Tác giả tên đầy đủ là Heinrich Theodor Böll (1917 - 1985). Ông được coi là một trong những nhà văn lớn nhất của Đức thời hậu chiến. Năm 1972 ông được nhận giải Nobel Văn học. Tác phẩm và quan điểm chính trị của Böll thể hiện khát vọng xây dựng một xã hội mang tính nhân văn. Các tiểu thuyết tiêu biểu của ông: “Thiên thần im lặng”, “Và tôi đã không nói một lời duy nhất”, “Nhà không có người che chở”, “Qua con mắt của chú hề”, “Bức chân dung tập thể với một quý bà”…
Ảnh: internet
HEINRICH BÖLL
Nàng Theodora bất tử
Mỗi khi tôi đi dọc con phố Bengelmann là tôi phải nhớ đến Bodo Bengelmann, người mà Viện hàn lâm đã phong cho đẳng cấp của một người bất tử. Ngay cả khi tôi không đi vào phố Bengelmann tôi cũng thường nghĩ đến Bodo, còn con phố thì vẫn thế: nó chạy dài từ số 1 đến số 678, dẫn ra khỏi trung tâm thành phố, ngang qua những bảng hiệu quảng cáo bằng đèn neon của các quán bar đến tận vùng thôn quê, nơi những con bò cái rống vào buổi chiều đợi được dẫn ra chỗ uống nước. Con phố này mang tên họ của Bodo, chạy thẳng qua thành phố; ở phố Bengelmann có hiệu cầm đồ, có “cửa hàng bán rẻ của nhà Becker”, còn tôi thì thường đi đến cửa hàng cầm đồ, thường đi đến “cửa hàng bán rẻ của nhà Becker”, thường có đủ dịp để được nhớ đến Bodo.
Khi tôi đẩy chiếc đồng hồ của mình qua quầy hàng cho nhân viên của cửa hàng cầm đồ ông ta kẹp kính lúp vào mắt, định giá chiếc đồng hồ, đẩy nó trở lại phía tôi qua quầy hàng buông một câu tỏ vẻ khinh thường “Bốn mác”, sau đó khi tôi đã gật đầu đồng ý, đã ký biên lai cầm đồ, đã lại đẩy chiếc đồng hồ qua quầy hàng cho nhân viên của hàng cầm đồ, khi tôi thong thả bước đến bàn trả tiền và đợi ở đó, cho đến khi ống chuyển thư bằng khí nén đẩy biên lai cầm đồ của tôi sang thì tôi còn có đủ thời gian nhớ đến Bodo Bengelmann, với người mà tôi đã thường có đủ dịp vừa nhớ đến vừa đứng tại bàn trả tiền này.
Bodo có một chiếc máy đánh chữ Remington cũ, với nó ông đã chép các bài thơ của mình (mỗi bài chép ra bốn bản). Tôi và Bodo đã năm lần uổng công cố vay tiền của cửa hàng cầm đồ thành phố bằng chiếc máy chữ này. Chiếc máy chữ quá cũ, kêu loạch xoạch và ken két, còn ban quản lý của cửa hàng cầm đồ thì bảo lưu quan điểm, nghiêm chỉnh tuân thủ quy định. Ông của Bodo là người bán đồ sắt, cha của Bodo là kế toán thuế, bản thân Bodo là nhà thơ trữ tình - ba thế hệ của dòng họ Bengelmann đã quá thường xuyên gõ phím cái máy chữ này, để nó xứng đáng là một khoản cho vay của thành phố (mỗi tháng 2%).
Dĩ nhiên, giờ đây có một khu tưởng niệm Bengelmann, ở đó người ta đang bảo quản một chiếc bút mực có cái quản màu hung hung đỏ bị cắn nát nằm trong tủ kính kèm theo dòng chữ: “Đây là chiếc bút mà Bodo Bengelmann đã viết.”
