Nhà văn Nenden Lilis A. sinh tại Malangbong-Garut (Tây Java) năm 1971, là giảng viên khoa Giáo dục và Văn chương tại Indonesian Education University ở Bandung.
Truyện ngắn và thơ của bà đã in trên nhiều ấn phẩm trong nước. Bà cũng thường được mời nói chuyện tại các hội nghị văn học cả ở trong nước và nước ngoài (như Malaysia, Hà Lan và Pháp). Thơ của bà đã được dịch sang tiếng Anh, Hà Lan và Đức.
Truyện ngắn dưới đây được John H. McGlynn dịch từ tiếng Indonesia sang tiếng Anh.
Ảnh: internet
NENDEN LILIS A
Chồng tôi và tôi luôn luôn thức dậy lúc 7 giờ 30 khi con mèo đi qua mái ngói nhà hàng xóm tạo thành một cái bóng in trên màn phòng ngủ của chúng tôi. Ai mà biết được tại sao con mèo không được huấn luyện đó lại có được thói quen in bóng lên bức màn của chúng tôi mỗi buổi sáng, để bóng của nó trở thành tín hiệu báo thức cho vợ chồng tôi.
Nói rằng chúng tôi thức dậy lúc 7 giờ 30, nhưng thực ra chúng tôi đã thức từ lúc 4 giờ 30 - trước khi con tôi khóc tiếng đầu ngày và trước hồi chuông cầu nguyện buổi sáng. Sau khi thay tã cho con, cầu nguyện, bơm nước vào thùng chứa ở phòng tắm, chúng tôi thường cố ngủ lại vì chúng tôi thường rất mệt. Cả tôi và chồng đều đi ngủ rất trễ. Đang giữa thời gian phải viết luận án, tôi thường kết thúc việc đọc hay gõ máy khi đêm đã hết ba phần tư. Chồng tôi cũng thế, ngoài việc giúp tôi sưu tầm dữ liệu, còn thường phải viết một bài báo hay một bài chuyên mục để sáng sớm kịp gửi cho tờ báo hàng tuần đã nhận anh làm cộng tác viên.
Thực tế là trong khoảng từ 4 giờ 30 đến 7 giờ 30 chúng tôi thường không ngủ được gì nhiều. Khoảng gần sáng, những người hàng xóm thuê các phòng giáp nhau ở phía sau phòng chúng tôi tranh nhau xách nước ở giếng nước công cộng. Tiếng xô nước thả xuống giếng và giọng nói lanh lảnh của họ làm cho khó ngủ lại được. Đối với họ, nói tức là la. Còn khi họ gây gỗ thì khỏi nói.
Sáng sớm mà đã thấy bà Umi - đó là tên mọi người gọi người hàng xóm trung niên có chồng ngoại tình cãi nhau với con trai, là một học sinh trung học đệ nhất cấp học hành có phần chểnh mảng, khó kiểm soát, và hình như chẳng bao giờ nghe lời bà mẹ.
Đồng thời, hai người hàng xóm khác là một đôi vợ chồng trẻ có đứa con gái mới vào học sơ cấp, đang mở máy cát xét rất lớn - rõ là để che lấp tiếng cãi nhau của họ, dù vậy vẫn nghe được qua tiếng nhạc thình thình. Teh Nining đang càu nhàu vì chồng chị ngáy như trâu. Con họ thì hét rằng nó không muốn tắm.
Thỉnh thoảng, Teh Nining cũng hét to vì cãi nhau với Umi hay vì bị chồng đánh bằng dây nịt.
Chồng của Teh Nining thường đánh chị, thậm chí vì những lý do nhỏ nhặt nhất, đó là một thói quen càng ngày càng tệ sau khi anh ta bị khách sạn nơi anh làm việc sa thải. Tôi không biết lý do anh bị sa thải ngay sau khi chúng tôi thuê chỗ ở này ba tháng trước. Các việc chúng tôi biết về các nhà hàng xóm là gom góp được từ bà chủ khu phòng trọ này và từ Umi, người thích buôn chuyện có những thông tin được thêm mắm thêm muối.
