà sau một thời gian, bạn có thể sẽ chẳng cần ăn gì cả. Ngày nọ, tôi tình cờ nhận thấy rằng anh ấy đứng chẳng còn vững nữa. Thấy thế tôi dừng lai. Anh ấy còn có thể đi lại được dù là nghiêng nghiêng ngã ngã vì còn có hai chân nhưng tôi thì chỉ có một chân. Tôi mất một chân từ sau vụ té ngã từ mui xe điện. Ở Calcutta, xe điện luôn đông đúc và nếu bạn không thể vào được trong toa, bạn có thể leo lên mui. Người soát vé sẽ không cản bạn. Nếu anh ta cố cản, hành khách sẽ đánh anh ta, đốt xe điện và bất cứ xe cộ nào khác đậu ở xung quanh, cướp phá các cửa hàng gần đó, đập vỡ điện đường, cản trở lưu thông, tổ chức meeting kiến nghị, lên án chủ nghĩa đế quốc Anh, chủ nghĩa thực dân mới Mỹ, chính quyền trung ương, chủ nghĩa tư bản và cho nổ pháo ống. Tôi chẳng thấy làm tiếc chút nào về cái sự tật nguyền của mình bởi tôi chỉ cần mang một chiếc sandal và nhờ đó tiết kiệm được trong chuyện giày dép.

Như vậy nói tóm lại, cuộc đời chúng tôi đã trải qua nhiều bất trắc. Tất nhiên những biến thiên ấy không phải lúc nào cũng dễ chịu. Nhưng có hề chi? Chúng tôi thọ hơn những biến thiên. Và giờ đây, chúng tôi chẳng thấy sợ hãi hay lo âu. Chúng tôi có một cái nhà làm bằng những thùng nhựa đường. Chúng tôi mỗi ngày ăn hai bữa rau thịnh soạn. Chúng tôi chẳng cần mặc quần áo. Chúng tôi có một đứa con để làm cho cái lễ tang. Chúng tôi sống rất lặng lẽ bằng lòng nhìn cảnh đời đang trôi qua: xe điện đang bốc cháy, một gã đàn ông đang đấm một gã khác, một người phụ nữ đang vứt đứa bé con cô vào sọt rác.

TRẦN NGỌC BIAN dịch

(Dịch từ The International story” NXB Saint Martin′s press,
New york, 1994, t.167-170)

(199/09-05)

-------------------
1. Đông Bengal: chủ yếu theo Hồi Giáo, Đông Bengal trở thành Đông Pakistan năm 1947, rồi dành độc lập trở thành Bangladesh vào năm 1971.
2. Naxalite: Phong trào đặt mục tiêu thay đổi cấu trúc xã hội Ấn Độ bằng cách thay đổi đẳng cấp và tái phân phối đất đai trong tầng lớp nghèo nông thôn.

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • SORBON (Tajikistan)Sorbon sinh năm 1940 tại làng Amondar  trong một gia đình nông dân  thuộc  tập đoàn sản  xuất nông nghiệp. Năm 1963 ông tốt nghiệp Đại học Lenin của Tajikistan với bằng tiến sĩ ngôn ngữ học. Các tác phẩm của Sorbon xuất hiện lần đầu vào năm 1965. Tuyển tập truyện ngắn đầu tiên của ông “Không phải tất cả đã được nói ra” xuất bản năm 1969. Nhiều truyện ngắn của ông mau chóng được thu thập lại, trong đó có truyện “Ngày đầu tiên đến trường” nói về một phụ nữ Tajikistan  trong Thế chiến thứ Hai, “Sự phòng thủ của đá” và “Người du mục” nói về sự thiết lập chính quyền Xô Viết tại ngôi làng ven sông Zeravshan, và “Áo khoác đồ sộ” nói về một cậu bé bị mất cha trong chiến tranh. Sorbon là nhà văn có tiếng tăm lớn của nền văn xuôi Tajikistan ở thập niên bảy mươi. Truyện ngắn “Người đánh bẫy chim” được viết năm 1974.

  • MISHIMA YUKIO (Nhật Bản)Nhà văn Nhật Bản Mishima Yukio (1925 - 1970) bắt đầu in các tác phẩm của mình từ những năm 20 tuổi. Ông được tặng nhiều giải thưởng văn học và ba lần được đề cử vào giải Nobel văn chương.

  • PAUXTÔPXKIChúng ta yêu mến thứ ánh sáng bảo hiểm của những ngọn hải đăng nhưng ít khi nhìn thẳng vào nó. Thường chỉ có những người bảo vệ và các tay lái tàu dán mắt vào hải đăng để kiểm tra bí mật độ loé sáng của nó. Bởi vì tất cả hải đăng trên biển đều nháy và nhấp nhánh khác nhau, theo những tín hiệu đó, người ta có thể biết được hải đăng nào và con tàu đang ở đâu.

