Người đánh bẫy chim

10:36 30/06/2009
SORBON (Tajikistan)Sorbon sinh năm 1940 tại làng Amondar  trong một gia đình nông dân  thuộc  tập đoàn sản  xuất nông nghiệp. Năm 1963 ông tốt nghiệp Đại học Lenin của Tajikistan với bằng tiến sĩ ngôn ngữ học. Các tác phẩm của Sorbon xuất hiện lần đầu vào năm 1965. Tuyển tập truyện ngắn đầu tiên của ông “Không phải tất cả đã được nói ra” xuất bản năm 1969. Nhiều truyện ngắn của ông mau chóng được thu thập lại, trong đó có truyện “Ngày đầu tiên đến trường” nói về một phụ nữ Tajikistan  trong Thế chiến thứ Hai, “Sự phòng thủ của đá” và “Người du mục” nói về sự thiết lập chính quyền Xô Viết tại ngôi làng ven sông Zeravshan, và “Áo khoác đồ sộ” nói về một cậu bé bị mất cha trong chiến tranh. Sorbon là nhà văn có tiếng tăm lớn của nền văn xuôi Tajikistan ở thập niên bảy mươi. Truyện ngắn “Người đánh bẫy chim” được viết năm 1974.

Chim đa đa

Thời điểm mong đợi lâu nay đã đến: Bầy chim non đang ra khỏi tổ. Dưới cặp mắt canh chừng của cha mẹ chúng, bầy chim con bắt đầu vỗ cánh. Anh đã leo cao lên núi, bắt những con chim bé tí, đem chúng về nhà và bỏ vào lồng. Anh là một người bẫy chim thực thụ, nhưng chỉ săn chim đa đa. Anh đặc biệt yêu thích những con chim này không những vì sự dễ chế ngự của chúng mà còn vì bộ lông đẹp đẽ và tiếng hót dễ thương của chúng.

Vào thời điểm này của năm, sân của anh được tập hợp lại như một cái chợ chim. Có những dãy lồng với những con chim mỏ đỏ. Trong tâm trạng mãn nguyện, anh sẽ đi vòng quanh, cẩn thận trông nom chúng. Anh sẽ bắt những con cào cào cho chúng từ những sườn đồi xanh cỏ. Ngay sau khi anh thả những con côn trùng vào trong lồng những con đa đa con sẽ hả họng ra, mỗi con, bụng đói, đều hy vọng được cho mình một món mồi ngon lành. Những con may mắn đã đớp được một miếng mồi lớn sẽ ngoạc đầu ra sau, bướng bỉnh, không chịu chia sẻ phần thưởng của nó cho những con khác. Đàn chim con mỗi ngày mỗi lớn, thường gây gổ đánh nhau. Chúng quá lớn, do đó quá chật chội để nhốt chúng trong lồng. Sau đó người đánh bẫy chim phải đưa những con mạnh nhất vào những cái lồng riêng. Những con ốm yếu anh sẽ cho bà con và bạn bè. Người đánh bẫy chim đặc biệt thương yêu một con đa đa hết sức dũng cảm với những cái cựa và đôi chân ngắn, mạnh mẽ như của một con đại bàng. Thân hình rắn chắc của nó khiến người đánh bẫy chim nhớ đến một hòn đá bóng láng dưới sông. Đây là một con chim đa đa hoàn hảo, một con chim sẽ chiến đấu đến cùng. Khi nó mệt, nó sẽ hả mỏ lớn ra và thở nặng nề cho đến khi chủ nó đuổi nó vào lồng trở lại. Beau - Đẹp, như tên người đánh bẫy chim đặt cho nó một cách đầy thương yêu và không hàm ý mỉa mai, có thể hót suốt ngày. Nhưng làm sao anh có thể đóng vai chim mồi một mình trong cuộc đi săn được chứ? Người đánh bẫy chim bắt đầu đặt những cái bẫy của mình một tuần lễ trước mùa lễ năm mới của đạo Hồi, chào mừng tiết Xuân phân. Anh sẽ tiến lên đồi cho đến tối với một con chim đa đa trong một cái lồng buộc sau lưng anh, gấu áo dài gấp lại dưới nịt, một cuộn dây làm bẫy, một con dao và một mớ móc gỗ trong tay. Vào lúc sáng sớm, anh sẽ bắt đầu đặt bẫy. Đầu tiên anh chọn một chỗ cho cái lồng, đoạn nhét một cái móc vào khoảng đất gần đó. Anh sẽ buộc một đầu cuộn dây bẫy vào cái móc và tháo toàn bộ cuộn dây ra từng khoảnh, gút thành từng vòng thòng lọng tới khoảng đất có gắn móc. Khi bẫy đã đặt xong, nó tạo thành một vòng tròn lớn. Những cái nút thòng lọng màu xanh đặt nhẹ trên cỏ và bụi cây thấp. Người đánh bẫy chim ngụy trang cho lồng chim đa đa đứng giữa những cái bẫy, đoạn ẩn nấp trong bụi rậm. Nếu con chim đa đa mồi im lặng, người đánh bẫy chim sẽ khuyến khích nó: “Hãy hót một bài cho ta, hỡi con chim mồi nhỏ bé của ta ơi! Mọi thứ đã sẵn sàng, do đó bây giờ mi có thể gọi bạn bè mi tới. Hãy hót một bài vui vẻ đi! Hãy sinh động đi nào!”

