TRẦN THỊ KIÊN TRINH
Là em gái của anh nhưng khi tôi được sinh ra anh đã tròn hai mươi tuổi. Những gì nhớ về anh chỉ là ký ức tuổi thơ trong khu vườn tranh thỉnh thoảng anh về.
Nhà thơ, liệt sĩ Trần Quang Long
Trong các anh em trong gia đình, tôi có cái gì đó đặc biệt với anh hơn các anh em khác: Anh đã đặt tên cho tôi khi tôi mới chào đời - Trần Thị Kiên Trinh. Anh đã xây dựng hạnh phúc gia đình cho tôi với người bạn rất thân của anh - anh Nguyễn Hữu Ngô.
Những gì tôi biết về anh những ngày anh còn là sinh viên Đại học Sư phạm Huế, những ngày hoạt động trong lòng địch đều qua lời kể của anh Nguyễn Hữu Ngô và những người bạn của anh. Tôi đặc biệt quý trọng anh, tự hào về anh, thấy thật gần với anh... và tôi muốn viết tiếp điều gì đó về anh. Và cơ duyên “anh đã dẫn dắt tôi” gặp được anh Lê Công Cơ vào một ngày cuối năm 2016, nghe anh kể về anh trai mình những năm hai anh cùng gặp mặt, sống chung với nhau. Anh Lê Công Cơ đã từng là thủ lĩnh phong trào sinh viên học sinh ở miền Trung, hiện là Hiệu trưởng Trường Đại học Duy Tân - Đà Nẵng. Hai anh đã có những năm tháng hoạt động cùng nhau trong những năm từ 1963 - 1966. Hai anh biết nhau vào khoảng năm 1963 qua lời giới thiệu của anh Lê Hiếu Đằng. Quán cà phê cô Dung (ở trong Thành nội, Huế) là nơi các anh lần đầu biết mặt nhau. Lúc đó, vấn đề các anh quan tâm là tình hình Phật giáo tại Huế đang bị đàn áp. Dù gia đình theo đạo Tin Lành nhưng anh Long hết lòng ủng hộ Phật giáo và muốn làm điều gì đó để hỗ trợ phong trào Phật giáo!
Trong lần gặp thứ hai, anh Trần Quang Long đã đề nghị lập cà phê Quán Bạn. Quán Bạn - tên quán là gợi ý của giáo sư Đỗ Long Vân. Đề xuất của anh được anh Lê Công Cơ đồng ý. Quán Bạn ra đời với sự góp sức của những người anh Long quen biết, hầu hết là các nhà giáo ở Viện Đại học Huế, những người nhiệt tình và có tư tưởng ủng hộ Phật giáo, trong đó phải kể đến các anh Nguyễn Hữu Ngô, anh Hồ Đăng Định, anh Lê Văn Sâm… là những người đã đứng ra thuê địa điểm ở 23 Đào Duy Từ - Huế (thời đó). Mới đầu, quán rất khó khăn, các anh đã đóng góp từng chiếc ghế cái bàn, ly cốc lấy từ nhà mang đến…
Quán Bạn đã thu hút khá đông những gương mặt có uy tín và có ảnh hưởng sâu rộng đến phong trào đô thị tại Huế. Anh Long đã sáng tác bài thơ như một “tuyên ngôn của nhóm” nhưng rất tiếc anh Cơ không nhớ được. Quán Bạn hoạt động không được bao lâu thì khoảng cuối năm 1964 đã bị chính quyền Thừa Thiên giải tán. Chúng dùng đủ chiêu trò để quậy phá kể cả dùng bọn du đảng. Quán Bạn tan rã, những người cốt cán mỗi người một ngả; anh Trần Quang Long lại tham gia vào nhóm “Tuyệt tình cốc” do hai anh em Hoàng Phủ Ngọc Tường và Hoàng Phủ Ngọc Phan sáng lập.
Tết năm 1965, các anh Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Minh Triết, Lê Tử Thành, Phan Duy Nhân và anh Trần Quang Long được anh Lê Công Cơ đưa về vùng giải phóng Quảng Nam gặp các anh ở Khu ủy khu V tại làng Quang Hiện, xã Điện Hòa, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.