Trên thực tế Bodo đã chỉ viết hai bài thơ trong số năm trăm bài thơ của mình bằng chiếc bút này, chiếc bút mà ông đã lấy trộm từ chiếc hộp bút bằng da của Lotte, em gái của ông. Phần nhiều trong số những bài thơ của mình ông viết bằng bút chì mực, một số viết trực tiếp bằng chiếc máy chữ mà chúng tôi đã bán cho một người đàn ông với giá bèo bọt là sáu mác tám mươi xu vào một ngày cực kỳ túng quẫn, người đàn ông tên là Heising và chẳng biết gì về thể loại thơ trữ tình bất tử là chất liệu làm nên những bài thơ mà anh ta mua. Heising sống ở phố Humbolt, sống bằng nghề buôn bán đồ cũ và đã được Bodo làm thành bất tử trong bài thơ “Căn buồng của một anh chàng chủ hiệu kì cục”.
Như vậy là chiếc máy chữ thực sự của Bodo không được trưng bày ở khu tưởng niệm Bengelmann, mà là chiếc bút mực này, chiếc bút mà đang cho thấy các dấu vết của những chiếc răng của Lotto Bengelmann. Chính Lotte cũng đã quên từ lâu là chiếc bút mực thuộc về chị ta và chị ta đang làm cái việc là ngày nay đứng khóc trước cái bút, rơi lệ vì một sự việc đã không hề có. Chị ta đã viết những bài tiểu luận ở trường bằng cái bút ấy, trong khi đó Bodo - tôi nhớ chính xác về ông - đã viết một mạch ra các bài thơ “Trái tim bị sương mùa thu giăng mắc” và “Khóc đi, Woge ơi, hãy khóc đi!” cũng bằng cái bút ấy sau khi ngốn hết hai miếng thịt rán, một đĩa sa lát to, một cái bánh pudding vani bự và hai lát pho mát. Ông đã viết hai bài thơ hay nhất của mình với cái bụng no nê, đại để ông là người phàm ăn như nhiều người đa sầu đa cảm và ông đã chỉ dùng cái bút của em gái mình mười tám phút, trong khi đó toàn bộ sự nghiệp sáng tác thơ trữ tình của ông kéo dài trên tám năm.
Ngày nay Lotte sống bằng sự nghiệp thơ ca vẻ vang của anh trai mình; mặc dù chị ta đã cưới một người đàn ông tên là Hosse(*), nhưng chị ta chỉ gọi mình là “em gái của Bodo Bengelmann”. Chị ta luôn là kẻ rất khó chịu. Chị ta mách lẻo về Bodo mỗi khi ông làm thơ, vì việc làm thơ thuộc về những việc mà những người trong gia đình nhà Bengelmann cho là tốn nhiều thời gian, vì thế không cần thiết.
Nỗi dày vò của Bodo là lớn. Điều đó, sự cấm đoán ông làm thơ từ phía gia đình, dễ dàng thúc ép ông viết ra thứ gì đó hay ho của mình. Nhưng cứ mỗi khi ông làm thơ là Lotte phát hiện ra việc đó, giọng nói the thé của chị ta vang lên trong hành lang, trong bếp, chị ta hớn hở chạy thật nhanh vào phòng làm việc của cha mình, la lên “Bodo lại làm thơ!” và cha của chị - một người hết sức cương quyết - quát: “Đồ con lợn đó đâu?” (Từ ngữ được dùng ở gia đình nhà Bengelmann là hơi thiếu văn hóa.) Sau đó ông cho con trai mình ăn một trận đòn. Bodo, đa cảm như tất cả mọi nhà thơ trữ tình, bị túm vào cổ áo, bị kéo xuống cầu thang và bị đánh bằng cái thước kẻ cứng như thép, với nó cha của Bodo kẻ những đường kẻ xuống dưới những thông tin về trạng thái tài khoản của các khách hàng.
![]() |
Minh họa: Nguyễn Thiện Đức |
Sau này Bodo sáng tác nhiều ở nhà chúng tôi, và tôi là chủ nhân của gần bảy mươi bài thơ không công bố của Bengelmann mà tôi dự định bảo quản như là tiền lương hưu cho mình. Một trong những bài thơ này bắt đầu bằng những từ “Lotto, đồ phản trắc, ngấm ngầm…” (Bodo được coi là người cách tân của phép điệp vận).
