Nhà văn Nenden Lilis A. sinh tại Malangbong-Garut (Tây Java) năm 1971, là giảng viên khoa Giáo dục và Văn chương tại Indonesian Education University ở Bandung.
Truyện ngắn và thơ của bà đã in trên nhiều ấn phẩm trong nước. Bà cũng thường được mời nói chuyện tại các hội nghị văn học cả ở trong nước và nước ngoài (như Malaysia, Hà Lan và Pháp). Thơ của bà đã được dịch sang tiếng Anh, Hà Lan và Đức.
Truyện ngắn dưới đây được John H. McGlynn dịch từ tiếng Indonesia sang tiếng Anh.
Ảnh: internet
NENDEN LILIS A
Chồng tôi và tôi luôn luôn thức dậy lúc 7 giờ 30 khi con mèo đi qua mái ngói nhà hàng xóm tạo thành một cái bóng in trên màn phòng ngủ của chúng tôi. Ai mà biết được tại sao con mèo không được huấn luyện đó lại có được thói quen in bóng lên bức màn của chúng tôi mỗi buổi sáng, để bóng của nó trở thành tín hiệu báo thức cho vợ chồng tôi.
Nói rằng chúng tôi thức dậy lúc 7 giờ 30, nhưng thực ra chúng tôi đã thức từ lúc 4 giờ 30 - trước khi con tôi khóc tiếng đầu ngày và trước hồi chuông cầu nguyện buổi sáng. Sau khi thay tã cho con, cầu nguyện, bơm nước vào thùng chứa ở phòng tắm, chúng tôi thường cố ngủ lại vì chúng tôi thường rất mệt. Cả tôi và chồng đều đi ngủ rất trễ. Đang giữa thời gian phải viết luận án, tôi thường kết thúc việc đọc hay gõ máy khi đêm đã hết ba phần tư. Chồng tôi cũng thế, ngoài việc giúp tôi sưu tầm dữ liệu, còn thường phải viết một bài báo hay một bài chuyên mục để sáng sớm kịp gửi cho tờ báo hàng tuần đã nhận anh làm cộng tác viên.
Thực tế là trong khoảng từ 4 giờ 30 đến 7 giờ 30 chúng tôi thường không ngủ được gì nhiều. Khoảng gần sáng, những người hàng xóm thuê các phòng giáp nhau ở phía sau phòng chúng tôi tranh nhau xách nước ở giếng nước công cộng. Tiếng xô nước thả xuống giếng và giọng nói lanh lảnh của họ làm cho khó ngủ lại được. Đối với họ, nói tức là la. Còn khi họ gây gỗ thì khỏi nói.
Sáng sớm mà đã thấy bà Umi - đó là tên mọi người gọi người hàng xóm trung niên có chồng ngoại tình cãi nhau với con trai, là một học sinh trung học đệ nhất cấp học hành có phần chểnh mảng, khó kiểm soát, và hình như chẳng bao giờ nghe lời bà mẹ.
Đồng thời, hai người hàng xóm khác là một đôi vợ chồng trẻ có đứa con gái mới vào học sơ cấp, đang mở máy cát xét rất lớn - rõ là để che lấp tiếng cãi nhau của họ, dù vậy vẫn nghe được qua tiếng nhạc thình thình. Teh Nining đang càu nhàu vì chồng chị ngáy như trâu. Con họ thì hét rằng nó không muốn tắm.
Thỉnh thoảng, Teh Nining cũng hét to vì cãi nhau với Umi hay vì bị chồng đánh bằng dây nịt.
Chồng của Teh Nining thường đánh chị, thậm chí vì những lý do nhỏ nhặt nhất, đó là một thói quen càng ngày càng tệ sau khi anh ta bị khách sạn nơi anh làm việc sa thải. Tôi không biết lý do anh bị sa thải ngay sau khi chúng tôi thuê chỗ ở này ba tháng trước. Các việc chúng tôi biết về các nhà hàng xóm là gom góp được từ bà chủ khu phòng trọ này và từ Umi, người thích buôn chuyện có những thông tin được thêm mắm thêm muối.
