Người mẫu

10:20 15/10/2008
BERNARD MALAMUDLGT: Bernard Malamud sinh năm 1914 tại Brooklyn, New York, lớn lên trong thời kỳ Đại Khủng hoảng Kinh tế, là người Nga gốc Do Thái trong một gia đình bán tạp hoá. Ông đã xuất bản nhiều tiểu thuyết, truyện ngắn và được nhận nhiều giải thưởng văn học.

Tiểu thuyết “Người thợ đặt máy” của ông được trao giải Pulitzer năm 1967. Tuyển tập truyện ngắn “Cái thùng ma quái” của ông được tặng giải thưởng quốc gia dành cho văn học hư cấu năm 1959. Hai cuốn “Cái thùng ma quái” và “Con người chất phác” của ông đã được người ta dựng thành phim. Ông mất năm 1986.
Xin giới thiệu với bạn đọc truyện ngắn “Người mẫu” dưới đây của nhà văn.  Đây là truyện ngắn hay ở cách chọn tình huống đặc sắc với thủ pháp “nghịch đảo”. Người đi thuê cô người mẫu khoả thân để vẽ tranh “nude” lại không biết vẽ, bất ngờ và bất hạnh là cô người mẫu lại chính là hoạ sĩ. Cô đã phát hiện ra sự giả mạo, bịp bợm. Đến lượt cô lại bắt người thuê cô phải khoả thân và vẽ chân dung đen tối của tâm hồn y. Qua đó, truyện đặt ra vấn đề nghệ thuật/ tiền bạc/ và nhân cách. Đối thoại truyện gọn, nhanh, sinh động làm nổi bật được chất kịch tính của tình huống và tính cách, phô diễn được quan điểm của các nhân vật.
Truyện được kể ở người thứ ba có vẻ như khách quan, nhưng chính ra được trần thuật qua quan điểm, cái nhìn, giọng điệu của ông già Elihu, nên thấm đượm giọng mỉa mai, pha lẫn âm điệu chua xót, cay đắng về nỗi xấu hổ và tuổi già. Tác giả còn sử dụng kỹ thuật điện ảnh với những góc quay đa dạng làm nổi bật ngôn ngữ của cử chỉ, điệu bộ, hành động trong việc miêu tả và làm tăng tốc tiết điệu truyện.

Một sáng sớm hôm nọ, Edhraim Elihu gọi điện cho Liên đoàn Sinh viên Mỹ thuật và hỏi người phụ nữ trả lời điện thoại làm sao ông có thể tìm được một người mẫu nữ có kinh nghiệm để ông có thể vẽ tranh khoả thân. Ông bảo người phụ nữ rằng ông cần một người khoảng 30 tuổi. “Có lẽ bà có thể giúp tôi được chứ?”
“Tôi không nhận ra tên ông”, người phụ nữ trên điện thoại nói, “Trước đây đã có lần nào ông giao dịch với chúng tôi chưa. Một số trong các sinh viên của chúng tôi sẽ làm việc như là người mẫu, nhưng thường thường chỉ dành cho các hoạ sĩ mà chúng tôi quen biết”. Ông Elihu nói ông muốn được hiểu ngầm ông là một hoạ sĩ đã từng theo học tại Liên đoàn. “Ông có xưởng vẽ không?”.
“Đó là một phòng khách lớn với nhiều bóng đèn. Tôi không phải là người trẻ tuổi”, ông nói, “nhưng sau nhiều năm tôi bắt đầu vẽ trở lại và tôi thích làm một vài cuộc nghiên cứu về tranh khoả thân để lấy lại cảm giác của tôi về hình thể. Tôi không phải là một hoạ sĩ chuyên nghiệp, nhưng tôi nghiêm túc về hội hoạ. Nếu bà muốn có bất cứ sự giới thiệu nào liên quan đến các đặc tính của tôi, tôi có thể cung cấp chúng”. Ông hỏi bà thù lao cho người mẫu theo lệ thường là bao nhiêu, và người phụ nữ, sau một lúc ngừng lại, nói, “Sáu đô la một giờ”.