Các anh được ăn tết và bàn việc tại đây. Địch vào càn quét tận Điện Bàn, anh em phải chia nhau rúc hầm bí mật nước. Đây là loại hầm mà hầu hết các anh chưa chui vào lần nào, chưa có chút kinh nghiệm nào để vào được. Hầm bí mật nước là loại hầm đào dọc sông nhỏ ở Quang Hiện, muốn núp phải lội xuống sông men theo bờ và rúc vào miệng hầm nằm dưới mặt nước khoảng một mét. Phải lặn xuống chui vào, và trồi lên bên trong. Hầm nằm trong một bờ tre dày đặc tua tủa gai nhọn. Cũng may anh Long là người bơi giỏi. Hồi còn là sinh viên, anh Long và anh Nguyễn Hữu Ngô vẫn thường thi nhau bơi từ cầu Trường Tiền đến cầu Mới.
Chuyến đi đã để lại những dấu ấn khó quên trong lòng mỗi người.
Tập san (có thể xem là tờ báo) được các anh Trần Quang Long, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan phụ trách đã gây được tiếng vang tại Huế và Đà Nẵng, với nội dung đậm lòng yêu nước, chống đàn áp Phật giáo, chống độc tài tay sai ngoại bang.
Sau đó anh Long và anh Lê Phước Thúy bị điều động vào dạy học tại trường Cường Để, Quy Nhơn.
Tháng 3 năm 1966, phong trào chống Thiệu Kỳ diễn ra ở khắp các thành thị miền Nam, anh Long, anh Thúy ở Quy Nhơn, và lực lượng cơ sở cách mạng cốt cán tại Huế, Đà Nẵng, Quy Nhơn phối hợp nhau đấu tranh dưới sự chỉ đạo của Khu ủy khu V và Trị Thiên - Huế.
Phong trào ở Quy Nhơn bị đàn áp, anh Long bị đánh gãy chân và sau đó vào điều trị tại Sài Gòn. Phong trào chống Mỹ - Thiệu tạm lắng.
Tháng 6 năm 1966, anh Long lại có dịp gặp lại anh Lê Công Cơ ở Sài Gòn. Anh Cơ lánh vào Sài Gòn vì chính quyền Thừa Thiên bố ráp quá gắt gao!
Hai anh, người dưỡng thương người lánh nạn gặp nhau như cá gặp nước, như nắng hạn gặp mưa. Không phút ngơi nghỉ, các anh đã bàn nhau về Cần Thơ. Anh Long tiếp tục sáng tác, tiếp tục hoạt động bằng những vần thơ hừng hực lửa đấu tranh. Khách sạn Vân kiều - Cần Thơ là nơi ra đời tập thơ “Tiếng hát những người đi tới” chỉ trong một tháng. Những ngày sống bên nhau ở Cần Thơ, hai anh càng hiểu nhau hơn càng mến tài nhau hơn. Anh Long có biệt tài làm thơ rất nhanh, chỉ cần nêu chủ đề là anh có ngay bài thơ đúng đề tài đó.
Trong một lần nói chuyện, anh Lê Công Cơ có nhận định về phong trào đô thị miền Nam đã lớn lên không ngừng và đó là gợi ý cho bài thơ “Lớn lên không ngừng” ra đời. Thỉnh thoảng để tránh sự chú ý của địch, hai anh thường thay đổi chỗ ở, lúc Sài Gòn, lúc Cần Thơ. Ở sài Gòn, nơi tá túc an toàn là nhà anh rể của anh Long ở cư xá Bắc Hải, nơi dành cho sĩ quan của chính quyền Sài Gòn lúc bấy giờ.
Sau một thời gian ngắn bên nhau, tình hình tạm ổn, hai anh chia tay nhau vào khoảng tháng 8 năm 1968. Anh Lê Công Cơ trở về Huế, anh Trần Quang Long tiếp tục hoạt động tại Sài Gòn - Cần Thơ. Và đó là lần cuối cùng hai anh gặp nhau, rồi vĩnh viễn anh Cơ không còn thấy anh Trần Quang Long lần nào nữa.
Ngày 11 tháng 10 năm 1968, anh Trần Quang Long mãi mãi ra đi ở tuổi 27, tại biên giới Tây Ninh - Campuchia.