Chúng tôi đã chuyển tới khu này vì nơi đây tiền thuê tương đối rẻ. Phòng của chúng tôi nguyên thủy là một gian phòng chính khá lớn nên chúng tôi dùng một giá sách ngăn thành hai phòng nhỏ. Một làm phòng ngủ, một làm phòng khách. Ở phía sau còn một phòng nhỏ hơn dùng làm nhà bếp và phòng tắm cũng được bố trí ở đó. Với diện tích đó, chúng tôi đã biến nơi này thành một chỗ ở thuận tiện.
Cuối nhà bếp là cửa dẫn ra phía sau. Ngoài cửa là một hành lang cao có bốn bậc tam cấp xuống đất, đối diện với hai phòng tôi nói trên. Có thời, chúng có thể là một khu nhà kho. Cả hai phòng đều có nền đất cứng, bên trong tối tăm và tù túng, không một tia nắng rọi vào. Chỗ của chúng tôi, ở phía trước hai phòng đó và trên nền cao nên hấp thụ hầu hết ánh nắng.
Bởi vì không có nhà bếp riêng, Umi và Teh Nining để bếp lò và dụng cụ nấu ăn của họ trên hành lang phía sau phòng chúng tôi. Vì thế khi họ nấu ăn, tiếng trò chuyện của họ, hay đôi khi, những cuộc tranh cãi của họ là không thể không nghe thấy.
Ở phía sau đó luôn luôn ồn ào. May là con chúng tôi quen với tiếng ồn và hầu như bình thường. Sự ồn ào không dứt cho tới khoảng mười giờ, sau khi bọn trẻ đã đến trường. Lúc đó Umi cũng đi dạo qua các đường trong xóm, hỏi nhận việc giặt giũ và mát xa đồng thời bán các thứ dược thảo đã gói sẵn, cây nhựa thơm, dụng cụ làm đẹp, và các thứ khác mà bà cất trong cái gùi đeo sau lưng. Teh Nining thì đi chợ để mua các thứ làm bánh chiên mà chị bán vào buổi chiều tối, từ năm giờ đến chín giờ, trên chiếc xe đẩy chị đậu ở giao lộ gần bên. Chồng chị thường thì vẫn ngủ từ lúc về nhà vừa khuya vừa say từ đêm trước. Nếu như anh ta dậy sớm và thấy vợ đã đi mà không chuẩn bị sẵn cà phê, anh ta sẽ nổi giận và chửi, rồi bực tức bỏ đi sau khi gửi chìa khóa nhà họ cho tôi.
Hình ảnh chồng của Teh Nining thường làm tôi vừa sợ vừa gớm. Anh ta không có vẻ khỏe mạnh và dơ như một con chuột cống. Mặt anh ta làm tôi hình dung đến một gian phòng đầy mạng nhện. Mắt anh ta có ánh nhìn bệnh hoạn và khi anh ta nói tôi nghĩ đến dạ dày anh ta đầy những con gián gớm ghiếc đang bò lên miệng để tỏa ra mùi hôi của chúng khi anh ta mở miệng. Anh ta sống qua ngày một cách vô tích sự, hoặc là chơi đá gà hoặc chơi đô mi nô với một nhóm thanh niên vô tích sự khác. Anh ta chỉ về nhà để ăn và nếu không có sẵn bữa ăn khi về, thì Teh Nining cứ mà chờ bị anh ta chửi hay đánh.
Vậy thì không có gì lạ khi Teh Nining cứ khen ngợi chồng tôi - rằng anh thì đẹp trai, thông minh và nhân hậu. Chị thường pha trò với chồng tôi khi hai người ngẫu nhiên gặp nhau khi phơi quần áo trước nhà tôi. (Trước khi đi làm buổi sáng, chồng tôi luôn giặt giũ quần áo và tắm cho em bé mới bốn tháng tuổi của chúng tôi). Thỉnh thoảng, cách Teh Nining nói chuyện với chồng tôi có vẻ hơi quá đáng - đó là sự kết hợp lạ lùng của sự trơ tráo và đỏm dáng. Tôi không thích chứng kiến những cảnh tượng đó. Chắc là vì tôi nghĩ chị có vẻ hấp dẫn. Chị có khuôn mặt dễ nhìn, cơ thể gọn gàng, đầy đặn, và có dáng đi đầy sức sống. Không may là cách chị ăn mặc, và hơn thế, cách chị trang điểm, thường là không phù hợp với chị. Chị đẹp hơn nhiều nếu không trang điểm, tôi nghĩ. Nhưng dường như chị bị Umi tác động với những thứ mỹ phẩm chị mua của bà.