Ông Elihu nói việc ấy là thoả đáng đối với ông nhưng người phụ nữ không muốn nghe ông nói thêm gì nữa. Bà viết tên và địa chỉ của ông và nói bà cho là bà có thể có một người nào đó cho ông vào ngày mốt. Ông cảm ơn sự chu đáo của bà.
Đó là ngày thứ Tư. Người mẫu xuất hiện vào sáng thứ Sáu. Đêm trước cô đã gọi điện, và họ thoả thuận một thời hạn cho cô đến. Vào khoảng sau 9 giờ một chút, cô nhấn chuông cửa của ông, và ông Elihu lập tức đi ra cửa. Ông là một người đàn ông tóc bạc trạc bảy chục tuổi, sống trong một ngôi nhà sang trọng ở gần Đại Lộ Số Chín, và ông phấn khích trước triển vọng được vẽ cô người mẫu trẻ tuổi này.  Người mẫu là một phụ nữ ăn bận giản dị khoảng 27 tuổi và người hoạ sĩ nghĩ rằng cái đẹp nhất của cô là ở đôi mắt. Cô bận một cái áo mưa màu xanh dương, mặc dù hôm nay rõ ràng là một ngày mùa xuân đẹp trời. Ông già hoạ sĩ yêu thích cô nhưng giữ kín điều đó cho riêng mình. Cô chỉ liếc nhìn ông khi cô đi thẳng vào trong phòng.

“Chào”, ông nói, và cô đáp “Chào”.
“Giống như mùa xuân”, ông già nói “Các cây đang mọc lá trở lại”.
“Ông muốn tôi thay đồ ở đâu?”, người mẫu hỏi.
Ông Ehilu hỏi tên cô là gì và cô đáp, “Cô Perry”.
“Cô có thể thay đồ trong phòng tắm, thưa cô Perry, hoặc nếu cô muốn, phòng riêng của tôi ở dưới đại sảnh đang để trống, và cô cũng có thể thay đồ ở đó. Nó ấm cúng hơn là phòng tắm”.
Người mẫu nói đối với cô việc đó chẳng tạo ra sự khác biệt gì, nhưng cô nghĩ cô thích thay đồ trong phòng tắm hơn.
“Cứ làm theo ý cô”, ông già nói.
“Vợ ông có nhà không?”, sau đó cô hỏi, vừa liếc nhìn vào căn phòng.
“Không, rủi thay tôi đã goá vợ”. Ông nói ông cũng đã từng có một đứa con gái nhưng nó đã chết trong một vụ tai nạn.
Người mẫu nói cô rất tiếc. “Tôi sẽ thay đồ và sẽ ra đây trong vài phút nữa”.
“Đừng vội vã gì”, ông Ehilu nói, hài lòng là ông sắp được vẽ cô.

Cô Perry đi vào trong phòng tắm, cởi đồ ở đó, và nhanh chóng quay ra. Cô cởi cái váy bằng vải bông hút nước ra. Đầu và vai cô mảnh khảnh và cô có vóc dáng đẹp. Cô hỏi ông già xem ông muốn cô đứng tạo thế như thế nào. Ông đang đứng cạnh một cái bàn nhà bếp mặt tráng men gần một khuôn cửa sổ lớn. Trên mặt bàn ông đã nặn ra và đang trộn chung lại hai ống sơn nhỏ. Có ba ống sơn khác mà ông không đụng đến. Người mẫu, rít một hơi thuốc lá cuối cùng, dụi nó vào một nắp hộp cà phê trên bàn nhà bếp. “Tôi hy vọng ông không phiền nếu thỉnh thoảng tôi lại hút thuốc chứ?”.
“Tôi không sao nếu cô hút thuốc khi chúng ta giải lao”.
“Ý tôi là như thế”. Cô ngắm ông khi ông chậm rãi trộn màu.
Ông Elihu không trực tiếp nhìn vào cơ thể trần truồng của cô nhưng nói ông thích cô ngồi trên chiếc ghế dựa gần cửa sổ. Họ đang đối diện một sân sau với một cây lá lĩnh lá vừa mới trổ.
“Ông muốn tôi ngồi như thế nào, bắt tréo chân hay không bắt tréo chân?”.
“Tuỳ ý cô muốn để sao cũng được. Bắt tréo hay không bắt tréo chẳng tạo ra nhiều sự khác biệt đối với tôi. Bất cứ điều gì khiến cô cảm thấy dễ chịu là được”.