Chúng tôi đã chuyển tới khu này vì nơi đây tiền thuê tương đối rẻ. Phòng của chúng tôi nguyên thủy là một gian phòng chính khá lớn nên chúng tôi dùng một giá sách ngăn thành hai phòng nhỏ. Một làm phòng ngủ, một làm phòng khách. Ở phía sau còn một phòng nhỏ hơn dùng làm nhà bếp và phòng tắm cũng được bố trí ở đó. Với diện tích đó, chúng tôi đã biến nơi này thành một chỗ ở thuận tiện.
Cuối nhà bếp là cửa dẫn ra phía sau. Ngoài cửa là một hành lang cao có bốn bậc tam cấp xuống đất, đối diện với hai phòng tôi nói trên. Có thời, chúng có thể là một khu nhà kho. Cả hai phòng đều có nền đất cứng, bên trong tối tăm và tù túng, không một tia nắng rọi vào. Chỗ của chúng tôi, ở phía trước hai phòng đó và trên nền cao nên hấp thụ hầu hết ánh nắng.
Bởi vì không có nhà bếp riêng, Umi và Teh Nining để bếp lò và dụng cụ nấu ăn của họ trên hành lang phía sau phòng chúng tôi. Vì thế khi họ nấu ăn, tiếng trò chuyện của họ, hay đôi khi, những cuộc tranh cãi của họ là không thể không nghe thấy.
Ở phía sau đó luôn luôn ồn ào. May là con chúng tôi quen với tiếng ồn và hầu như bình thường. Sự ồn ào không dứt cho tới khoảng mười giờ, sau khi bọn trẻ đã đến trường. Lúc đó Umi cũng đi dạo qua các đường trong xóm, hỏi nhận việc giặt giũ và mát xa đồng thời bán các thứ dược thảo đã gói sẵn, cây nhựa thơm, dụng cụ làm đẹp, và các thứ khác mà bà cất trong cái gùi đeo sau lưng. Teh Nining thì đi chợ để mua các thứ làm bánh chiên mà chị bán vào buổi chiều tối, từ năm giờ đến chín giờ, trên chiếc xe đẩy chị đậu ở giao lộ gần bên. Chồng chị thường thì vẫn ngủ từ lúc về nhà vừa khuya vừa say từ đêm trước. Nếu như anh ta dậy sớm và thấy vợ đã đi mà không chuẩn bị sẵn cà phê, anh ta sẽ nổi giận và chửi, rồi bực tức bỏ đi sau khi gửi chìa khóa nhà họ cho tôi.
Hình ảnh chồng của Teh Nining thường làm tôi vừa sợ vừa gớm. Anh ta không có vẻ khỏe mạnh và dơ như một con chuột cống. Mặt anh ta làm tôi hình dung đến một gian phòng đầy mạng nhện. Mắt anh ta có ánh nhìn bệnh hoạn và khi anh ta nói tôi nghĩ đến dạ dày anh ta đầy những con gián gớm ghiếc đang bò lên miệng để tỏa ra mùi hôi của chúng khi anh ta mở miệng. Anh ta sống qua ngày một cách vô tích sự, hoặc là chơi đá gà hoặc chơi đô mi nô với một nhóm thanh niên vô tích sự khác. Anh ta chỉ về nhà để ăn và nếu không có sẵn bữa ăn khi về, thì Teh Nining cứ mà chờ bị anh ta chửi hay đánh.
Vậy thì không có gì lạ khi Teh Nining cứ khen ngợi chồng tôi - rằng anh thì đẹp trai, thông minh và nhân hậu. Chị thường pha trò với chồng tôi khi hai người ngẫu nhiên gặp nhau khi phơi quần áo trước nhà tôi. (Trước khi đi làm buổi sáng, chồng tôi luôn giặt giũ quần áo và tắm cho em bé mới bốn tháng tuổi của chúng tôi). Thỉnh thoảng, cách Teh Nining nói chuyện với chồng tôi có vẻ hơi quá đáng - đó là sự kết hợp lạ lùng của sự trơ tráo và đỏm dáng. Tôi không thích chứng kiến những cảnh tượng đó. Chắc là vì tôi nghĩ chị có vẻ hấp dẫn. Chị có khuôn mặt dễ nhìn, cơ thể gọn gàng, đầy đặn, và có dáng đi đầy sức sống. Không may là cách chị ăn mặc, và hơn thế, cách chị trang điểm, thường là không phù hợp với chị. Chị đẹp hơn nhiều nếu không trang điểm, tôi nghĩ. Nhưng dường như chị bị Umi tác động với những thứ mỹ phẩm chị mua của bà.