![]() |
Minh họa: Nhím |
Khi chúng tôi mới dọn về chỗ ở này, Umi cũng thường mời tôi mua các món hàng của bà. Bà mời tôi những thuốc thảo dược đóng gói sẵn có những nhãn hiệu tôi chẳng hề biết, đồng thời ca ngợi hiệu quả của từng món thuốc.
“Cô phải thử món này! Món này đặc biệt dành cho phụ nữ…”, bà nói như bắt chước một mẩu quảng cáo trên truyền hình, “…để làm cho chồng cô mê mẩn cô! Cô mới có một cháu bé đúng không? Món này có nhiều điểm độc đáo: nó giữ cho cô nguyên si như con gái. Cô biết cô thợ may Enok phải không? Chồng cô ấy định li dị cô ấy - cho tới khi tôi bán cho cô ấy món này! Bây giờ thì anh ta không đi đâu cả. Cô ấy khen, êm và hoàn hảo”.
Tôi cười nhưng không quan tâm gì đến các món của Umi. Theo tôi, con tim đóng vai trò quan trọng trong hôn nhân hơn bất kỳ bộ phận nào khác. Nhưng để không làm Umi thất vọng và hy vọng bà sẽ đi trước khi con tôi thức dậy sau giấc ngủ trưa của nó và tôi có thể làm xong phần nào công việc của mình, tôi đã mua một ít cây nhựa thơm của bà. Nhưng Umi, có vẻ chưa muốn đi. Bà đứng ở cửa nhà bếp, dựa lưng vào đó. Trong khi vừa hút thuốc lá vừa gãi đầu, bà nói về hoàn cảnh của bà từ khi chồng bỏ đi.
“Hiện giờ thì khó khăn. Cha của Iwang thường lo cho tôi đến nỗi tôi sinh hư. Ông ấy chỉ là một nhân viên bảo vệ nhưng tôi thật sự thương ổng. Nếu như ông ấy còn ở đây, tôi sẽ không phải làm việc như bây giờ. Thậm chí ông ấy còn không cho tôi rửa chén. Tự ông ấy làm hết mọi việc - ngoại trừ việc nấu ăn. Ông ấy bảo tôi nấu ăn ngon nhất… Và cô phải luôn nhớ rằng nếu thức ăn một người đàn bà nấu mà ngon, thì cái chuyện đó cũng ngon…!”. Umi gần như hụt hơi sau khi cười giòn.
“Vậy sao bà còn bị ổng bỏ đi?”, tôi tò mò.
Umi lấy cái chày mà tôi đang cầm và bắt đầu giã gia vị mà tôi đã để trong cối. Tôi đẩy cái gạt tàn thuốc về phía bà và bà để điếu thuốc xuống.
“Cô biết đấy… Đàn ông ở đâu cũng như nhau!” Bà ngừng giã cối để hút một hơi thuốc.
“Tôi rất ngạc nhiên! Những thần chú bí mật mà thầy dạy tôi trước đây luôn luôn tỏ ra hiệu quả. Chồng tôi luôn luôn sợ mất tôi - nên ông ấy chăm sóc tôi tốt như thế. Nhưng Maemunah, tôi cho là cô ta có những câu thần chú mạnh hơn của tôi. Với chúng, con quỷ đó lấy mất chồng của tôi. Chính mắt tôi thấy họ hôn nhau trong phòng tôi. Ở đây! Ngay đây! Cô tưởng tượng đi!”