Người mẫu có vẻ ngạc nhiên ở điều đó, nhưng cô ngồi xuống chiếc ghế dựa màu vàng gần cửa sổ và bắt tréo chân này qua chân kia. Thân hình cô thật đẹp.
“Như vậy có tốt cho ông hay không?”.
Ông Elihu gật đầu. “Tuyệt”, ông nói “Rất tuyệt”.
Ông nhúng cọ vào mớ sơn mà ông đã trộn trên mặt bàn, và sau khi liếc nhìn vào thân hình loã thể của cô người mẫu, bắt đầu vẽ. Ông nhìn cô đoạn mau chóng nhìn qua chỗ khác, làm như thể ông ngại sẽ làm cô bị xúc phạm. Nhưng vẻ mặt ông rất khách quan. Rõ ràng ông vẽ rất lan man, tuỳ tiện, đôi khi lại ngước nhìn cô người mẫu. Ông không thường nhìn vào cô. Có vẻ như cô chẳng để ý đến ông. Một lần cô xoay người để quan sát cây lá lĩnh, và trong thoáng chốc ông nhìn kỹ cô xem thử cô có thể nhìn thấy gì ở nó. Đoạn cô bắt đầu ngắm ông hoạ sĩ với vẻ quan tâm. Cô ngắm đôi mắt ông và cô ngắm hai bàn tay ông. Ông tự hỏi không biết ông có làm điều gì sai trái không. Gần hết một giờ đồng hồ, cô nóng nảy nhổm dậy khỏi chiếc ghế dựa màu vàng.

“Mệt hả?”, ông hỏi.
“Không phải việc đó”, cô nói, “nhưng tôi muốn biết nhân danh Chúa ông nghĩ ông đang làm gì đấy? Tôi thực tình nghĩ ông chẳng biết cái quái gì về hội hoạ cả”.
Cô làm ông kinh ngạc. Ông vội vã phủ bức tranh lại bằng một tấm vải. Sau một lúc lâu, ông Elihu, thở hổn hển, thấm ướt đôi môi khô ráo và nói ông không cho mình còn là một hoạ sĩ nữa. Ông nói ông đã cố gắng để khiến việc đó hoàn toàn rõ ràng với người phụ nữ mà ông tiếp xúc tại trường mỹ thụât khi ông gọi điện thoại đến đó. Đoạn ông nói “Có thể tôi đã sai khi gọi cô đến ngôi nhà này ngày hôm nay. Tôi cho là tôi nên kiểm tra mình thêm một thời gian nữa như thế tôi mới không làm lãng phí thời gian của người khác. Tôi độ rằng tôi chưa sẵn sàng để làm được những gì mà mình ưa thích”.