![]() |
Minh họa: Nhím |
Khi chúng tôi mới dọn về chỗ ở này, Umi cũng thường mời tôi mua các món hàng của bà. Bà mời tôi những thuốc thảo dược đóng gói sẵn có những nhãn hiệu tôi chẳng hề biết, đồng thời ca ngợi hiệu quả của từng món thuốc.
“Cô phải thử món này! Món này đặc biệt dành cho phụ nữ…”, bà nói như bắt chước một mẩu quảng cáo trên truyền hình, “…để làm cho chồng cô mê mẩn cô! Cô mới có một cháu bé đúng không? Món này có nhiều điểm độc đáo: nó giữ cho cô nguyên si như con gái. Cô biết cô thợ may Enok phải không? Chồng cô ấy định li dị cô ấy - cho tới khi tôi bán cho cô ấy món này! Bây giờ thì anh ta không đi đâu cả. Cô ấy khen, êm và hoàn hảo”.
Tôi cười nhưng không quan tâm gì đến các món của Umi. Theo tôi, con tim đóng vai trò quan trọng trong hôn nhân hơn bất kỳ bộ phận nào khác. Nhưng để không làm Umi thất vọng và hy vọng bà sẽ đi trước khi con tôi thức dậy sau giấc ngủ trưa của nó và tôi có thể làm xong phần nào công việc của mình, tôi đã mua một ít cây nhựa thơm của bà. Nhưng Umi, có vẻ chưa muốn đi. Bà đứng ở cửa nhà bếp, dựa lưng vào đó. Trong khi vừa hút thuốc lá vừa gãi đầu, bà nói về hoàn cảnh của bà từ khi chồng bỏ đi.
“Hiện giờ thì khó khăn. Cha của Iwang thường lo cho tôi đến nỗi tôi sinh hư. Ông ấy chỉ là một nhân viên bảo vệ nhưng tôi thật sự thương ổng. Nếu như ông ấy còn ở đây, tôi sẽ không phải làm việc như bây giờ. Thậm chí ông ấy còn không cho tôi rửa chén. Tự ông ấy làm hết mọi việc - ngoại trừ việc nấu ăn. Ông ấy bảo tôi nấu ăn ngon nhất… Và cô phải luôn nhớ rằng nếu thức ăn một người đàn bà nấu mà ngon, thì cái chuyện đó cũng ngon…!”. Umi gần như hụt hơi sau khi cười giòn.
“Vậy sao bà còn bị ổng bỏ đi?”, tôi tò mò.
Umi lấy cái chày mà tôi đang cầm và bắt đầu giã gia vị mà tôi đã để trong cối. Tôi đẩy cái gạt tàn thuốc về phía bà và bà để điếu thuốc xuống.
“Cô biết đấy… Đàn ông ở đâu cũng như nhau!” Bà ngừng giã cối để hút một hơi thuốc.
“Tôi rất ngạc nhiên! Những thần chú bí mật mà thầy dạy tôi trước đây luôn luôn tỏ ra hiệu quả. Chồng tôi luôn luôn sợ mất tôi - nên ông ấy chăm sóc tôi tốt như thế. Nhưng Maemunah, tôi cho là cô ta có những câu thần chú mạnh hơn của tôi. Với chúng, con quỷ đó lấy mất chồng của tôi. Chính mắt tôi thấy họ hôn nhau trong phòng tôi. Ở đây! Ngay đây! Cô tưởng tượng đi!”