Tôi không hoàn toàn tin câu chuyện của Umi vì tôi đã nghe khác. Tôi cũng có những lý do khác để không hoàn toàn tin bà. Bà thường xin giặt thuê đồ cho nhà tôi nhưng một lần tôi đưa đồ cho bà giặt, thì một số món đã bị mất. Khi tôi hỏi bà về chúng, bà thề - thậm chí bà đã nhân danh Thượng đế - rằng mọi thứ bà được tôi giao đã được bà giặt, phơi, gấp và trả lại cho tôi, không có món nào bị mất. Về sau tôi biết Umi đã đi bán những món đồ y hệt như các món tôi mất cho những nhà hàng xóm trong khu dân cư đằng sau nhà tôi.
Một lần khác, tôi cho Umi mát xa tôi, không phải vì tôi thực sự cần mát xa - bởi vì, chồng tôi thường mát xa cho tôi và ngược lại - mà vì bà mời mọc nhiều lần đến nỗi cuối cùng tôi mệt mỏi vì từ chối. Kỹ thuật mát xa của bà thì được nhưng suốt buổi mát xa bà không ngừng nói. Bà kể về những người hàng xóm khác, luôn luôn thêm mắm thêm muối vào mỗi câu chuyện: Bà A thích gọi cho đàn ông khi chồng đi vắng; chồng của bà B mắc bệnh giang mai vì nhiều lần đi nhà thổ; bà C gặp rắc rối vì không thể trả nợ tiền một người cho vay, và vân vân… Nhưng hơn tất cả trọng tâm những câu chuyện huyên thuyên của bà là về người hàng xóm chung của chúng tôi, Teh Nining.
Nining là vận xui cho chồng chị ta ngay từ lúc bắt đầu, Umi nói. Từ khi Dadang, chồng chị ta lấy chị ta về, mọi cố gắng làm ăn của hắn đều thất bại. Dù là bán những món lặt vặt, giày, hay gì gì khác thì hắn chẳng bao giờ gặp may. Rồi sau cùng, khi kiếm được một việc làm ở một khách sạn, thì hắn lại bị sa thải. Nhưng, Umi nói, chẳng có gì để ngạc nhiên vì chuyện này, vì khi Dadang lấy Nining thì chị ta đã không còn trinh. Có thể chị ta tự cho là may mắn khi lấy được hắn, nhưng rồi chuyện gì đã xảy ra? Sau khi lấy nhau, chị ta tiếp tục lẳng lơ với những người khác. Một phụ nữ thì phải luôn luôn cẩn trọng, Umi nhấn mạnh, vì quỷ dục vọng cư trú trong mắt của mọi người đàn ông. Nếu cha của Iwang, người chồng tốt, là người bà đã bảo vệ bằng những câu thần chú, có thể bị quyến rũ bởi một người đàn bà khác, thì nên tội nghiệp cho người vợ mất chồng. Khi người vợ của ông thợ bánh mì tạt dầu nóng vào mặt Nining, không ai nên ngăn cản. Vì rằng chị ta đã định lấy chồng của người đàn bà kia.
Umi cứ tiếp tục kể về những khiếm khuyết vô bằng cớ của Teh Nining. Và dù giọng bà có sức thuyết phục, tôi không cho những câu chuyện của bà là có giá trị. Để đáp lại những lời buộc tội và ám chỉ, tôi chỉ mỉm cười hay nói những lời vô thưởng vô phạt, không để cho những lời bà nói nhập tâm. Tôi chẳng quan tâm bàn luận những chuyện xa vời. Tôi chắc rằng Teh Nining không tệ như Umi kể. Mặc dù hành vi của chị ta đối với chồng tôi có phần quá đáng, tôi hoàn toàn chắc chị không có ý định hại tôi. Có khá nhiều yếu tố để đánh giá tính cách của một người và tôi ngờ rằng Teh Nining cư xử như vậy là vì chị đồng cảm với cách chồng tôi đối xử với tôi hoàn toàn khác với cách chồng của chị đối xử với chị.
Và dù thỉnh thoảng tôi không thích cách cư xử của Nining, tôi sẽ không vội trách cứ chị chuyện gì. Sự thật là, tôi ngưỡng mộ chị, đặc biệt là về sự kiên quyết và sự làm việc chăm chỉ để lo cho gia đình. Ngoài ra, không như Umi, chị không phải là một người buôn chuyện. Điều duy nhất làm tôi ngạc nhiên là tại sao, là một người trẻ và có đầu óc độc lập như chị, mà lại để cho chồng hành xử khá tệ như thế.