“Tôi chẳng cần biết ông tự kiểm tra mình trong bao lâu”, cô Perry nói, “Thực tình tôi không nghĩ rằng ông đã vẽ tôi chút nào cả. Thật ra tôi thấy ông chẳng thích thú trong việc vẽ tôi. Tôi nghĩ ông chỉ thích thú khi ông đặt cặp mắt của ông lên khắp cơ thể trần truồng của tôi vì một vài lý do riêng tư nào đó của ông thôi. Tôi không biết các nhu cầu cá nhân của ông là gì, nhưng tôi dám chắc như đinh đóng cột rằng chúng chẳng có đếch gì liên quan đến hội hoạ cả”.
“Tôi nghĩ tôi đã gây ra một sai lầm”.
“Tôi độ rằng ông đã như thế đấy”, cô người mẫu nói. Lúc này cô đã bận váy vào, thắt lưng buộc chặt. “Tôi là một hoạ sĩ”, cô nói,“và tôi là một người mẫu bởi tôi đã sạch tiền rồi, nhưng trông thấy ai tôi cũng biết đó là kẻ giả mạo ngay”.
“Lẽ ra tôi sẽ không cảm thấy khó xử như thế này”. Ông Elihu nói “nếu như tôi lưu ý hơn để cắt nghĩa tình hình một cách rõ ràng cho người phụ nữ ở Liên đoàn Sinh viên Mỹ thuật”.
“Tôi đã rất tiếc đã để cho việc này xảy ra”, ông Elihu khàn khàn nói, “Lẽ ra tôi phải suy nghĩ việc ấy một cách thấu đáo hơn nữa. Tôi đã bảy mươi tuổi. Tôi luôn luôn ưa thích phụ nữ và cảm thấy một nỗi mất mát đáng buồn là tôi không có một người bạn gái đặc biệt nào trong quãng thời gian này của đời tôi. Đó là một trong những lý do mà tôi muốn được vẽ lại, mặc dù tôi không hề tuyên bố rằng tôi có tài năng siêu việt gì. Tôi cũng cho rằng mình đã quên nhiều trong việc vẽ tranh. Không chỉ về việc đó, mà còn vì về cơ thể phụ nữ. Tôi không nhận ra là tôi quá xúc động bởi thân thể của cô, và khi hồi tưởng về quãng đường đời tôi đã đi qua. Tôi hy vọng việc vẽ tranh lại sẽ khơi lại mạch sống cho tôi. Tôi lấy làm tiếc đã làm cô buồn lòng và đã gây rắc rối phiền toái cho cô”.
“Tôi được trả công cho sự buồn lòng của mình mà”, Cô Perry nói, “nhưng những gì ông không thể trả cho tôi là nỗi ô nhục phải đến đây và cam chịu để cho đôi mắt ông trườn lướt trên cơ thể tôi”.
“Tôi không có ý định muốn làm nhục cô đâu”.
“Đó là điều mà tôi lại cảm thấy”.
Đoạn cô yêu cầu ông Elihu cởi đồ ra.
“Tôi à?” ông ngạc nhiên nói “Để làm gì?”
“Tôi muốn phác hoạ ông. Cởi quần áo của ông ra đi”.

Ông nói ít khi ông cởi bỏ đồ lót mùa đông của mình, nhưng cô chẳng thèm mỉm cười. Ông Elihu cởi quần và xấu hổ vì ông chắc là đáng chán trước mắt cô.
Với những nét cọ nhanh nhẹn cô phác hoạ cơ thể ông. Ông không phải là người đàn ông xấu trai, nhưng lại cảm thấy bực mình. Khi cô đã hoàn thành bức phác hoạ, cô nhúng cây cọ của ông vào một cái ô màu đen mà cô đã nặn ra từ một ống sơn và bôi bẩn hình thể của ông đi, để lại một mớ đen thùi.
Ông ngắm nhìn cô trút sự bực tức ra nhưng không nói gì. Cô Perry ném cây cọ vào sọt rác và quay lại phòng tắm thay đồ.
Ông già viết một tờ ngân phiếu cho cô theo số tiền mà họ đã thoả thuận. Ông xấu hổ khi ký tên mình vào, nhưng ông phải ký và trao nó cho cô. Cô Perry nhét tờ ngân phiếu vào cái xắc tay lớn của cô và ra về.

Ông nghĩ cứ theo phong cách của cô thì cô không phải là một phụ nữ xấu, mặc dù cô thiếu sự duyên dáng. Sau đó ông già tự nhủ, “Bây giờ đời mình chẳng còn gì hơn nữa à? Đó là tất cả những gì còn lại cho mình sao nhỉ?”.
Câu trả lời dường như là đúng, và ông khóc cho tuổi già của mình sao lại đến nhanh như thế. Sau đó ông lấy tấm khăn ra khỏi bức tranh vải và cố gắng điền khuôn mặt cô vào đó, nhưng ông đã quên mất rồi.
                                                                          