Tôi không hoàn toàn tin câu chuyện của Umi vì tôi đã nghe khác. Tôi cũng có những lý do khác để không hoàn toàn tin bà. Bà thường xin giặt thuê đồ cho nhà tôi nhưng một lần tôi đưa đồ cho bà giặt, thì một số món đã bị mất. Khi tôi hỏi bà về chúng, bà thề - thậm chí bà đã nhân danh Thượng đế - rằng mọi thứ bà được tôi giao đã được bà giặt, phơi, gấp và trả lại cho tôi, không có món nào bị mất. Về sau tôi biết Umi đã đi bán những món đồ y hệt như các món tôi mất cho những nhà hàng xóm trong khu dân cư đằng sau nhà tôi.
Một lần khác, tôi cho Umi mát xa tôi, không phải vì tôi thực sự cần mát xa - bởi vì, chồng tôi thường mát xa cho tôi và ngược lại - mà vì bà mời mọc nhiều lần đến nỗi cuối cùng tôi mệt mỏi vì từ chối. Kỹ thuật mát xa của bà thì được nhưng suốt buổi mát xa bà không ngừng nói. Bà kể về những người hàng xóm khác, luôn luôn thêm mắm thêm muối vào mỗi câu chuyện: Bà A thích gọi cho đàn ông khi chồng đi vắng; chồng của bà B mắc bệnh giang mai vì nhiều lần đi nhà thổ; bà C gặp rắc rối vì không thể trả nợ tiền một người cho vay, và vân vân… Nhưng hơn tất cả trọng tâm những câu chuyện huyên thuyên của bà là về người hàng xóm chung của chúng tôi, Teh Nining.
Nining là vận xui cho chồng chị ta ngay từ lúc bắt đầu, Umi nói. Từ khi Dadang, chồng chị ta lấy chị ta về, mọi cố gắng làm ăn của hắn đều thất bại. Dù là bán những món lặt vặt, giày, hay gì gì khác thì hắn chẳng bao giờ gặp may. Rồi sau cùng, khi kiếm được một việc làm ở một khách sạn, thì hắn lại bị sa thải. Nhưng, Umi nói, chẳng có gì để ngạc nhiên vì chuyện này, vì khi Dadang lấy Nining thì chị ta đã không còn trinh. Có thể chị ta tự cho là may mắn khi lấy được hắn, nhưng rồi chuyện gì đã xảy ra? Sau khi lấy nhau, chị ta tiếp tục lẳng lơ với những người khác. Một phụ nữ thì phải luôn luôn cẩn trọng, Umi nhấn mạnh, vì quỷ dục vọng cư trú trong mắt của mọi người đàn ông. Nếu cha của Iwang, người chồng tốt, là người bà đã bảo vệ bằng những câu thần chú, có thể bị quyến rũ bởi một người đàn bà khác, thì nên tội nghiệp cho người vợ mất chồng. Khi người vợ của ông thợ bánh mì tạt dầu nóng vào mặt Nining, không ai nên ngăn cản. Vì rằng chị ta đã định lấy chồng của người đàn bà kia.
Umi cứ tiếp tục kể về những khiếm khuyết vô bằng cớ của Teh Nining. Và dù giọng bà có sức thuyết phục, tôi không cho những câu chuyện của bà là có giá trị. Để đáp lại những lời buộc tội và ám chỉ, tôi chỉ mỉm cười hay nói những lời vô thưởng vô phạt, không để cho những lời bà nói nhập tâm. Tôi chẳng quan tâm bàn luận những chuyện xa vời. Tôi chắc rằng Teh Nining không tệ như Umi kể. Mặc dù hành vi của chị ta đối với chồng tôi có phần quá đáng, tôi hoàn toàn chắc chị không có ý định hại tôi. Có khá nhiều yếu tố để đánh giá tính cách của một người và tôi ngờ rằng Teh Nining cư xử như vậy là vì chị đồng cảm với cách chồng tôi đối xử với tôi hoàn toàn khác với cách chồng của chị đối xử với chị.
Và dù thỉnh thoảng tôi không thích cách cư xử của Nining, tôi sẽ không vội trách cứ chị chuyện gì. Sự thật là, tôi ngưỡng mộ chị, đặc biệt là về sự kiên quyết và sự làm việc chăm chỉ để lo cho gia đình. Ngoài ra, không như Umi, chị không phải là một người buôn chuyện. Điều duy nhất làm tôi ngạc nhiên là tại sao, là một người trẻ và có đầu óc độc lập như chị, mà lại để cho chồng hành xử khá tệ như thế.