Sáng nay chúng tôi dậy rất sớm, trước khi bóng của con mèo xuất hiện trên tấm màn phòng ngủ. Kim đồng hồ báo thức chỉ hơn sáu giờ sáng một chút. Chúng tôi thức dậy vì tiếng khóc của con. Rõ ràng thằng bé bị giật mình vì tiếng ly, dĩa bị ném và hàng loạt lời thô tục vang lên từ một trong những gian phòng phía sau. Hình như là Dadang, chồng của Teh Nining đã về nhà.
Khi vợ chồng tôi dỗ được em bé, chúng tôi tìm hiểu chuyện gì đang xảy ra. Có một tiếng động dễ sợ, một tiếng dộng mạnh. Chúng tôi đoán rằng Dadang đã nắm tóc của Teh Nining đập đầu chị vào tường. Chúng tôi nghe tiếng Teh Nining thét lên và tiếng con gái của họ khóc. Rồi đến tiếng ly bể, tiếng cửa đóng thình, và tiếng bước chân. Chúng tôi nhìn nhau rồi cùng đứng dậy để đi xem chuyện gì đã xảy ra. Nhưng lúc ấy em bé lại khóc vì thế tôi ở lại trong giường trong khi chồng tôi đi ra phía sau.
Không lâu sau anh trở lại.
“Nhà chị ấy đóng cửa”, anh nói.
Suốt buổi sáng, tôi băn khoăn về Teh Nining. Tôi gõ cửa nhà chị nhiều lần nhưng không ai mở cửa. Nhà của Umi cũng yên lặng, chẳng biết bà đi đâu.
Vào buổi trưa tôi nghe tiếng gõ cửa nhà bếp. Khi tôi mở cửa, tôi thấy một khuôn mặt có vết bầm và đôi mắt sưng.
“Teh Nining! Vào đi!”
Chị hơi lảo đảo khi bước vào nhà.
“Tôi xin lỗi vì quấy rầy chị”, chị nói chầm chậm. (Chị luôn luôn gọi tôi là chị dù tôi nhỏ hơn chị hai tuổi).
“Không có gì đâu. Tôi vui vì chị đến gặp tôi. Tôi đã gõ cửa nhà chị nhiều lần…”.
“Tôi có nghe nhưng người yếu quá không dậy nổi. Tôi cảm thấy hơi chóng mặt, mình mẩy của tôi khó chịu”.
Hiển nhiên là chị ta muốn giấu tình trạng thật của mình.
“Nhưng trán chị bị bầm. Chuyện gì đã xảy ra?”, tôi hỏi.
“Tôi va trán vào một vật. Thật sự không có gì…”.
“Có thật sự không có gì không?”
Chị gật đầu rồi nhanh chóng nói lý do chị sang gặp tôi: chị cần mượn tôi một số tiền. Chị muốn thăm anh của chị ở Cililin nhưng không đủ tiền lộ phí. Dù tôi còn thắc mắc, tôi nhanh chóng đưa số tiền mà chị cần. Sau khi hứa trả lại tiền khi chị từ Cililin về, chị đi, một lần nữa lại lảo đảo trong khi đi về phòng chị. Tôi tiễn chị đến cửa nhà bếp.
Umi về nhà cùng lúc đó nhưng hai người đàn bà không chào nhau.
Sau khi Teh Nining vào phòng, Umi vội vã tới chỗ tôi đang đứng, đẩy tôi vào nhà và đóng cửa lại.
“Nining muốn gì?”
“Không có gì”.
“Nó có nói chồng nó đánh nó không?”
“Không”.
“Vậy thì sao?”
“Chị ấy cần mượn một số tiền”.
“Dĩ nhiên rồi. Chồng nó lấy tất cả tiền tiết kiệm, thậm chí lấy cả tiền dùng để mua các thứ ngoài chợ… Rõ là vì cờ bạc thôi”.
“Sao chứ?”
“Nhưng đáng đời Nining. Chồng nó mới biết nó đang gặp gỡ một gã xe ôm. Dĩ nhiên là anh ta giận dữ. Người đàn ông nào mà lại muốn bị đối xử như thế?”.