Với những nỗi dày vò, hoàn toàn bị coi thường, thường xuyên bị đánh đòn, Bodo đã qua tuổi mười bảy của mình, ông đã được nhận bằng tốt nghiệp trung học loại giỏi và đã được cho đi học việc để trở thành một người bán giấy dán tường. Hoàn cảnh đã tạo thuận lợi cho việc sáng tác thơ trữ tình của ông: Ông chủ cửa hàng bán giấy dán tường, nơi Bodo học việc, phần nhiều say khướt nằm ở dưới quầy hàng, còn Bodo thì viết các bài thơ do mình sáng tác vào mặt trái của những miếng giấy dán tường dùng để làm mẫu.
Việc sáng tác thơ trữ tình của Bodo nhận được một động cơ thúc đẩy khác khi ông yêu say đắm cô gái mà ông đã ca ngợi trong “Những bài ca dành tặng nàng Theodora”, mặc dù tên của cô gái không phải là Theodora.
Thế rồi Bodo cũng sẽ bước sang tuổi mười chín, và vào ngày mùng một tháng Mười Hai ông đã đầu tư toàn bộ khoản lương học việc vào bưu phí và gửi tất cả ba trăm bài thơ tới ba trăm tòa soạn khác nhau mà không gửi kèm tiền bưu phí gửi trả lại: một sự táo bạo độc nhất vô nhị trong toàn bộ lịch sử văn chương. Bốn tháng sau - khi vẫn chưa đến hai mươi tuổi - Bodo đã là một người đàn ông lừng danh.
Một trăm năm mươi tư bài trong số các bài thơ của Bodo đã được đăng báo, và bây giờ sáng nào người bưu tá đầm đìa mồ hôi cũng dừng lại, xuống xe đạp trước cửa nhà của Bengelmann. Để biết được chính xác số lần các bài thơ được đăng của Bodo thì chỉ cần làm một phép tính nhân, trong đó người ta lấy con số 300 bài thơ của Bodo nhân với số lượng các tờ báo đã đăng thơ của ông, con số này tạm thời là 40 tờ.
Đáng tiếc là Bodo chỉ được hưởng danh tiếng của mình hai năm. Ông chết vì một trận cười sặc sụa. Một hôm ông thú nhận với tôi: “Danh tiếng chỉ nằm ở một vấn đề, đó là bưu phí” - sau đó ông nói thầm, “thậm chí tớ đã gửi đại thơ của mình đi”, rồi bật cười sặc sụa, càng ngày càng sặc sụa hơn - và chết. Đó là những câu duy nhất trong một bài tản văn có giá trị mà đã có lần ông bày tỏ: nhờ đó tôi nhắn gửi chúng cho đời sau.
Giờ đây danh tiếng của Bodo đã được tạo nên chủ yếu qua “những bài ca tặng nàng Theodora” của ông, một hợp tuyển bao gồm hai trăm bài thơ về thứ thơ tình tìm kiếm một cô gái vẫn yêu nồng nhiệt như ông. Những nhà phê bình riêng rẽ đã cố thử viết tiểu luận về chủ đề: “Ai đã là nàng Theodora?” Một nhà phê bình đồng nhất hóa nàng một cách trơ trẽn với một nữ thi sĩ cùng thời, còn đang sống, anh ta chứng minh điều đó có sức thuyết phục, khá tỉ mỉ về nữ thi sĩ mà Bodo đã chưa hề gặp mặt, nhưng giờ đây gần như bị ép buộc thừa nhận rằng nữ thi sĩ là nàng Theodora. Nhưng đó không phải là nàng: tôi biết rõ điều đó, vì tôi biết Theodora. Cô ấy tên là Käte Barutzki, đang đứng trong “cửa hàng bán rẻ của nhà Becker” tại bàn số 6, nơi cô đang bán văn phòng phẩm. Những bài thơ của Bodo được chép sạch sẽ ra giấy mua ở “cửa hàng bán rẻ của nhà Becker”; tôi thường có đủ dịp cùng với ông đã đứng nán lại ở cái bàn của cô Käte này, cô gái cũng là một người xinh đẹp: cô ấy có mái tóc vàng hoe, nói hơi thủ thỉ, không biết gì về thứ văn chương cao cấp hơn và đọc vào buổi tối ở trên tàu điện “những cuốn sách rẻ riền của cửa hàng nhà Becker” được bán cho các nhân viên với giá ưu đãi.