Sáng nay chúng tôi dậy rất sớm, trước khi bóng của con mèo xuất hiện trên tấm màn phòng ngủ. Kim đồng hồ báo thức chỉ hơn sáu giờ sáng một chút. Chúng tôi thức dậy vì tiếng khóc của con. Rõ ràng thằng bé bị giật mình vì tiếng ly, dĩa bị ném và hàng loạt lời thô tục vang lên từ một trong những gian phòng phía sau. Hình như là Dadang, chồng của Teh Nining đã về nhà.
Khi vợ chồng tôi dỗ được em bé, chúng tôi tìm hiểu chuyện gì đang xảy ra. Có một tiếng động dễ sợ, một tiếng dộng mạnh. Chúng tôi đoán rằng Dadang đã nắm tóc của Teh Nining đập đầu chị vào tường. Chúng tôi nghe tiếng Teh Nining thét lên và tiếng con gái của họ khóc. Rồi đến tiếng ly bể, tiếng cửa đóng thình, và tiếng bước chân. Chúng tôi nhìn nhau rồi cùng đứng dậy để đi xem chuyện gì đã xảy ra. Nhưng lúc ấy em bé lại khóc vì thế tôi ở lại trong giường trong khi chồng tôi đi ra phía sau.
Không lâu sau anh trở lại.
“Nhà chị ấy đóng cửa”, anh nói.
Suốt buổi sáng, tôi băn khoăn về Teh Nining. Tôi gõ cửa nhà chị nhiều lần nhưng không ai mở cửa. Nhà của Umi cũng yên lặng, chẳng biết bà đi đâu.
Vào buổi trưa tôi nghe tiếng gõ cửa nhà bếp. Khi tôi mở cửa, tôi thấy một khuôn mặt có vết bầm và đôi mắt sưng.
“Teh Nining! Vào đi!”
Chị hơi lảo đảo khi bước vào nhà.
“Tôi xin lỗi vì quấy rầy chị”, chị nói chầm chậm. (Chị luôn luôn gọi tôi là chị dù tôi nhỏ hơn chị hai tuổi).
“Không có gì đâu. Tôi vui vì chị đến gặp tôi. Tôi đã gõ cửa nhà chị nhiều lần…”.
“Tôi có nghe nhưng người yếu quá không dậy nổi. Tôi cảm thấy hơi chóng mặt, mình mẩy của tôi khó chịu”.
Hiển nhiên là chị ta muốn giấu tình trạng thật của mình.
“Nhưng trán chị bị bầm. Chuyện gì đã xảy ra?”, tôi hỏi.
“Tôi va trán vào một vật. Thật sự không có gì…”.
“Có thật sự không có gì không?”
Chị gật đầu rồi nhanh chóng nói lý do chị sang gặp tôi: chị cần mượn tôi một số tiền. Chị muốn thăm anh của chị ở Cililin nhưng không đủ tiền lộ phí. Dù tôi còn thắc mắc, tôi nhanh chóng đưa số tiền mà chị cần. Sau khi hứa trả lại tiền khi chị từ Cililin về, chị đi, một lần nữa lại lảo đảo trong khi đi về phòng chị. Tôi tiễn chị đến cửa nhà bếp.
Umi về nhà cùng lúc đó nhưng hai người đàn bà không chào nhau.
Sau khi Teh Nining vào phòng, Umi vội vã tới chỗ tôi đang đứng, đẩy tôi vào nhà và đóng cửa lại.
“Nining muốn gì?”
“Không có gì”.
“Nó có nói chồng nó đánh nó không?”
“Không”.
“Vậy thì sao?”
“Chị ấy cần mượn một số tiền”.
“Dĩ nhiên rồi. Chồng nó lấy tất cả tiền tiết kiệm, thậm chí lấy cả tiền dùng để mua các thứ ngoài chợ… Rõ là vì cờ bạc thôi”.