  • SLAWOMIR MROZEK (Ba Lan)(Lê Bá Thự dịch từ nguyên bản tiếng Ba Lan)

  • ALPHONSE DAUDETSự kiện phản ánh trong truyện xảy ra năm 1871, thời kỳ chiến tranh Pháp - Phổ, khi quân đội Phổ (Đức) đã chiếm đóng và sáp nhập hai tỉnh Alsace và Lorraine của Pháp vào lãnh thổ Đức.

  • DOMINIQUE DE VILLEPINTác giả Dominique de Villepin, sinh năm 1953, đương kim Bộ trưởng Ngoại giao Pháp, là người phát ngôn cho chính sách hòa bình đối lập với đường lối chiến tranh Bush-Blair trong vụ tập kích Irak đầu năm 2003. Nơi đầu sóng ngọn gió của bang giao quốc tế, ông đã đồng thời cho xuất bản một khảo luận về Thơ, Ngợi ca những Người Cướp Lửa, tượng trưng cho Người Làm Thơ, qua hình ảnh mượn của Arthur Rimbaud, lấy từ huyền thoại Prométhée.

  • MARK TWAINTwain, Mark, (Samuel Langhorne Clemens), nhà văn Mỹ, (1835-1910). Sinh tại Florida, bang Missouri. Là con thứ tư trong một gia đình thương nhân nghèo. Chưa đầy 12 tuổi, Clemens đã phải thôi học để học nghề sắp chữ in, rồi làm đủ nghề. Năm 1853, bị thôi thúc bởi ý muốn tìm hiểu thế giới, lên đường đi nhiều nơi, làm thợ in công nhật ở St. Louis, New York và Philadelphia. Đến sông Mississipi, hành trình dự kiến đi Brazil bị đình lại vì Clemens lại mơ ước trở thành hoa tiêu trên sông.

  • HARUKI MURAKAMI (Nhật Bản)Chàng và nàng đang đi trên một con đường. Dọc bãi tha ma. Lúc nửa đêm. Sương mờ vây phủ. Họ tuyệt nhiên không định đi ở nơi chốn này vào lúc này. Nhưng vì các nguyên do khác nhau họ đã buộc phải đi. Họ bước vội vàng, nắm chặt tay nhau.

  • GRAHAM GREENE (Anh)Có tám người đàn ông Nhật đang ăn bữa tối ở nhà hàng cá nổi tiếng Bentley's. Họ chỉ trao đổi với nhau dăm ba câu bằng thứ tiếng mẹ đẻ khó hiểu của họ, nhưng luôn có nụ cười nhã nhặn và thường mỗi câu lại kèm một cử chỉ cúi đầu lịch thiệp. Tất cả tám người, trừ có một, đều đeo kính. Thỉnh thoảng cô gái xinh đẹp ngồi phía cửa sổ lại đưa một cái nhìn lướt qua họ, nhưng xem ra chuyện của cô ta quá quan trọng, khiến cô ta không thể thực sự chú ý tới bất kỳ ai trên đời ngoài chính mình và người ngồi cùng bàn.

  • VICTORIA CHIE (ÚC)Cảm giác xấu hổ như kẻ đang làm điều mờ ám, Anne Peterson đặt bút run run ghi tên mình vào phần trống trong bản tự giới thiệu của văn phòng môi giới hôn nhân. Chẳng lẽ lại đến nông nổi này sao? 49 tuổi, trông còn rất trẻ, duyên dáng, đầy sức sống, thành đạt, vật chất đầy đủ, đã ly dị, thế mà phải nhờ môi giới kiếm cho một tấm chồng. Mà anh ta là ai, cũng là một kẻ nào đấy tìm đến đây với những dòng tự giới thiệu cứng nhắc. Thôi, đành vậy chứ biết sao, chỉ vì quá yêu con gái Cindy mà Anne đã phải chịu đựng nỗi trống trải cô đơn ròng rã suốt bao năm trời.

  • NGÔ KIM LƯƠNG (Trung Quốc)"Nếu còn gặp người, nhất định phải nói", Trần Tĩnh đang nghĩ, ngước mắt lên nhìn ánh đèn vàng vọt trong ngõ nhỏ. Đêm khuya rồi, khắp nơi là hình ảnh kỳ quái của một màn đêm đen kịt. "Ai cha! Chiếc xe đạp xui xẻo này!" - Cô đẩy chiếc xe, không biết phải nói thế nào.Sau lưng vang lên một hồi chuông xe đạp, Trần Tĩnh "ai cha" một tiếng, chàng trai cưỡi xe đạp đã lướt vèo qua rồi.

  • S.MROZEKCó một lần tôi đi du lịch.Vì không có tàu trực tiếp đến nơi tôi cần tới nên tôi phải xuống một ga dọc đường để chuyển sang tàu khác.Hôm đó là một buổi tối. Mãi sáng hôm sau con tàu tiếp theo tôi sẽ phải đi mới đến.Tôi rời nhà ga, vào thị trấn để kiếm nơi ở trọ.

