LTS: Bạn đọc cả nước biết đến Trần Vàng Sao từ thời chống Mỹ những năm 70 qua tác phẩm khá nổi tiếng: "Bài thơ của người yêu nước mình".
Chân dung tự họa của Trần Vàng Sao
Bẵng đi một thời gian khá lâu, không thấy thơ Trần Vàng Sao xuất hiện. Anh vẫn viết, nhưng vì một lẽ nào đó - có thể là do cái khuynh hướng đơn giản một chiều trong văn nghệ đang thịnh hành, hoặc anh chưa tìm được bạn tri âm… - nên anh không gửi in. Cho đến Sông Hương số 12 - số kỷ niệm 10 năm Huế giải phóng, mạch thơ Trần Vàng Sao cũng được "giải phóng". Anh có bài đăng liền các số 12, 16, 19, 23, 29 và được Sông Hương tặng thưởng về thơ hay năm 1985. 5 năm Sông Hương, 5 lần thơ Trần Vàng Sao xuất hiện, không nhiều, nhưng giọng điệu thơ của anh không lẫn với bất cứ ai. Điều ấy, không phải tác giả nào cũng đạt được. Xin giới thiệu một tác phẩm mới của anh.
TRẦN VÀNG SAO
Người đàn ông bốn mươi ba tuổi nói về mình
1. Tôi tuổi tý
Năm nay bốn mươi ba tuổi
Thường không có một đồng trong túi
Buổi sáng buổi chiều
Thứ hai thứ ba thứ bảy chủ nhật
Trong nhà ngoài sân với hai đứa con
Cây cà cây ớt
Con chó con mèo
Cái đầu gãy cái tay gãy của con búp bê
Cọng cỏ ngọn lá vú sữa khô
Thúng mủng chai chén sách vở quần áo mũ nón cuốc rựa trên ghế dưới bàn
Hai ba ngày một tuần một tháng có khi không đi đâu hết
Một hai ba giờ sáng thức dậy ngồi vác mặt ngó trời nghe chó sủa
Miếng nước trà mốc nguội có mùi bông lài rát cổ
Cũng không có chi phiền
Vấn một điếu thuốc hút
Hai ba lần tắt đỏ
Rồi nửa chừng rách giấy
Bạn bè gặp nhau
Cho uống một ly cà phê
Một lần
Qua hai lần phải tránh
Không phải ai cũng nghĩ như mình
Nhiều đứa vui gặp nhau cho năm ba đồng một chục
Đưa tay cầm lấy
Miệng nói không được
2.
Tôi thấy tôi như người tù được thả rông
Lang thang giữa đường giữa phố
Nhìn hết mọi người
Xem mình lâu ngày mặt mũi có khác người không
Tôi đi lui
Tôi đi tới
Phố phường đông chật
Tiếng cười tiếng la tiếng nói tiếng xe cộ
Chẳng có ai quen thử nói chào tôi một tiếng
Tôi đưa hai tay lên đầu vuốt tóc
Lấy chân hất một hòn đá
Cúi xuống nhìn mấy bao thuốc không bên lề đường
Rồi đi về
Qua cầu dép sút một quai
Tôi không muốn nhớ gì hết
3.
Tôi ngồi trên hòn đá trước nhà
Buổi chiều không có một con chim đậu trên cây
Đám trẻ con chia phe bắn nhau cười la ngoài sân
Đứa sống đứa chết cãi nhau ăn gian chửi thề
Những người đi bán về nói chuyện to
Hai đứa nhỏ nhà bên cạnh cầm đèn che miếng lá chuối
Qua xin lửa hỏi tôi nấu cơm chưa
Tôi cười lắc đầu muốn đi ngủ
Trong gió có mùi rơm cháy
Tôi không biết làm gì hết
Tôi bỏ hai chân ra khỏi dép cho mát
Đám trẻ con bỏ chơi chạy theo phá đàn trâu bò đi qua
Tôi bước vào nhà mở rộng hai cánh cửa lớn thắp một cây đèn để lên bàn thờ
Hai đứa con ra ngoài đường chờ mẹ chưa về
Trời còn lâu mới tối
Tôi đi gánh một đôi nước uống
4.