“Sao chứ?”
“Nhưng đáng đời Nining. Chồng nó mới biết nó đang gặp gỡ một gã xe ôm. Dĩ nhiên là anh ta giận dữ. Người đàn ông nào mà lại muốn bị đối xử như thế?”.
“Chồng chị đã thấy họ hả?”
“Anh ta đâu cần phải thấy. Tôi nói cho anh ta biết. Anh ấy nghe tin từ tôi thì tốt hơn từ người khác, đúng không?”
“Vậy là bà thấy Teh Nining với người đàn ông đó?”
“Không cần phải tự mình thấy. Ai cũng biết cả!”.
Tôi không biết có nên tin Umi hay không. Bà ta có thể đang kể sự thật, mà cũng có thể không. Và bất chấp sự thật, tôi vẫn thương cho Teh Nining.
Cuối cùng thì Teh Nining đi Cililin, đem đứa con gái đi với chị. Một tuần trôi qua và những gian phòng phía sau yên tĩnh lạ lùng không có tiếng nhạc ầm ĩ từ cát xét. Thỉnh thoảng chỉ có tiếng hét của Umi phá vỡ sự yên lặng. Bà có vẻ bực bội, vì không có ai để gây gỗ.
Chồng của Umi ít khi thấy có mặt. Thỉnh thoảng, vào lúc tảng sáng, chúng tôi nghe tiếng ông ta về nhà, say rượu lè nhè nói với chính mình và nôn phía ngoài phòng.
Tôi không biết rồi Teh Nining có trở lại hay không nhưng một hôm tôi thấy một người đàn bà đứng phía ngoài phòng chị. Mới đầu tôi nghĩ đó là Teh Nining nhưng rồi Umi cho tôi biết người đó là ai.
“Đó là bồ của Dadang. Chị ta có thai…”.
Tôi nín lặng không biết phải nói gì.
Võ Hoàng Minh dịch
(Từ “The rooms out back”)
Nguồn: http://wordswithoutborders.org)
(TCSH352&SDB29/06-2018)
AZIt NêxinNgày xưa, nhà vua ở một nước nọ có một kho bạc. Nghe đồn rằng trong kho bạc của nhà vua cất giữ một báu vật vô giá duy nhất của nước đó. Mọi người đều tự hào về báu vật mà tổ tiên đã để lại cho họ. “Mặc dầu chúng ta chẳng có gì cả, nhưng tổ tiên đã để cho chúng ta giữ một vật quý”, họ thường tự hào như vậy mà quên đi cảnh túng thiếu của mình.
AZIT NÊXIN (1915 - 1995)Một con chó chạy xồng xộc vào tòa báo "Tin tức đô thành”.
Nhà văn Mỹ Carson Mc Cullers sinh 1917. Các tác phẩm chính của bà là: Trái tim là kẻ đi săn cô độc (1940), Thành viên của đám cưới (1946), Khúc ballad của quán cà phê buồn (1951), Ngọt như dưa chua và sạch như heo (1954)…
Kamala Das tên thật là Kamala Suraiyya, sinh ngày 31.3.1934 tại Punnayurkulam, quận Thrissur, thành phố Kerala, vùng tây nam Ấn Độ. Bà là nhà văn nữ nổi tiếng của Ấn Độ. Bà sáng tác truyện ngắn bằng tiếng Malayalam. Bà sáng tác thơ và tiểu thuyết ngắn bằng tiếng Anh. Bà chủ yếu nổi tiếng trong thể loại truyện ngắn. Trong sự nghiệp sáng tác, bà đã có nhiều giải thưởng văn học, trong số đó là: Asian Poetry Prize, Kent Award for English Writing from Asian Countries, Asan World Prize, Ezhuthachan Award và một số giải thưởng khác nữa. Ngày 31 tháng Năm, 2009, bà mất tại bệnh viện thành phố Pune, Ấn Độ, thọ 75 tuổi.
HERTA MULLERHerta Mueller vừa được trao giải Nobel văn học 2009 vì đã mô tả cảnh tượng mất quyền sở hữu bằng một lối thơ cô đọng và một lối văn thẳng thắn. Truyện ngắn này rút từ tập truyện Nadirs (1982) là tác phẩm đầu tay của bà.