Mất kiên nhẫn vì mong đợi, anh sẽ uốn lưỡi trong vòm miệng và bắt chước tiếng kêu của một con đa đa mái. Hoặc, đánh nhẹ đầu chóp lưỡi qua trái, anh có thể bắt chước một con trống. Con chim mồi trong lồng sẽ hồi đáp và tuôn ra một bài ca thân hữu. Nhưng lần này, anh đã làm hơi hấp tấp. Người đánh bẫy chim đã làm bắn bùn lên Beau khiến nó ngưng hót. Sau một lúc, từ một khe núi ở xa xa vang lên giọng kêu của một con chim đa đa. Có một tiếng trả lời rõ ràng ở một nơi nào đó bên dưới và bên phải gần một con sông đang chảy xiết. Một con chim khác ở nơi nào đó quanh đây. Mặt trời  đang vượt qua các đỉnh núi, và cùng với nó, trỗi dậy tiếng kêu của những con chim, hòa thành một bản hợp xướng giao hưởng giao phối vui vẻ. Những con chim mái sẽ rùng rùng chạy về phía những con chim trống, kêu tíc tíc om sòm, đến nỗi tiếng dội lại nghe thấy được ở đàng xa. Đôi khi người đánh bẫy chim thấy một con mái chạy đến đáp lời gọi của Beau, quên mọi thứ khác và bỏ mặc nguy hiểm. Con chim mái sẽ bị một trong những cái bẫy tóm được và bắt đầu  hoảng hốt đập cánh. Sau đó người đánh bẫy chim sẽ bò ra khỏi chỗ ẩn nấp, đầu tiên ho một cái để không làm Beau sợ, giải phóng cho tù nhân số phận rủi ro khỏi cái móc, và nhét con chim vào trong áo sơ mi của mình. Anh sẽ đặt bẫy lại và tiếp tục ẩn nấp.

Nhưng khi đến thời kỳ sinh sản, người đánh bẫy chim sẽ lấy một con chim mái làm mồi, vào thời gian này trong năm, những con trống kích động và hiếu chiến một cách khác thường. Chúng sẽ chạy về phía có tiếng kêu mời gọi, với những cái đầu cúi thấp và trên cổ run rẩy những sợi lông xù ra. Đôi mắt chúng sẽ ngơ ngác và mờ mịt. Vào các thời kỳ ấy, tất cả những gì mà anh có thể làm là giữ cho các bẫy không bị rối. Với việc như thế thì người đánh bẫy chim thích đi với Beau hơn. Nó có thể nhử vào bẫy ngay cả với những con chim cảnh giác nhất. Vào mùa đông, người đánh bẫy chim sẽ nuôi Beau bằng nho khô, đậu hầm và trái hồ đào nghiền nát và cho nó uống nước sạch. Khi mùa xuân đến, anh sẽ lên núi kiếm những loại cây cỏ làm đồ ăn cho chim đa đa. Anh sẽ bắt nhện cho Beau, và gom nhặt hoa thủy tiên và rễ cây bồ công anh cho mình trên các sườn đồi. Thậm chí anh còn làm cho mình một cái băng cassette cho bài hát của “cục cưng” của anh. Anh đặc biệt thích cái đoạn Beau kêu như một con gà, mà anh thu âm để làm vui bà con thân tộc. Bất cứ khi nào khách khứa đến thăm, người đánh bẫy chim sẽ lẳng lặng mở máy cassette và nhà anh sẽ tràn ngập tiếng kêu của chim đa đa.