Tôi sống yên ổn với những việc làm hàng ngày của mình
Không định được ngày mai
Có một đồng để mua cho con nửa cái bánh tráng hay hai cái kẹo gừng
Có hai đồng cất dưới chân đèn trên bàn thờ lỡ khi hết dầu thắp tới bữa thiếu ruốc hết bột ngọt
Mả cha cuộc đời quá vô hậu
Cơm không có mà ăn
Ngó lui ngó tới không biết thù ai
Những thằng có thịt ăn thì chẳng bao giờ ỉa vất
5.
Lâu ngày tôi thấy quen đi
Như quen thân thể của mình
Tiếng ho gà nửa đêm của những đứa bé chưa đầy hai tuổi
Buổi chiều không có cơm ăn
Những con ruồi ăn nước mũi khô trên má
những đứa đau quan sát những con chuột
chết lòi ruột ở bến xe đò
Những tiếng cha mẹ vợ chồng anh em
con cái chửi bới la hét trong bữa ăn
Người điên ở trần đứng làm thinh
giữa trời mưa ngoài chợ
Những ngày hết gạo hết tiền hết củi
muối sống không còn một hột của tôi
Những trách canh rau khoai tháng năm không có bột ngọt
Hai mắt tôi mở to
Đầu tôi cúi thấp
Miệng tôi há ra
Những lá khoai nhám và rít mắc vài hột cơm
dồn cứng chật cuống họng
Nói thật lúc này tôi muốn được say rượu
Họa may thấy một đồng thành ba bốn đồng
6.
Nhiều khi tôi quá chán
Chân tay rã rời
Đầu óc đau nhức
Không muốn làm gì hết
Mấy đứa nhỏ chơi buôn bán bỏ đi đâu không biết
để đất đá lá cây đầy nhà
Tôi dựa cửa ngồi yên một chỗ
Dụi mắt nghĩ hết chuyện này tới chuyện khác
Nói chi tới những đứa đã chết trên rừng giữa phố
Bạn bè có đứa giàu đứa nghèo
Đứa ngụy đứa cách mạng
Đứa của tiền ăn tiêu mấy không hết
Đứa không có được một cái áo lành
Đứa đi kinh tế mới ba bốn bảy tám năm
trở về xách một cái bị lát
Mặt cắt không có một hột máu
Đứa đạp xe thồ ngồi vắt chân ăn củ sắn
chờ khách ở bến xe
Đứa vô tích sự ở nhà không có việc chi làm
Có đứa râu tóc dài che kín mặt
Có đứa tàn không nhớ mình tên chi
Có đứa chịu không nổi dắt vợ con vào nam
ăn chợ ngủ đường
Mỗi lần gặp nhau mở to mắt cười hút một điếu thuốc
Hết chuyện nói
Hai đứa con đi chơi về cười nói
Đứa nhỏ bắt tôi đánh trống
cho nó làm ông địa múa thiên cẩu
7.
Cái trống lon mặt ni lông và hai chiếc đũa tre
Tôi đánh
Múa đi các con
Này đây cái nón gãy vành làm đầu thiên cẩu
Và sợi dây chuối treo ngọn lá làm tiền
Múa đi các con
Cái bụng ông địa to tròn giơ lỗ rún gài nút áo không được
Ông địa chống tay vỗ bụng ngửa mặt lên trời cười ha ha
Tôi vỗ tay hoan hô
Và không biết mình có nhớ ra được
cái mặt ông địa không
Vỹ Giạ tháng 09-1984
(SH32/08-88)
...sông vẫn xanh màu xanh thuở ấykhác là bây giờ bên sông nhà chọc trời soi bóngô tô đan kín đại lộ lấp loáng nắng trưahình như gió xưa đang háthoa bằng lăng tím lối qua cầu...