Khép lại một đời người nhưng vẫn còn đó những bài thơ rực lửa đấu tranh, những tập thơ còn thấm máu lúc hy sinh. Vẫn còn đó những kỷ niệm đẹp thời trai trẻ trong lòng bạn bè.
![]() |
Giải cống hiến của Hội Nhà văn Việt Nam trao tặng anh (lần thứ nhất, ký ngày 27 tháng 3 năm 2017) là một sự ghi nhận dành cho anh - một người tài hoa của đất nước, tôn vinh những tác phẩm văn học làm nên tên tuổi anh.
Bạn bè luôn nhớ về anh. Em vẫn thường tâm sự với anh, vẫn luôn gọi tên anh: Anh Trần Quang Long - người anh yêu kính!
Huế, ngày 30 tháng 8 năm 2017
T.T.K.T
(SHSDB27/12-2017)
HỒ DZẾNH
Hồi ký
Mai sau dù có bao giờ
Đốt lò hương ấy, so tơ phím này
NGUYỄN DU
LÝ HOÀI THU
Tôi nhớ… một chiều cuối hạ năm 1972, trên con đường làng lát gạch tại nơi sơ tán Ứng Hòa - Hà Tây cũ, lần đầu tiên tôi nhìn thấy thầy. Lúc đó lớp Văn K16 của chúng tôi đang bước vào những tuần cuối của học kỳ II năm thứ nhất.
PHẠM THỊ CÚC
(Tặng bạn bè Cầu Ngói Thanh Toàn nhân Ngày Thương binh Liệt sĩ)
Người ta vẫn nói Tô Hoài là “nhà văn của thiếu nhi”. Hình như chưa ai gọi ông là “nhà văn của tuổi già”. Cho dù giai đoạn cuối trong sự nghiệp của ông – cũng là giai đoạn khiến Tô Hoài trở thành “sự kiện” của đời sống văn học đương đại chứ không chỉ là sự nối dài những gì đã định hình tên tuổi ông từ quá khứ - sáng tác của ông thường xoay quanh một hình tượng người kể chuyện từng trải qua nhiều thời kỳ lịch sử, nhiều thăng trầm của đời sống, giờ đây ngồi nhớ lại, ngẫm lại, viết lại quá khứ, không phải nhằm dạy dỗ, khuyên nhủ gì ai, mà chỉ vì muốn lưu giữ và thú nhận.
CAO THỊ QUẾ HƯƠNG
Tôi được gặp và quen nhạc sĩ Trịnh Công Sơn vào những ngày đầu mùa hè năm 1966 khi anh cùng anh Trần Viết Ngạc đến trụ sở Tổng hội Sinh viên, số 4 Duy Tân, Sài Gòn trình diễn các bài hát trong tập “Ca khúc da vàng”.
THÁI KIM LAN
Lớp đệ nhất C2 của chúng tôi ở trường Quốc Học thập niên 60, niên khóa 59/60 gồm những nữ sinh (không kể đám nam sinh học trường Quốc Học và những trường khác đến) từ trường Đồng Khánh lên, những đứa đã qua phần tú tài 1.
Nhung nhăng, tần suất ấy dường như khá dày, là ngôn từ của nhà văn Tô Hoài để vận vào những trường hợp, lắm khi chả phải đi đứng thế này thế nọ mà đương bập vào việc chi đó?
Tôi được quen biết GS. Nguyễn Khắc Phi khá muộn. Đó là vào khoảng đầu những năm 80 của thế kỉ trước, khi anh được chuyển công tác từ trường ĐHSP Vinh ra khoa Văn ĐHSPHN.
Năm 1960, tôi học lớp cuối cấp 3. Một hôm, ở khu tập thể trường cấp 2 tranh nứa của tôi ở tỉnh, vợ một thầy giáo dạy Văn, cùng nhà, mang về cho chồng một cuốn sách mới. Chị là người bán sách.