“Chồng chị đã thấy họ hả?”
“Anh ta đâu cần phải thấy. Tôi nói cho anh ta biết. Anh ấy nghe tin từ tôi thì tốt hơn từ người khác, đúng không?”
“Vậy là bà thấy Teh Nining với người đàn ông đó?”
“Không cần phải tự mình thấy. Ai cũng biết cả!”.
Tôi không biết có nên tin Umi hay không. Bà ta có thể đang kể sự thật, mà cũng có thể không. Và bất chấp sự thật, tôi vẫn thương cho Teh Nining.
Cuối cùng thì Teh Nining đi Cililin, đem đứa con gái đi với chị. Một tuần trôi qua và những gian phòng phía sau yên tĩnh lạ lùng không có tiếng nhạc ầm ĩ từ cát xét. Thỉnh thoảng chỉ có tiếng hét của Umi phá vỡ sự yên lặng. Bà có vẻ bực bội, vì không có ai để gây gỗ.
Chồng của Umi ít khi thấy có mặt. Thỉnh thoảng, vào lúc tảng sáng, chúng tôi nghe tiếng ông ta về nhà, say rượu lè nhè nói với chính mình và nôn phía ngoài phòng.
Tôi không biết rồi Teh Nining có trở lại hay không nhưng một hôm tôi thấy một người đàn bà đứng phía ngoài phòng chị. Mới đầu tôi nghĩ đó là Teh Nining nhưng rồi Umi cho tôi biết người đó là ai.
“Đó là bồ của Dadang. Chị ta có thai…”.
Tôi nín lặng không biết phải nói gì.
Võ Hoàng Minh dịch
(Từ “The rooms out back”)
Nguồn: http://wordswithoutborders.org)
(TCSH352&SDB29/06-2018)
SINCLAIR LEWISLGT: SINCLAIR LEWIS (1885 - 1951, giải thưởng Nobel 1930)Ông là tiểu thuyết gia, người viết truyện ngắn có tiếng và nhà viết phê bình có uy tín ở Mỹ.
BRUNO LESSINGLGT: Bruno Lessing (1870-1940) sinh tại New York, Mỹ. Tên thật của ông là Rudolp Block nhưng ông nổi tiếng với tư cách là nhà văn chuyên viết truyện ngắn dưới bút danh Bruno Lessing. Ông là phóng viên và sau đó là biên tập viên cho nhiều tờ báo. Mô tả của Lessing về cuộc sống của người Do Thái ở New York được đánh giá cao. Truyện dưới đây được dẫn dắt một cách hấp dẫn, lý thú, làm nổi bật mối quan hệ giữa hai thế hệ: cha và con, vấn đề nhập cư, đồng hóa hay giữ bản sắc văn hóa với một giọng điệu dí dỏm.
JUAN JOSÉ ARREOLA (Sinh 1918, Nhà văn Mêhicô)LGT: Arreola là một nhà cách tân lớn về truyện kể. Là một người tự học tài năng, ông sở đắc một nền văn hoá rộng lớn, cũng như trải qua nhiều nghề khác nhau để kiếm sống. Arreola chủ yếu sáng tác những truyện kể ngắn, cô đúc, mỉa mai, hay bí ẩn, ưa thích cái nghịch lý và ông là một trong những bậc thầy của hình thức truyện ngắn này. Ba tuyển tập truyện ngắn của ông là Varia Invencion (1049), Confabulario (1952), Confabulario Définitivo (1087).
KAWABATA YASUNARI LGT: KAWABATA YASUNARI (1899 - 1972) là nhà văn đầu tiên của Nhật Bản đoạt giải thưởng Nobel văn chương (1968). Ông nổi tiếng thế giới với những tiểu thuyết như: Xứ Tuyết (1935 - 1947), Ngàn cánh hạc (1949), Tiếng rền của núi (1950), Người đẹp say ngủ (1961), Cố đô (1962)...