SHERMAN ALEXIENgay sau khi mất việc ở văn phòng giao dịch của người Anh điêng, Victor mới biết cha anh đã qua đời vì một cơn đau tim ở Phoenix, Arizoan. Đã mấy năm nay Victor không gặp cha, anh chỉ nói chuyện với ông qua điện thoại một hay hai lần gì đó, nhưng đó là một căn bệnh di truyền, có thực và xảy ra đột ngột như xương bị gãy vậy.
KOMATSU SAKYOKomatsu Sakyo sinh tại Osaka (Nhật Bản) (28/1/1931). Nhà văn chuyên viết truyện khoa học giả tưởng nổi tiếng của Nhật Bản. Tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Kyoto, chuyên ngành Văn học Italia. Từ năm 1957 là phóng viên đài phát thanh Osaka và viết cho một số báo. Năm 1961 chiến thắng trong cuộc thi truyện ngắn giả tưởng xuất sắc do tạp chí “SF Magasines” tổ chức. Tác phẩm của Komatsu đã được dịch ra rất nhiều thứ tiếng trên thế giới. Có bốn tiểu thuyết đã được dựng thành phim.
FRANK R- STOCKTONCách đây năm năm, một sự kiện kì lạ đã xảy đến với tôi. Cái biến cố này làm thay đổi cả cuộc đời tôi, cho nên tôi quyết định viết lại nó. mong rằng nó sẽ là bài học bổ ích cho những người lâm vào tình cảnh giống tôi.
MIKHAIN SÔLÔKHỐP Truyện ngắn Mùa xuân thanh bình đầu tiên đã về lại trên sông Đông sau những năm tháng chiến tranh. Vào cuối tháng Ba, những cơn gió ấm áp cũng đã thổi đến, và chỉ sau hai ngày tuyết cũng đã bắt đầu tan trên đôi bờ sông Đông. Khắp mọi ngả đường việc đi lại cũng vô cùng khó khăn.
KAHLIL GIBRANNguồn: A Treasury of Kahlil Gibran (Một kho tàng của Kahlil Gibran), Anthony Rizcallah Ferrris dịch từ tiếng Arập, Martin L. Wolf biên tập, Nxb Citadel Press, New York, HK, 1951.
ROBERT ZACKS (ANH)Nhân ngày quốc tế phụ nữ, tôi và anh tôi bàn nhau mua quà tặng mẹ. Đây là lần đầu tiên trong đời chúng tôi thực hiện điều này.
GUY DE MAUPASSANTÔng Marrande, người nổi tiếng và lỗi lạc nhất trong các bác sĩ tâm thần, đã mời ba đồng nghiệp cùng bốn nhà bác học nghiên cứu khoa học tự nhiên đến thăm và chứng kiến, trong vòng một giờ đồng hồ, một trong những bệnh nhân tại nhà điều trị do ông lãnh đạo.
GUY DE MAUPASSANTGia đình Creightons rất tự hào về cậu con trai của họ, Frank. Khi Frank học đại học xa nhà, họ rất nhớ anh ấy. Nhưng rồi anh ấy gửi thư về, và rồi cuối tuần họ lại được gặp nhau.
JAMAICA KINCAIDNhà văn hậu hiện đại Anh J. Kincaid sinh năm 1949. Mười sáu tuổi, bà đến New York làm quản gia và giữ trẻ. Bà tự học là chính. Tuyển tập truyện ngắn đầu tiên của bà: “Giữa dòng sông” (1984) nhận được giải thưởng của viện hàn lâm Văn chương và Nghệ thuật Mỹ; còn các tiểu thuyết “Annie” (1985), “Lucky” (1990) được đánh giá cao.