VĨNH HIỀN dịch
                                                                             (Theo nguyên bản tiếng Anh)

(nguồn: TCSH số 222 - 08 - 2007)

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • SORBON (Tajikistan)Sorbon sinh năm 1940 tại làng Amondar  trong một gia đình nông dân  thuộc  tập đoàn sản  xuất nông nghiệp. Năm 1963 ông tốt nghiệp Đại học Lenin của Tajikistan với bằng tiến sĩ ngôn ngữ học. Các tác phẩm của Sorbon xuất hiện lần đầu vào năm 1965. Tuyển tập truyện ngắn đầu tiên của ông “Không phải tất cả đã được nói ra” xuất bản năm 1969. Nhiều truyện ngắn của ông mau chóng được thu thập lại, trong đó có truyện “Ngày đầu tiên đến trường” nói về một phụ nữ Tajikistan  trong Thế chiến thứ Hai, “Sự phòng thủ của đá” và “Người du mục” nói về sự thiết lập chính quyền Xô Viết tại ngôi làng ven sông Zeravshan, và “Áo khoác đồ sộ” nói về một cậu bé bị mất cha trong chiến tranh. Sorbon là nhà văn có tiếng tăm lớn của nền văn xuôi Tajikistan ở thập niên bảy mươi. Truyện ngắn “Người đánh bẫy chim” được viết năm 1974.

  • MISHIMA YUKIO (Nhật Bản)Nhà văn Nhật Bản Mishima Yukio (1925 - 1970) bắt đầu in các tác phẩm của mình từ những năm 20 tuổi. Ông được tặng nhiều giải thưởng văn học và ba lần được đề cử vào giải Nobel văn chương.

  • PAUXTÔPXKIChúng ta yêu mến thứ ánh sáng bảo hiểm của những ngọn hải đăng nhưng ít khi nhìn thẳng vào nó. Thường chỉ có những người bảo vệ và các tay lái tàu dán mắt vào hải đăng để kiểm tra bí mật độ loé sáng của nó. Bởi vì tất cả hải đăng trên biển đều nháy và nhấp nhánh khác nhau, theo những tín hiệu đó, người ta có thể biết được hải đăng nào và con tàu đang ở đâu.

  • SLAWOMIR MROZEK (Ba Lan)(Lê Bá Thự dịch từ nguyên bản tiếng Ba Lan)

  • ALPHONSE DAUDETSự kiện phản ánh trong truyện xảy ra năm 1871, thời kỳ chiến tranh Pháp - Phổ, khi quân đội Phổ (Đức) đã chiếm đóng và sáp nhập hai tỉnh Alsace và Lorraine của Pháp vào lãnh thổ Đức.

  • DOMINIQUE DE VILLEPINTác giả Dominique de Villepin, sinh năm 1953, đương kim Bộ trưởng Ngoại giao Pháp, là người phát ngôn cho chính sách hòa bình đối lập với đường lối chiến tranh Bush-Blair trong vụ tập kích Irak đầu năm 2003. Nơi đầu sóng ngọn gió của bang giao quốc tế, ông đã đồng thời cho xuất bản một khảo luận về Thơ, Ngợi ca những Người Cướp Lửa, tượng trưng cho Người Làm Thơ, qua hình ảnh mượn của Arthur Rimbaud, lấy từ huyền thoại Prométhée.

  • MARK TWAINTwain, Mark, (Samuel Langhorne Clemens), nhà văn Mỹ, (1835-1910). Sinh tại Florida, bang Missouri. Là con thứ tư trong một gia đình thương nhân nghèo. Chưa đầy 12 tuổi, Clemens đã phải thôi học để học nghề sắp chữ in, rồi làm đủ nghề. Năm 1853, bị thôi thúc bởi ý muốn tìm hiểu thế giới, lên đường đi nhiều nơi, làm thợ in công nhật ở St. Louis, New York và Philadelphia. Đến sông Mississipi, hành trình dự kiến đi Brazil bị đình lại vì Clemens lại mơ ước trở thành hoa tiêu trên sông.