LƯU LYTên thật: Trần Thị Vân Dung, sinh ngày 28.8.1978 tại Thanh Chương, Nghệ An.Thơ Lưu Ly là sự giãi bày nỗi niềm của một tâm hồn đa cảm mà đơn phương... Sự chân thành mộc mạc của tác giả sẽ mang lại cho người đọc chút “hương đồng gió nội” thật hiếm hoi trong dòng thơ hiện đại.
...Có nơi nào như đất nước tôitiếng trống tràng thành cũng lung lay bóng nguyệtthiếu phụ tiễn chồng ra trậnđêm trở về nằm gối nửa vầng trăng...
Trà Mi vốn là bí danh có từ thời hoạt động nội thành của Nguyễn Xuân Hoa được anh “nối mạng” vào “thương hiệu” thơ khi cái đẹp bừng nở trong tuệ giác.Dù không lấy thơ làm cứu cánh nhưng nó vẫn là một hằng số tâm linh đối với bất cứ ai trong mỗi một chúng ta. Sự tung hứng giữa cảm xúc và trí tuệ, sự cộng hưởng giữa truyền thống và hiện đại, sự bức xạ giữa ý tưởng và ngôn ngữ được coi như một nguyên tắc đồng đẳng trong thi pháp thơ Nguyễn Xuân Hoa.Nguyễn Xuân Hoa sinh năm 1947 tại Quảng Điền, TTHuế. Hiện là tỉnh uỷ viên, giám đốc Sở Văn hoá Thông tin TTHuế.Sông Hương trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc chùm thơ mới của anh.
...Em đã lấy những gìmà Chúa không cần nữaNgười đã ban tặng emMột tình yêu đau khổ...
Cách đây 700 năm, vào năm 1306, vua Trần Nhân Tông gả công chúa Huyền Trân cho vua Champa, bờ cõi Đại Việt được mở rộng. Hai châu Ô, Lý được vua Chế Mân cắt để làm sính lễ dâng vua Đại Việt. Sau đó, hai châu này được đổi thành châu Thuận và châu Hóa. Thuận Hóa được hình thành từ cơ sở đó.Những bài thơ chữ Hán viết về vùng đất này sớm nhất có thể kể đến như Hóa Châu tác (Làm ở Hóa Châu) vào khoảng năm 1354 của Trương Hán Siêu (?-1354); Hóa Thành thần chung (Chuông sớm ở Hóa Thành) của Nguyễn Phi Khanh (1355-1428); Tư Dung hải môn lữ thứ (Nghỉ chân ở cửa biển Tư Dung) của Lê Tư Thành (vua Lê Thánh Tông 1442 - 1497)... Nhân kỷ niệm 700 năm Thuận Hóa - Phú Xuân - Thừa Thiên Huế (1306 - 2006) TCSH trân trọng giới thiệu cùng độc giả ba bài thơ này.HẢI TRUNG giới thiệu
Đá Hạ Long đa tình hóm hỉnhNên mái cong đuôi trống xoè lôngTrời và nước hồng hoang kết dínhSóng nôn nao như tiếng vợ gọi chồng...
...đêm bình yên linh hồn nương náusao ta một mình thao thứcsao ta một mình lay gọilối nào tới ban mai?...
...khoảng vườn xanh xưatrồng toàn cây cẩm túnở một bông thôi cũng đủ nhớ thương người...
...từng hàng cỏ mọc bon chencôn trùng nương náu cũng quen lâu rồi...
LTS: Nguyễn Xuân Hoàng viết nhiều, viết đủ các thể loại nhưng tác phẩm đã công bố phần lớn là truyện ngắn, bút ký, tản văn, tiểu luận v.v... còn thơ thì ít khi xuất hiện. Song, có lẽ thơ mới là “ngọc châu” trong văn nghiệp của anh. Những bài thơ gần đây được Hoàng viết ra như một sự dự phóng điềm gở của định mệnh.Khắc khoải yêu thương, khắc khoải đợi chờ là tâm trạng của Hoàng được “mã hoá” trong chùm thơ mà Sông Hương vừa tìm thấy trong di cảo của anh.