SAM GREENLEE (MỸ)Sam Greenlee sinh tại Chicago, nổi tiếng với thể loại tiểu thuyết.Ông cũng đóng góp nhiều truyện ngắn, bài báo trong “Thế giới da màu” (Black World); và xem như là bộ phận không thể tách rời trong văn nghiệp, bởi ông là nhà văn da màu. Tuy nhiều truyện ngắn của ông vẫn được thể hiện theo lối truyền thống, nghĩa là vào cửa nào ra cửa ấy; nhưng cái cách mở rộng câu chuyện ở giữa truyện, bằng lối kể gần gũi nhiều kinh nghiệm; đã gây được sự thú vị. Đọc “Sonny không buồn” qua bản dịch, dĩ nhiên, khó thấy được cái hay trong lối kể, bởi nếp nghĩ và văn hoá rất khác nhau; nhiều từ-câu-đoạn không tìm được sự tương đương trong tiếng Việt. Cho nên đọc truyện này, chỉ có thể dừng lại ở mức, cùng theo dõi những diễn tiến bên ngoài cũng như sự tưởng tượng bên trong của Sonny về môn bóng rổ, cả hai như một và được kể cùng một lúc.
DƯƠNG UÝ NHIÊN (Trung Quốc)Tôi không thể thay đổi được thói quen gần gũi với cô ấy nên đành trốn chạy ra nước ngoài. Tôi đã gặp được em. Khi đăng tác phẩm “Không thể chia lìa” trên một tạp chí xa tít tắp và dùng bút danh, tôi cho rằng mình không một chút sơ hở. Tôi nhận tiền nhuận bút và mua hai chai rượu quý nồng độ cao trên đường trở về. Tôi muốn nói với em điều gì đó nhân kỷ niệm ngày cưới.
S. MROZEK (Ba Lan)Tại thủ đô của một vương quốc nọ có một viện bảo tàng, trong đó có khu trưng bày về nền nghệ thuật phương Đông. Trong vô số các hiện vật trưng bày tại khu này có nhiều báu vật cực hiếm, giá trị văn hoá và giá trị bằng tiền của chúng vô cùng lớn. Trong số các vật hiếm này có một báu vật đầu bảng, bởi đó là bản duy nhất thuộc loại đó và cũng là bản duy nhất trên toàn cầu. Vì là hiện vật cực hiếm nên giá trị văn hoá của nó là độc nhất vô nhị, còn giá trị bằng tiền thời không tính xuể.
WILLIAM SAROYAN (Mỹ)Cả thế giới muốn tôi làm một chầu hớt tóc. Cái đầu tôi thì quá bự cho thế giới. Quá nhiều tóc đen, thế giới nói thế. Mọi người đều nói, khi nào thì mày định đi làm một chầu hớt tóc vậy hả nhóc kia?
SOMERSET MAUGHAM (ANH)Trang trại nằm giữa thung lũng, giữa những mỏm đồi ở Sômôsetsi. Ngôi nhà xây bằng đá theo mốt cũ được bao bọc bởi những kho củi, sân nhốt súc vật và những công trình bằng gỗ khác. Thời điểm xây dựng được chạm trổ trên cổng bằng những chữ số cổ đẹp đẽ: 1673.
SORBON (Tajikistan)Sorbon sinh năm 1940 tại làng Amondar trong một gia đình nông dân thuộc tập đoàn sản xuất nông nghiệp. Năm 1963 ông tốt nghiệp Đại học Lenin của Tajikistan với bằng tiến sĩ ngôn ngữ học. Các tác phẩm của Sorbon xuất hiện lần đầu vào năm 1965. Tuyển tập truyện ngắn đầu tiên của ông “Không phải tất cả đã được nói ra” xuất bản năm 1969. Nhiều truyện ngắn của ông mau chóng được thu thập lại, trong đó có truyện “Ngày đầu tiên đến trường” nói về một phụ nữ Tajikistan trong Thế chiến thứ Hai, “Sự phòng thủ của đá” và “Người du mục” nói về sự thiết lập chính quyền Xô Viết tại ngôi làng ven sông Zeravshan, và “Áo khoác đồ sộ” nói về một cậu bé bị mất cha trong chiến tranh. Sorbon là nhà văn có tiếng tăm lớn của nền văn xuôi Tajikistan ở thập niên bảy mươi. Truyện ngắn “Người đánh bẫy chim” được viết năm 1974.