  • HARUKI MURAKAMI (Nhật Bản)Chàng và nàng đang đi trên một con đường. Dọc bãi tha ma. Lúc nửa đêm. Sương mờ vây phủ. Họ tuyệt nhiên không định đi ở nơi chốn này vào lúc này. Nhưng vì các nguyên do khác nhau họ đã buộc phải đi. Họ bước vội vàng, nắm chặt tay nhau.

  • GRAHAM GREENE (Anh)Có tám người đàn ông Nhật đang ăn bữa tối ở nhà hàng cá nổi tiếng Bentley's. Họ chỉ trao đổi với nhau dăm ba câu bằng thứ tiếng mẹ đẻ khó hiểu của họ, nhưng luôn có nụ cười nhã nhặn và thường mỗi câu lại kèm một cử chỉ cúi đầu lịch thiệp. Tất cả tám người, trừ có một, đều đeo kính. Thỉnh thoảng cô gái xinh đẹp ngồi phía cửa sổ lại đưa một cái nhìn lướt qua họ, nhưng xem ra chuyện của cô ta quá quan trọng, khiến cô ta không thể thực sự chú ý tới bất kỳ ai trên đời ngoài chính mình và người ngồi cùng bàn.

  • VICTORIA CHIE (ÚC)Cảm giác xấu hổ như kẻ đang làm điều mờ ám, Anne Peterson đặt bút run run ghi tên mình vào phần trống trong bản tự giới thiệu của văn phòng môi giới hôn nhân. Chẳng lẽ lại đến nông nổi này sao? 49 tuổi, trông còn rất trẻ, duyên dáng, đầy sức sống, thành đạt, vật chất đầy đủ, đã ly dị, thế mà phải nhờ môi giới kiếm cho một tấm chồng. Mà anh ta là ai, cũng là một kẻ nào đấy tìm đến đây với những dòng tự giới thiệu cứng nhắc. Thôi, đành vậy chứ biết sao, chỉ vì quá yêu con gái Cindy mà Anne đã phải chịu đựng nỗi trống trải cô đơn ròng rã suốt bao năm trời.

  • NGÔ KIM LƯƠNG (Trung Quốc)"Nếu còn gặp người, nhất định phải nói", Trần Tĩnh đang nghĩ, ngước mắt lên nhìn ánh đèn vàng vọt trong ngõ nhỏ. Đêm khuya rồi, khắp nơi là hình ảnh kỳ quái của một màn đêm đen kịt. "Ai cha! Chiếc xe đạp xui xẻo này!" - Cô đẩy chiếc xe, không biết phải nói thế nào.Sau lưng vang lên một hồi chuông xe đạp, Trần Tĩnh "ai cha" một tiếng, chàng trai cưỡi xe đạp đã lướt vèo qua rồi.

  • S.MROZEKCó một lần tôi đi du lịch.Vì không có tàu trực tiếp đến nơi tôi cần tới nên tôi phải xuống một ga dọc đường để chuyển sang tàu khác.Hôm đó là một buổi tối. Mãi sáng hôm sau con tàu tiếp theo tôi sẽ phải đi mới đến.Tôi rời nhà ga, vào thị trấn để kiếm nơi ở trọ.

  • JOYCE BEGG (Úc)Bà Firbank trở thành hàng xóm của chúng tôi đã lâu, dễ đến sáu bảy năm nay, nhưng thật sự trong chúng tôi chẳng ai dám khẳng định mình biết rõ về người đàn bà này. Xung quanh bà ta lúc nào cũng bao phủ một bầu không khí bí hiểm, ma quái, ngay cả toà dinh thự cổ của bà ta cũng gợi cho người ta cái vẻ rờn rợn, lạnh lẽo giống như nơi trú ẩn của những linh hồn cõi âm.

  • KRISHNAN VARMAKrishnan Varma sinh ở Kerala, Ấn Độ. Ông viết bằng hai thứ tiếng Anh và Malayalam. Trong nhiều tác phẩm của mình, ông chia sẻ sự quan sát đối với cuộc sống của lớp người cùng khổ trên đất nước ông.