...Xin hãy để ta mơ về Hợp NhấtLòng bản thể thẳm sâu hòa điệu giữa lòng ta...
LÊ HUỲNH LÂMSinh năm 1967, tại Phú Vang - Thừa Thiên Huế; Kỹ sư tin học (ĐH Bách Khoa Hà Nội). Tác phẩm đã in: Sông hoa (tùy bút)....ấy là một khuôn mặt trầm tư? U uất? Khuôn mặt với đầy đủ đặc tính của một “triết gia bi đát”. Bây giờ, những ngôn từ mà anh dày công nhào nặn đã ý thức hơn về vị thế của mình trong đoản - khúc - người, và chúng không còn cưỡng bức xác thân anh đi ngược chiều nhân loại nữa. Những ngôn từ (bị dòng đời ám ảnh) đã tự sắp đặt thơ. Bây giờ, thơ trở thành tính từ của thân phận mỗi khi cõi lòng anh lên tiếng...Sông Hương xin chuyển tới bạn đọc ba “cột thơ” rút từ ngôi nhà của anh.
...Không còn ở trong vòm cửa hẹpCả khoảng không bừng sáng quanh ta...
...Tiếng aiTrong gióHú dài…
LGT: Như một chuyến hành hương về nguồn cội, với nghĩa cử cao đẹp, Công ty Văn hoá Trí tuệ Việt đã cho ra đời tập sách HUYỀN THOẠI TRƯỜNG SƠN, gồm nhiều thể loại như bút ký, hồi ký, thơ, nhạc,... Đặc biệt hơn hết là danh sách đầy đủ, chính xác của 10.263 anh hùng liệt sĩ yên nghỉ tại Nghĩa trang Liệt sĩ Trường Sơn.
Sông Hương xin trân trọng giới thiệu tới bạn đọc những dòng thơ được thắp lên từ HUYỀN THOẠI TRƯỜNG SƠN - như một nén nhang gọi hồn những người đã ngã xuống!
LGT: Trong cuộc đi tìm mình khắc khoải ở trời , Nguyên Quân mang theo những u uẩn của quá nửa phần đời để mỗi buồn ngồi gặm nhấm. Chắc hẳn cũng nhờ vậy, anh đã làm được một điều không dễ - ấy là gọi tên đúng nỗi buồn giữa mênh mang thi phú...Sông Hương xin giới thiệu chùm thơ của Nguyên Quân mà hai trong số đấy sẽ được tuyển vào 700 năm thơ Huế.
Hơn một năm trước, nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ giương cao Lá cờ trắng. Nhưng dường như đấy chỉ là hình thức “trá hàng” của một nàng thơ giữa độ hồi xuân.Không hiểu tự bao giờ, loài cúc dại đã cắm rễ vào cõi hồn đa mang của chị hút đến cả nỗi đau dung dưỡng xác thân trong kiếp luân hồi đầy khổ nạn. Tập thơ mới nhất của chị, là sự bung nở của vô vàn cúc dại, để trí nhớ đất này thêm những phút thăng hoa...
HẠ NGUYÊN* Sinh năm 1966 tại Hương Cần - Hương Trà - TT. Huế* Hội viên Hội Nhà báo Việt , Ủy viên BCH Hội Nhà báo Thừa Thiên Huế khóa IV (2007 - 2012).* Hội viên Hội Nhà văn Thừa Thiên Huế* Có nhiều tác phẩm in chung trong các tuyển tập: “20 truyện ngắn và ký 1975 - 1995”, “25 truyện ngắn và ký 1975 - 2000”, “Thời gian và nỗi nhớ”, “Trịnh Công Sơn - cát bụi lộng lẫy”, “Thừa Thiên Huế trong cơn đại hồng thủy (2000)” v.v.
NGUYỄN THIỀN NGHITên thật là Nguyễn Bồn, sinh năm 1948 tại Phú Vang, Thừa Thiên Huế.Hội viên Hội Nhà văn TT.Huế.Hiện là giáo viên của Trung tâm Giáo dục thường xuyên Hương Thuỷ.