Mùa kế tiếp, đã dạy cho Beau không sợ tiếng súng, người đi săn không còn bận tâm đến việc đặt bẫy nữa. Anh là một kẻ hơi kỳ quặc và đôi khi anh đem xuống những mẫu hàng có hai cựa hiếm hoi trong bầy chim của mình.

Một ngày nọ, người đánh bẫy chim treo cái lồng của Beau trên một cành cây đỗ tùng và đi ẩn nấp trong hốc cây gần đó. Sau một đêm mưa, bầu trời trong trẻo, nhưng vẫn còn những hạt nước trên cành nhỏ xuống. Nghiêng đầu qua một bên, Beau lắng nghe trong một lúc, đoạn mổ vào cái lon rỗng và bắt đầu lặng lẽ hót. Anh được trả lời ngay lập tức. Một con chim mái mập béo bay lên và đáp xuống trên một tảng đá... Người đi săn nhắm bắn nhưng con chim vẫn còn quá xa. Beau đang hót một cách say sưa, nhảy lên nhảy xuống trong lồng. Có vẻ như thể mọi cành cây và buổi sáng này cùng rộ lên ca hát. Con chim mái đáp đến gần hơn nhưng bị che khuất bởi một bụi hoa hồng dại. Thình lình một phát súng vang lên. Con chim mái bay mất, và người thợ săn sửng sốt ngó cây súng của mình. Đoạn anh kinh hoàng nhìn con Beau đầy máu me điên cuồng đập đôi cánh trong lồng. Anh chạy về phía con chim mồi của mình, nhưng anh bỗng nghe có ai đó đang đi ngang qua những đám bụi rậm. Anh từ từ giương súng lên nhắm vào đầu của người lạ mặt đang tiến đến. Nhưng tay anh run rẩy và nòng súng anh nhấc lên. Một phát súng nổ, và người lạ mặt đứng khựng lại bên những cái bẫy của anh, kêu lên: “Quỷ bắt anh đi!” người đánh bẫy chim giận dữ quát, từ đám bụi rậm chạy ra. “Anh có mất trí không đấy?”

Người đàn ông đã bắn Beau kéo lê chân một cách khó khăn:”A, phải, anh biết đấy... Tôi không thấy cái lồng”. “Có vấn đề quái quỷ gì với anh hả? Anh mù hay sao?” “Không thể nhìn thấy sợi dây của cái lồng ở quãng cách xa như thế”. Kẻ thiện xạ ngẫu nhiên nói một cách biện bạch, “Tôi sẽ cho anh một con chim đa đa khác không tệ hơn con này đâu”. “Xuống địa ngục với những con chim đa đa  của anh đi! Không có con chim trống nào như con này ở bất cứ nơi nào cả…”.

Người đánh bẫy chim tháo cái lồng trên cành cây, mở lồng và nhẹ nhàng bế Beau ra. Thân hình con chim trống trở nên lạnh cứng. Anh giữ con chim trong lòng bàn tay, vuốt ve nó một cách buồn bã. Thình lình anh ném một cách dữ dội con chim đa đa đã chết xuống chân người lạ mặt. “Đây, lấy chiến lợi phẩm của ông đi!” “Không, tôi thực sự không thể. Thậm chí tôi cũng không thể nghĩ đến việc ấy nữa... Tôi thề đấy!” Nhưng người đi săn chỉ ném cái lồng vào trong bụi rậm và chậm chạp đi về phía ngôi làng. Đó là lần đầu tiên anh đi về tay không.            

Anh về nhà và mở máy cassette. Một lần nữa  anh lại nghe Beau hót, khiến tim anh như trĩu xuống. Lệ tuôn xuống mặt người đánh bẫy chim. Anh buồn thương than tiếc trong bảy ngày. Sau đó lấy máy cassette và trực chỉ lên núi, đặt máy cassette xuống và mở máy. Con Beau thương yêu của anh lại bắt đầu hót bài ca bất tận của anh. Nhưng ở những đoạn ngưng nghỉ, bao trùm một sự im lặng khủng khiếp.

VĨNH HIỀN dịch
(Dịch theo bản tiếng Anh
của nhà xuất bản Raguda,
Tajikistan, 1984)
(243/05-09)

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • BỒ TÙNG LINHLang Mỗ quê ở Bành Thành, con nhà học thức. Ngày nhỏ đã được nghe cha nói đến các sách quý và các sách khác trong nước, lại thường được nghe cha luận bàn với các bạn bè của ông về các loại sách và các nhà thơ cổ đại.