Ngay cả Bodo cũng không biết về những cuốn sách rẻ tiền này; điều đó không hề gây tổn hại cho tình yêu của ông. Tôi và Bodo đã thường đứng trước cửa hàng nhà Becker, đã rình mò Käte, đã theo dõi cô, vào những buổi chiều mùa hè, trong sương mù mùa thu chúng tôi đã lén theo cô gái này, ra đến tận khu ngoại thành, ở khu mà ngày nay cô ấy vẫn đang sống. Đáng tiếc là Bodo đã quá nhút nhát khi có dịp bắt chuyện với cô. Ông không thực hiện được điều đó, mặc dù ngọn lửa tình trong ông đang rực cháy. Ngay cả khi ông đã nổi tiếng, tiền nhiều như nước, thì ông vẫn luôn mua hàng ở “cửa hàng bán rẻ của nhà Becker”, chỉ để thường xuyên ngắm nhìn cô gái xinh đẹp này - cô Käte Barutzki trẻ trung, cô gái mỉm cười và nói thủ thỉ như một nữ thần. Vì thế ở trong “các bài ca dành tặng nàng Theodora” rất hay có lối ví von “sự luyến láy kì diệu, dịu dàng…”.
Bodo cũng thường xuyên gửi cho Käte Barutzki những lá thư giấu tên có những bài thơ, nhưng tôi cần phải tin là thứ thơ trữ tình này đã bị cho vào bếp lò của gia đình nhà Barutzki hoặc không được cô Käte đọc đến, nếu người ta muốn thừa nhận tôi là một bức tranh trung thực với tư cách là người viết thiên sử thi trung thực.
Vào buổi tối tôi vẫn còn thường xuyên đi đến “cửa hàng bán rẻ của nhà Becker”, và tôi đã nhận ra là mới đây Käte được một thanh niên đến đón, hiển nhiên cậu ta ít nhút nhát hơn Bodo và là thợ sửa chữa ô tô (xét đoán theo quần áo của cậu ta đang mặc trên người). Tôi có thể đối mặt với cuộc hội thảo của lịch sử văn chương, có thể chứng minh rằng cô Käte này và nàng Theodora của Bodo Bengelmann là một. Nhưng tôi không làm việc đó, vì tôi e ngại cho hạnh phúc của Käte, cũng là hạnh phúc của anh chàng thợ sửa chữa ô tô. Chỉ thỉnh thoảng tôi đi đến chỗ Käte bán hàng, lục lọi trong đống giấy trang kim, tìm kiếm trong “những cuốn sách rẻ tiền của cửa hàng nhà Becker”, chọn một cục tẩy, ngắm nhìn Käte và cảm thấy hơi thở của lịch sử đang phả vào mặt tôi.
Phạm Đức Hùng dịch từ nguyên bản tiếng Đức
(TCSH389/07-2021)
--------------
(*) Ở các nước Âu - Mỹ phụ nữ sau khi lấy chồng sẽ mang họ chồng và được gọi theo tên họ của chồng.
SINCLAIR LEWISLGT: SINCLAIR LEWIS (1885 - 1951, giải thưởng Nobel 1930)Ông là tiểu thuyết gia, người viết truyện ngắn có tiếng và nhà viết phê bình có uy tín ở Mỹ.
BRUNO LESSINGLGT: Bruno Lessing (1870-1940) sinh tại New York, Mỹ. Tên thật của ông là Rudolp Block nhưng ông nổi tiếng với tư cách là nhà văn chuyên viết truyện ngắn dưới bút danh Bruno Lessing. Ông là phóng viên và sau đó là biên tập viên cho nhiều tờ báo. Mô tả của Lessing về cuộc sống của người Do Thái ở New York được đánh giá cao. Truyện dưới đây được dẫn dắt một cách hấp dẫn, lý thú, làm nổi bật mối quan hệ giữa hai thế hệ: cha và con, vấn đề nhập cư, đồng hóa hay giữ bản sắc văn hóa với một giọng điệu dí dỏm.