  • JOYCE BEGG (Úc)Bà Firbank trở thành hàng xóm của chúng tôi đã lâu, dễ đến sáu bảy năm nay, nhưng thật sự trong chúng tôi chẳng ai dám khẳng định mình biết rõ về người đàn bà này. Xung quanh bà ta lúc nào cũng bao phủ một bầu không khí bí hiểm, ma quái, ngay cả toà dinh thự cổ của bà ta cũng gợi cho người ta cái vẻ rờn rợn, lạnh lẽo giống như nơi trú ẩn của những linh hồn cõi âm.

  • ARTURO VIVANTELời giới thiệu: Nhà văn Arturo Vivante sinh năm 1923 ở Rome, tốt nghiệp cử nhân đại học McGill, Canada, 1945, tốt nghiệp y khoa đại học Rome, 1949. Ông hành nghề bác sĩ toàn khoa, đồng thời sinh hoạt và nghiên cứu về văn chương ở một số trường đại học Mỹ. Vivante là nhà văn rất nổi tiếng với các truyện cực ngắn và các giai thoại.

  • KÔNXTANTIN PAUXTÔPXKI Mùa Thu. Những hạt sương mai tháng Chín lạnh giá, mọng nước rơi tung tóe từ những tán lá trên cao xuống và bắn cả vào người tôi. Sương từ các nhành cây nhỏ giọt xuống mặt nước sông đen thẫm, tạo thành những vòng tròn và chậm rãi lan ra xung quanh.

  • LTS: Mario Bendetti sinh tại Paso de los Toros (Tacuarembó ) ngày 14 tháng 9 năm 1920. Ông theo học tại trường tiểu học tiếng Đức ở Montevideo và trường trung học Miranda, đã từng làm nhiều nghề như nhân viên bán hàng, tốc kí, kế toán, viên chức nhà nước và phóng viên. Từ năm 1938 đến 1941 ông sống chủ yếu ở Buenos Aires . Năm 1945, khi trở về Montevideo, ông viết bài cho tuần báo nổi tiếng Marcha, qua đó trở thành phóng viên bên cạnh Carlos Quijano và rồi trở thành một thành viên trong ê-kíp của ông này cho tới tận năm 1974 khi tuần báo ngừng xuất bản.Năm 1973, vì lí do chính trị, ông phải rời bỏ tổ quốc,bắt đầu cuộc sống lưu vong kéo dài mười hai năm ở những quốc gia: Ác-hen-ti- na và Tây Ban Nha. Quãng thời gian này đã để lại những dấu ấn vô cùng sâu sắc trong cuộc đời ông cũng như trong văn nghiệp.

  • YUKIO MISHIMA (Nhật Bản)YUKIO MISHIMA tên thật là HIRAOKA KIMITAKE (1925-1970). Sinh tại Tokyo.Tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Tokyo . Nhà văn, kịch tác gia, đạo diễn sân khấu và điện ảnh, diễn viên.Năm 16 tuổi đã xuất bản truyện vừa lãng mạn Khu rừng nở hoa. Tiểu thuyết Lời thú tội của chiếc mặt nạ ra năm 1949 đã khẳng định tên tuổi của nhà văn trẻ tài năng và trở thành tác phẩm được đánh giá là kinh điển của nền văn học Nhật Bản.

  • KOMASHU SAKIO (Nhật Bản)Sinh 28/1/1931 tại Osaka (Nhật Bản). Nhà văn chuyên viết truyện khoa học giả tưởng nổi tiếng của Nhật Bản.Tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Kyoto , chuyên ngành Văn học Italia.Từ năm 1957 là phóng viên Đài Phát thanh Osaka và viết cho một số các báo. Năm 1961 chiến thắng trong cuộc thi truyện ngắn giả tưởng xuất sắc do tạp chí "SF Magasines" tổ chức.Tác phẩm của Komatsu đã được dịch ra rất nhiều thứ tiếng trên thế giới.

  • S. MROZEK (Ba Lan)Có lần tôi bắt gặp một con chó ác bụng đang rượt đuổi một con mèo. Bởi tôi là người yêu động vật nên tôi bèn vớ ngay một cục đá to sụ quẳng vào con chó khiến nó ngã lăn quay, nằm đứ đừ một hồi lâu. Chú mèo nhỏ không nhà, con vật bé xíu nom mệt phờ râu. Không chút do dự - tôi cho nó nương nhờ. Đây quả là một con mèo đẹp mã, lông mịn màng, mắt long lanh. Tôi đem nhốt nó vào trong nhà, đoạn bỏ đi chơi bời trác táng.

  • KITA MORIO (Nhật Bản)Kita Morio (sinh năm 1927) là nhà văn thuộc thế hệ hậu chiến của Nhật Bản. Tốt nghiệp Đại học Y. Năm 1960 được trao giải thưởng mang tên Akutagawa với truyện ngắn Trong bóng tối đêm, cốt truyện xảy ra trong một bệnh viện tâm thần ở Đức thời kì Chiến Tranh Thế Giới thứ II. Nổi tiếng với các tác phẩm giả tưởng khoa học và chống chiến tranh.