  • AZIt NêxinNgày xưa, nhà vua ở một nước nọ có một kho bạc. Nghe đồn rằng trong kho bạc của nhà vua cất giữ một báu vật vô giá duy nhất của nước đó. Mọi người đều tự hào về báu vật mà tổ tiên đã để lại cho họ. “Mặc dầu chúng ta chẳng có gì cả, nhưng tổ tiên đã để cho chúng ta giữ một vật quý”, họ thường tự hào như vậy mà quên đi cảnh túng thiếu của mình.

  • AZIT NÊXIN (1915 - 1995)Một con chó chạy xồng xộc vào tòa báo "Tin tức đô thành”.

  • Nhà văn Mỹ Carson Mc Cullers sinh 1917. Các tác phẩm chính của bà là: Trái tim là kẻ đi săn cô độc (1940), Thành viên của đám cưới (1946), Khúc ballad của quán cà phê buồn (1951), Ngọt như dưa chua và sạch như heo (1954)…

  • Kamala Das tên thật là Kamala Suraiyya, sinh ngày 31.3.1934 tại Punnayurkulam, quận Thrissur, thành phố Kerala, vùng tây nam Ấn Độ. Bà là nhà văn nữ nổi tiếng của Ấn Độ. Bà sáng tác truyện ngắn bằng tiếng Malayalam. Bà sáng tác thơ và tiểu thuyết ngắn bằng tiếng Anh. Bà chủ yếu nổi tiếng trong thể loại truyện ngắn. Trong sự nghiệp sáng tác, bà đã có nhiều giải thưởng văn học, trong số đó là: Asian Poetry Prize, Kent Award for English Writing from Asian Countries, Asan World Prize, Ezhuthachan Award và một số giải thưởng khác nữa. Ngày 31 tháng Năm, 2009, bà mất tại bệnh viện thành phố Pune, Ấn Độ, thọ 75 tuổi.

  • HERTA MULLERHerta Mueller vừa được trao giải Nobel văn học 2009 vì đã mô tả cảnh tượng mất quyền sở hữu bằng một lối thơ cô đọng và một lối văn thẳng thắn. Truyện ngắn này rút từ tập truyện Nadirs (1982) là tác phẩm đầu tay của bà.

  • SHERMAN ALEXIENgay sau khi mất việc ở văn phòng giao dịch của người Anh điêng, Victor mới biết cha anh đã qua đời vì một cơn đau tim ở Phoenix, Arizoan. Đã mấy năm nay Victor không gặp cha, anh chỉ nói chuyện với ông qua điện thoại một hay hai lần gì đó, nhưng đó là một căn bệnh di truyền, có thực và xảy ra đột ngột như xương bị gãy vậy.

  • KOMATSU SAKYOKomatsu Sakyo sinh tại Osaka (Nhật Bản) (28/1/1931). Nhà văn chuyên viết  truyện khoa học giả tưởng nổi tiếng của Nhật Bản. Tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Kyoto, chuyên ngành Văn học Italia. Từ năm 1957 là phóng viên đài phát thanh Osaka và viết cho một số báo. Năm 1961 chiến thắng trong cuộc thi truyện ngắn giả tưởng xuất sắc do tạp chí “SF Magasines” tổ chức. Tác phẩm của Komatsu đã được dịch ra rất nhiều thứ tiếng trên thế giới. Có bốn tiểu thuyết đã được dựng thành phim.

  • FRANK R- STOCKTONCách đây năm năm, một sự kiện kì lạ đã xảy đến với tôi. Cái biến cố này làm thay đổi cả cuộc đời tôi, cho nên tôi quyết định viết lại nó. mong rằng nó sẽ là bài học bổ ích cho những người lâm vào tình cảnh giống tôi.

  • MIKHAIN SÔLÔKHỐP                Truyện ngắn Mùa xuân thanh bình đầu tiên đã về lại trên sông Đông sau những năm tháng chiến tranh. Vào cuối tháng Ba, những cơn gió ấm áp cũng đã thổi đến, và chỉ sau hai ngày tuyết cũng đã bắt đầu tan trên đôi bờ sông Đông. Khắp mọi ngả đường việc đi lại cũng vô cùng khó khăn.

  • KAHLIL GIBRANNguồn: A Treasury of Kahlil Gibran (Một kho tàng của Kahlil Gibran), Anthony Rizcallah Ferrris dịch từ tiếng Arập, Martin L. Wolf biên tập, Nxb Citadel Press, New York, HK, 1951.

  • ROBERT ZACKS (ANH)Nhân ngày quốc tế phụ nữ, tôi và anh tôi bàn nhau mua quà tặng mẹ. Đây là lần đầu tiên trong đời chúng tôi thực hiện điều này.