JUAN JOSÉ ARREOLA (Sinh 1918, Nhà văn Mêhicô)LGT: Arreola là một nhà cách tân lớn về truyện kể. Là một người tự học tài năng, ông sở đắc một nền văn hoá rộng lớn, cũng như trải qua nhiều nghề khác nhau để kiếm sống. Arreola chủ yếu sáng tác những truyện kể ngắn, cô đúc, mỉa mai, hay bí ẩn, ưa thích cái nghịch lý và ông là một trong những bậc thầy của hình thức truyện ngắn này. Ba tuyển tập truyện ngắn của ông là Varia Invencion (1049), Confabulario (1952), Confabulario Définitivo (1087).
KAWABATA YASUNARI LGT: KAWABATA YASUNARI (1899 - 1972) là nhà văn đầu tiên của Nhật Bản đoạt giải thưởng Nobel văn chương (1968). Ông nổi tiếng thế giới với những tiểu thuyết như: Xứ Tuyết (1935 - 1947), Ngàn cánh hạc (1949), Tiếng rền của núi (1950), Người đẹp say ngủ (1961), Cố đô (1962)...
MATVEEVA ANNALGT: MATVEEVA ANNA (Sinh 1975) là một nhà văn nữ trẻ của văn học Nga đương đại tài năng đầy hứa hẹn. Đã xuất bản một số tập truyện ngắn. Truyện ngắn của cô đã được đăng trong các tạp chí lớn của Nga như Thế giới mới, Tháng Mười. Văn xuôi của cô hóm hỉnh, thể hiện sự tò mò sắc sảo trước cuộc sống và con người. Tác phẩm của cô được xem như thể hiện một số sắc thái và đặc điểm của văn xuôi hậu hiện đại Nga hiện nay. Xin trân trọng giới thiệu truyện ngắn “Con chó” dưới đây của nữ văn sĩ qua bản dịch của nữ dịch giả Đào Tuấn Ảnh.
YVELINE FÉRAYLTS: Monsieur le paresseux là cuốn tiểu thuyết lịch sử dày gần 300 trang của nữ văn sỹ Pháp Yveline Féray viết về Đại danh y Việt Nam Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác, do Nhà xuất bản Robert Laffont ở Paris ấn hành năm 2000. Trước đó, năm 1989 nữ văn sỹ này đã cho xuất bản ở Pháp cuốn tiểu thuyết dày 1000 trang Dix mille printemps, viết về Nguyễn Trãi - nhà chính trị, quân sự lỗi lạc; nhà thơ lớn của Việt Nam ở thế kỷ XV.
MARSEL SALIMOV (LB NGA)Đất nước ta quá giàu! Vì thế tôi nảy ra ý định muốn cuỗm một thứ gì đó. Những tên kẻ cắp ngày nay chả giống như trước đây. Chúng không thèm để mắt đến những thứ lặt vặt. Cả một đoàn tàu bỗng dưng biến mất tăm! Những nhà máy không thể di dời được, thế nhưng người ta lại nghĩ ra kế chiếm đoạt chúng. Nghe đồn nay mai người ta sẽ bắt đầu chia chác cả đất lẫn nước!
AKILE CAMPANILE(Nhà văn Italia)LTS: Số Tết này, TCSH chọn một truyện ngắn hài hước của một nhà văn Ý, có nhan đề “Ngón nghề kinh doanh”, qua bản dịch của dịch giả nổi tiếng Lê Sơn, để bạn đọc có dịp thư giãn trong dịp đầu Xuân.
HERMANN HESSE Tương truyền thi nhân người Tàu tên Han Fook thuở thiếu thời chỉ thao thức với một khát khao kỳ diệu là muốn học hết mọi điều và tự rèn luyện mình đến hoàn hảo trong tất cả các môn liên quan đến nghệ thuật thi ca.
OLGA TOKARCZUK (Nữ nhà văn Ba Lan)LGT: Nữ văn sĩ Ba Lan Olga Tokarczuk sinh năm 1962 tại Sulechow, Ba Lan. Bà là nhà văn “hậu hiện đại” và “nữ quyền”. Năm 1979 những truyện ngắn đầu tay của bà được đăng tải trên Tạp chí Thanh niên, năm 1989 những bài thơ đầu tay được in trong các tạp chí “Rađa” và “Đời sống văn học”.