MATVEEVA ANNALGT: MATVEEVA ANNA (Sinh 1975) là một nhà văn nữ trẻ của văn học Nga đương đại tài năng đầy hứa hẹn. Đã xuất bản một số tập truyện ngắn. Truyện ngắn của cô đã được đăng trong các tạp chí lớn của Nga như Thế giới mới, Tháng Mười. Văn xuôi của cô hóm hỉnh, thể hiện sự tò mò sắc sảo trước cuộc sống và con người. Tác phẩm của cô được xem như thể hiện một số sắc thái và đặc điểm của văn xuôi hậu hiện đại Nga hiện nay. Xin trân trọng giới thiệu truyện ngắn “Con chó” dưới đây của nữ văn sĩ qua bản dịch của nữ dịch giả Đào Tuấn Ảnh.
YVELINE FÉRAYLTS: Monsieur le paresseux là cuốn tiểu thuyết lịch sử dày gần 300 trang của nữ văn sỹ Pháp Yveline Féray viết về Đại danh y Việt Nam Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác, do Nhà xuất bản Robert Laffont ở Paris ấn hành năm 2000. Trước đó, năm 1989 nữ văn sỹ này đã cho xuất bản ở Pháp cuốn tiểu thuyết dày 1000 trang Dix mille printemps, viết về Nguyễn Trãi - nhà chính trị, quân sự lỗi lạc; nhà thơ lớn của Việt Nam ở thế kỷ XV.
MARSEL SALIMOV (LB NGA)Đất nước ta quá giàu! Vì thế tôi nảy ra ý định muốn cuỗm một thứ gì đó. Những tên kẻ cắp ngày nay chả giống như trước đây. Chúng không thèm để mắt đến những thứ lặt vặt. Cả một đoàn tàu bỗng dưng biến mất tăm! Những nhà máy không thể di dời được, thế nhưng người ta lại nghĩ ra kế chiếm đoạt chúng. Nghe đồn nay mai người ta sẽ bắt đầu chia chác cả đất lẫn nước!
AKILE CAMPANILE(Nhà văn Italia)LTS: Số Tết này, TCSH chọn một truyện ngắn hài hước của một nhà văn Ý, có nhan đề “Ngón nghề kinh doanh”, qua bản dịch của dịch giả nổi tiếng Lê Sơn, để bạn đọc có dịp thư giãn trong dịp đầu Xuân.
HERMANN HESSE Tương truyền thi nhân người Tàu tên Han Fook thuở thiếu thời chỉ thao thức với một khát khao kỳ diệu là muốn học hết mọi điều và tự rèn luyện mình đến hoàn hảo trong tất cả các môn liên quan đến nghệ thuật thi ca.
OLGA TOKARCZUK (Nữ nhà văn Ba Lan)LGT: Nữ văn sĩ Ba Lan Olga Tokarczuk sinh năm 1962 tại Sulechow, Ba Lan. Bà là nhà văn “hậu hiện đại” và “nữ quyền”. Năm 1979 những truyện ngắn đầu tay của bà được đăng tải trên Tạp chí Thanh niên, năm 1989 những bài thơ đầu tay được in trong các tạp chí “Rađa” và “Đời sống văn học”.
NADINE GORDIMER ( Phi), Giải Nobel 1991LGT: Nữ văn sĩ Nadine Gordimer sinh năm 1923 tại Phi. Bà cho in truyện ngắn đầu tay năm 15 tuổi và tiếp tục nghề văn khi còn là sinh viên Đại học Wirwatersrand. Có thời kỳ sách của bà bị chế độ phân biệt chủng tộc Phi cấm đoán. N.Gordimer được trao tặng nhiều giải thưởng văn học, trong đó có giải Nobel văn chương năm 1991.
OLGA TOKARCZUKLGT: Trong số tháng 3 – 2007 (217), Sông Hương đã giới thiệu tới bạn đọc truyện ngắn “Người đàn bà xấu nhất hành tinh” của OLGA TOKARCZUK, một nữ văn sĩ thuộc dòng văn học nữ “hậu hiện đại Ba Lan”. Số báo này, Sông Hương xin giới thiệu tiếp truyện ngắn “Vũ nữ”. Đây là một truyện ngắn độc đáo dựa trên một leimotic “cuộc đối thoại vô hình” giữa người con gái và người cha, láy đi láy lại đến 6 lần, thể hiện cuộc chiến đấu âm thầm dữ dội, tự khẳng định mình trong nghệ thuật, chống lại sức mạnh ám ảnh của mặc cảm “bất tài”.