  • GUY DE MAUPASSANTÔng Marrande, người nổi tiếng và lỗi lạc nhất trong các bác sĩ tâm thần, đã mời ba đồng nghiệp cùng bốn nhà bác học nghiên cứu khoa học tự nhiên đến thăm và chứng kiến, trong vòng một giờ đồng hồ, một trong những bệnh nhân tại nhà điều trị do ông lãnh đạo.

  • GUY DE MAUPASSANTGia đình Creightons rất tự hào về cậu con trai của họ, Frank. Khi Frank học đại học xa nhà, họ rất nhớ anh ấy. Nhưng rồi anh ấy gửi thư về, và rồi cuối tuần họ lại được gặp nhau.

  • JAMAICA KINCAIDNhà văn hậu hiện đại Anh J. Kincaid sinh năm 1949. Mười sáu tuổi, bà đến New York làm quản gia và giữ trẻ. Bà tự học là chính. Tuyển tập truyện ngắn đầu tiên của bà: “Giữa dòng sông” (1984) nhận được giải thưởng của viện hàn lâm Văn chương và Nghệ thuật Mỹ; còn các tiểu thuyết “Annie” (1985), “Lucky” (1990) được đánh giá cao.

  • SAM GREENLEE (MỸ)Sam Greenlee sinh tại Chicago, nổi tiếng với thể loại tiểu thuyết.Ông cũng đóng góp nhiều truyện ngắn, bài báo trong “Thế giới da màu” (Black World); và xem như là bộ phận không thể tách rời trong văn nghiệp, bởi ông là nhà văn da màu. Tuy nhiều truyện ngắn của ông vẫn được thể hiện theo lối truyền thống, nghĩa là vào cửa nào ra cửa ấy; nhưng cái cách mở rộng câu chuyện ở giữa truyện, bằng lối kể gần gũi nhiều kinh nghiệm; đã gây được sự thú vị. Đọc “Sonny không buồn” qua bản dịch, dĩ nhiên, khó thấy được cái hay trong lối kể, bởi nếp nghĩ và văn hoá rất khác nhau; nhiều từ-câu-đoạn không tìm được sự tương đương trong tiếng Việt. Cho nên đọc truyện này, chỉ có thể dừng lại ở mức, cùng theo dõi những diễn tiến bên ngoài cũng như sự tưởng tượng bên trong của Sonny về môn bóng rổ, cả hai như một và được kể cùng một lúc.

  • DƯƠNG UÝ NHIÊN (Trung Quốc)Tôi không thể thay đổi được thói quen gần gũi với cô ấy nên đành trốn chạy ra nước ngoài. Tôi đã gặp được em. Khi đăng tác phẩm “Không thể chia lìa” trên một tạp chí xa tít tắp và dùng bút danh, tôi cho rằng mình không một chút sơ hở. Tôi nhận tiền nhuận bút và mua hai chai rượu quý nồng độ cao trên đường trở về. Tôi muốn nói với em điều gì đó nhân kỷ niệm ngày cưới.

  • S. MROZEK (Ba Lan)Tại thủ đô của một vương quốc nọ có một viện bảo tàng, trong đó có khu trưng bày về nền nghệ thuật phương Đông. Trong vô số các hiện vật trưng bày tại khu này có nhiều báu vật cực hiếm, giá trị văn hoá và giá trị bằng tiền của chúng vô cùng lớn. Trong số các vật hiếm này có một báu vật đầu bảng, bởi đó là bản duy nhất thuộc loại đó và cũng là bản duy nhất trên toàn cầu. Vì là hiện vật cực hiếm nên giá trị văn hoá của nó là độc nhất vô nhị, còn giá trị bằng tiền thời không tính xuể.

  • WILLIAM SAROYAN (Mỹ)Cả thế giới muốn tôi làm một chầu hớt tóc. Cái đầu tôi thì quá bự cho thế giới. Quá nhiều tóc đen, thế giới nói thế. Mọi người đều nói, khi nào thì mày định đi làm một chầu hớt tóc vậy hả nhóc kia?

  • SOMERSET MAUGHAM (ANH)Trang trại nằm giữa thung lũng, giữa những mỏm đồi ở Sômôsetsi. Ngôi nhà xây bằng đá theo mốt cũ được bao bọc bởi những kho củi, sân nhốt súc vật và những công trình bằng gỗ khác. Thời điểm xây dựng được chạm trổ trên cổng bằng những chữ số cổ đẹp đẽ: 1673.