  • ARTURO VIVANTELời giới thiệu: Nhà văn Arturo Vivante sinh năm 1923 ở Rome, tốt nghiệp cử nhân đại học McGill, Canada, 1945, tốt nghiệp y khoa đại học Rome, 1949. Ông hành nghề bác sĩ toàn khoa, đồng thời sinh hoạt và nghiên cứu về văn chương ở một số trường đại học Mỹ. Vivante là nhà văn rất nổi tiếng với các truyện cực ngắn và các giai thoại.

  • KÔNXTANTIN PAUXTÔPXKI Mùa Thu. Những hạt sương mai tháng Chín lạnh giá, mọng nước rơi tung tóe từ những tán lá trên cao xuống và bắn cả vào người tôi. Sương từ các nhành cây nhỏ giọt xuống mặt nước sông đen thẫm, tạo thành những vòng tròn và chậm rãi lan ra xung quanh.

  • LTS: Mario Bendetti sinh tại Paso de los Toros (Tacuarembó ) ngày 14 tháng 9 năm 1920. Ông theo học tại trường tiểu học tiếng Đức ở Montevideo và trường trung học Miranda, đã từng làm nhiều nghề như nhân viên bán hàng, tốc kí, kế toán, viên chức nhà nước và phóng viên. Từ năm 1938 đến 1941 ông sống chủ yếu ở Buenos Aires . Năm 1945, khi trở về Montevideo, ông viết bài cho tuần báo nổi tiếng Marcha, qua đó trở thành phóng viên bên cạnh Carlos Quijano và rồi trở thành một thành viên trong ê-kíp của ông này cho tới tận năm 1974 khi tuần báo ngừng xuất bản.Năm 1973, vì lí do chính trị, ông phải rời bỏ tổ quốc,bắt đầu cuộc sống lưu vong kéo dài mười hai năm ở những quốc gia: Ác-hen-ti- na và Tây Ban Nha. Quãng thời gian này đã để lại những dấu ấn vô cùng sâu sắc trong cuộc đời ông cũng như trong văn nghiệp.

  • YUKIO MISHIMA (Nhật Bản)YUKIO MISHIMA tên thật là HIRAOKA KIMITAKE (1925-1970). Sinh tại Tokyo.Tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Tokyo . Nhà văn, kịch tác gia, đạo diễn sân khấu và điện ảnh, diễn viên.Năm 16 tuổi đã xuất bản truyện vừa lãng mạn Khu rừng nở hoa. Tiểu thuyết Lời thú tội của chiếc mặt nạ ra năm 1949 đã khẳng định tên tuổi của nhà văn trẻ tài năng và trở thành tác phẩm được đánh giá là kinh điển của nền văn học Nhật Bản.

  • KOMASHU SAKIO (Nhật Bản)Sinh 28/1/1931 tại Osaka (Nhật Bản). Nhà văn chuyên viết truyện khoa học giả tưởng nổi tiếng của Nhật Bản.Tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Kyoto , chuyên ngành Văn học Italia.Từ năm 1957 là phóng viên Đài Phát thanh Osaka và viết cho một số các báo. Năm 1961 chiến thắng trong cuộc thi truyện ngắn giả tưởng xuất sắc do tạp chí "SF Magasines" tổ chức.Tác phẩm của Komatsu đã được dịch ra rất nhiều thứ tiếng trên thế giới.

  • S. MROZEK (Ba Lan)Có lần tôi bắt gặp một con chó ác bụng đang rượt đuổi một con mèo. Bởi tôi là người yêu động vật nên tôi bèn vớ ngay một cục đá to sụ quẳng vào con chó khiến nó ngã lăn quay, nằm đứ đừ một hồi lâu. Chú mèo nhỏ không nhà, con vật bé xíu nom mệt phờ râu. Không chút do dự - tôi cho nó nương nhờ. Đây quả là một con mèo đẹp mã, lông mịn màng, mắt long lanh. Tôi đem nhốt nó vào trong nhà, đoạn bỏ đi chơi bời trác táng.