BERNARD MALAMUDLGT: Bernard Malamud sinh năm 1914 tại Brooklyn, New York, lớn lên trong thời kỳ Đại Khủng hoảng Kinh tế, là người Nga gốc Do Thái trong một gia đình bán tạp hoá. Ông đã xuất bản nhiều tiểu thuyết, truyện ngắn và được nhận nhiều giải thưởng văn học.
RADOI RALIN (Bungari)LGT: Đây là một truyện có ý vị sâu xa với các môtíp sự cám dỗ của quyền lực, “sự đồng loã ngây thơ” với tội ác, sự tự nhận thức và tự trừng phạt. Nhưng trên hết là sự vạch trần và tố cáo sự bịp bợm quỷ kế của giới quyền lực. Đây là một truyện ngụ ngôn mới đặc sắc. Xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc.
ZACE HAMMERTON (Anh quốc)LGT: Truyện dựng chân dung của một kẻ “Sính khiếu nại” “một cách hài hước, bố của John Peters có “Thú đam mê sưu tập tem”. Cách dẫn chuyện tài tình ở cái chi tiết sự ham mê của anh với một loại tem đặc biệt không đục lỗ chiếu ứng với cái kết bất ngờ của truyện “Có của rơi vào tay mà để vuột mất”. Mời bạn đọc thưởng thức.
TOIVO TOOTSEN ( )LGT: Đây là một truyện hài hước thú vị về nạn kẹt xe. Tác giả đã sử dụng một thủ pháp phóng đại đến mức vô lý, không tưởng: một vụ kẹt xe bất tận từ đám cưới đến sinh con, ly dị, tái kết hôn, con vào đại học và kết hôn mà cuộc kẹt xe vẫn chưa kết thúc!. Mượn một tình huống kẹt xe “hoang tưởng” này, nhà văn muốn gởi tới một thông điệp hài hước một cách bi đát: nếu giao thông ở các đô thị lớn không ở các đô thị lớn không được tổ chức một cách khoa học thì từ đời cha đến đời con nạn kẹt xe vẫn chưa được giải quyết. TSCH
JAMES JOYCELGT: James Joyce (1882 - 1941) là một trong những khuôn mặt lớn nhất của văn xuôi Anh - Ailen và châu Âu thế kỷ XX. Ông “là nhân vật trung tâm của văn xuôi hiện đại”, một trong những nhà văn có ảnh hưởng lớn nhất, gây phản ứng mạnh nhất, “một trong những thần tượng của thời đại” đối với văn nghệ sĩ trẻ và giới trí thức châu Âu đương thời.
A THÀNH L.T.S: "Vua cờ" (Kỳ vương) được đăng lần đầu trên tạp chí "Thượng hải văn học" năm 1984. Vừa xuất hiện, "Vua cờ" đã chấn động văn đàn, liên tiếp nhận được nhiều giải thưởng "Trung thiên tiểu thuyết ưu tú" ở cấp tỉnh và trung ương ở Trung Quốc. Tác giả A Thành tên thật là Chung A Thành sinh năm 1949 ở Tứ Xuyên. Đây là tác phẩm đầu tay của ông. Do khuôn khổ tờ báo, chúng tôi không thể in trọn tác phẩm nổi tiếng này khoảng gần 100 trang sách. Dưới đây là chương IV, chương cuối cùng của "Vua cờ".
ROBERT SWINDELLS (ANH)Nếu thế giới này bằng phẳng và nếu bạn có thể nhìn thẳng vào mặt trời đang mọc, bạn sẽ nhìn thấy miền đất nơi Nick và Bruin sinh sống. Nơi ban ngày ẩm nhoẹt còn ban đêm thì ngột ngạt ghê người, nơi mặt trời lên như kẻ thù và gió như muốn bốc cháy.
ALEXANDER VAMPILOV (NGA)Nikolai Nikolaevich Smirnov tin chắc là ông không sống được đến mùa xuân sang năm.