DƯƠNG PHƯỚC THU
LTS: Trên số báo 5965 ra ngày 07/02/2014, báo Thừa Thiên Huế có bài “Vài điều trong các bài viết về Cố Đại tướng Nguyễn Chí Thanh”, của tác giả Phạm Xuân Phụng, trong đó có nhắc nhiều đến các bài viết về Đại tướng đã đăng trên Sông Hương số đặc biệt tháng 12/2013 (số ĐB thứ 11), và cho rằng có nhiều sai sót trong các bài viết đó.
NGUYỄN THỊ PHƯỚC LIÊN
(Thương nhớ Cẩm Nhung của Hương, Lại, Nguyệt, Liên)
BÙI KIM CHI
Trời cuối thu. Rất đẹp. Lá phượng vàng bay đầy đường. Tôi đang trong tâm trạng náo nức của một thoáng hương xưa với con đường Bộ Học (nay là Hàn Thuyên) của một thời mà thời gian này thuở ấy tôi đã cắp sách đến trường. Thời con gái của tôi thênh thang trở về với “cặp sách, nón lá, tóc xõa ngang vai, đạp xe đạp…”. Mắt rưng rưng… để rồi…
LÊ MINH
Nguyên Tư lệnh chiến dịch Bí thư Thành ủy Huế (*)
… Chỉ còn hai ngày nữa là chiến dịch mở; tôi xin bàn giao lại cho Quân khu chức vụ "chính ủy Ban chuẩn bị chiến trường" để quay về lo việc của Thành ủy mà lúc đó tôi vẫn là Bí thư.
NGUYỄN KHOA BỘI LAN
Cách đây mấy chục năm ở thôn Gia Lạc (hiện nay là thôn Tây Thượng) xã Phú Thượng có hai nhà thơ khá quen thuộc của bà con yêu thơ xứ Huế. Đó là bác Thúc Giạ (Ưng Bình) chủ soái của Hương Bình thi xã và cha tôi, Thảo Am (Nguyễn Khoa Vi) phó soái.
(SHO). Nhân dân Việt Nam khắc sâu và nhớ mãi cuộc chiến đấu can trường bảo vệ biên giới tổ quốc thân yêu tháng 2/1979. Điều đó đã thêm vào trang sử hào hùng về tinh thần bảo vệ chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng của dân tộc.
NGUYỄN CƯƠNG
Có nhiều yếu tố để Cố đô Huế là một trung tâm văn hóa du lịch, trong đó có những con đường rợp bóng cây xanh làm cho Huế thơ mộng hơn, như đường Lê Lợi chạy dọc bên bờ sông Hương, đường 23/8 đi qua trước Đại Nội, rồi những con đường với những hàng cây phượng vỹ, xà cừ, bằng lăng, me xanh... điểm tô cho Huế.
HOÀNG HƯƠNG TRANG
Cách nay hơn một thế kỷ, người Huế, kể cả lớp lao động, nông dân, buôn bán cho đến các cậu mợ, các thầy các cô, các ông già bà lão, kể cả giới quý tộc, đều ghiền một lại thuốc lá gọi là thuốc Cẩm Lệ.
PHẠM HỮU THU
Với tư cách là Bí thư Tỉnh ủy lâm thời và Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (Việt Minh) của tỉnh Thừa Thiên - Huế, đầu năm 1942, sau khi vượt ngục trở về, đồng chí Nguyễn Chí Thanh đã có quãng thời gian gắn bó với vùng đầm Cầu Hai, nơi có cồn Rau Câu, được Tỉnh ủy lâm thời chọn làm địa điểm huấn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên.
Để đảm bảo bí mật và an toàn, Tỉnh ủy đã chọn một số cơ sở là cư dân thủy diện đảm trách việc bảo vệ và đưa đón cán bộ.
Số cơ sở này chủ yếu là dân vạn đò của làng chài Nghi Xuân.
TRẦN NGUYÊN
Thăm Khu lưu niệm Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, như được trở về mái nhà thân thương nơi làng quê yêu dấu. Những ngôi nhà bình dị nối nhau với liếp cửa mở rộng đón ánh nắng rọi vào góc sâu nhất.
PHẠM HỮU THU
Nhân kỷ niệm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam 22 - 12
“Có những sự thật quá lớn lao của một thời, đến nỗi hậu thế nhìn qua lớp sương mù của thời gian, không thể nào tin nổi” (Nhà văn Phùng Quán).