NADINE GORDIMER ( Phi), Giải Nobel 1991LGT: Nữ văn sĩ Nadine Gordimer sinh năm 1923 tại Phi. Bà cho in truyện ngắn đầu tay năm 15 tuổi và tiếp tục nghề văn khi còn là sinh viên Đại học Wirwatersrand. Có thời kỳ sách của bà bị chế độ phân biệt chủng tộc Phi cấm đoán. N.Gordimer được trao tặng nhiều giải thưởng văn học, trong đó có giải Nobel văn chương năm 1991.
OLGA TOKARCZUKLGT: Trong số tháng 3 – 2007 (217), Sông Hương đã giới thiệu tới bạn đọc truyện ngắn “Người đàn bà xấu nhất hành tinh” của OLGA TOKARCZUK, một nữ văn sĩ thuộc dòng văn học nữ “hậu hiện đại Ba Lan”. Số báo này, Sông Hương xin giới thiệu tiếp truyện ngắn “Vũ nữ”. Đây là một truyện ngắn độc đáo dựa trên một leimotic “cuộc đối thoại vô hình” giữa người con gái và người cha, láy đi láy lại đến 6 lần, thể hiện cuộc chiến đấu âm thầm dữ dội, tự khẳng định mình trong nghệ thuật, chống lại sức mạnh ám ảnh của mặc cảm “bất tài”.
BERNARD MALAMUDLGT: Bernard Malamud sinh năm 1914 tại Brooklyn, New York, lớn lên trong thời kỳ Đại Khủng hoảng Kinh tế, là người Nga gốc Do Thái trong một gia đình bán tạp hoá. Ông đã xuất bản nhiều tiểu thuyết, truyện ngắn và được nhận nhiều giải thưởng văn học.
RADOI RALIN (Bungari)LGT: Đây là một truyện có ý vị sâu xa với các môtíp sự cám dỗ của quyền lực, “sự đồng loã ngây thơ” với tội ác, sự tự nhận thức và tự trừng phạt. Nhưng trên hết là sự vạch trần và tố cáo sự bịp bợm quỷ kế của giới quyền lực. Đây là một truyện ngụ ngôn mới đặc sắc. Xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc.
ZACE HAMMERTON (Anh quốc)LGT: Truyện dựng chân dung của một kẻ “Sính khiếu nại” “một cách hài hước, bố của John Peters có “Thú đam mê sưu tập tem”. Cách dẫn chuyện tài tình ở cái chi tiết sự ham mê của anh với một loại tem đặc biệt không đục lỗ chiếu ứng với cái kết bất ngờ của truyện “Có của rơi vào tay mà để vuột mất”. Mời bạn đọc thưởng thức.
TOIVO TOOTSEN ( )LGT: Đây là một truyện hài hước thú vị về nạn kẹt xe. Tác giả đã sử dụng một thủ pháp phóng đại đến mức vô lý, không tưởng: một vụ kẹt xe bất tận từ đám cưới đến sinh con, ly dị, tái kết hôn, con vào đại học và kết hôn mà cuộc kẹt xe vẫn chưa kết thúc!. Mượn một tình huống kẹt xe “hoang tưởng” này, nhà văn muốn gởi tới một thông điệp hài hước một cách bi đát: nếu giao thông ở các đô thị lớn không ở các đô thị lớn không được tổ chức một cách khoa học thì từ đời cha đến đời con nạn kẹt xe vẫn chưa được giải quyết. TSCH
JAMES JOYCELGT: James Joyce (1882 - 1941) là một trong những khuôn mặt lớn nhất của văn xuôi Anh - Ailen và châu Âu thế kỷ XX. Ông “là nhân vật trung tâm của văn xuôi hiện đại”, một trong những nhà văn có ảnh hưởng lớn nhất, gây phản ứng mạnh nhất, “một trong những thần tượng của thời đại” đối với văn nghệ sĩ trẻ và giới trí thức châu Âu đương thời.
A THÀNH L.T.S: "Vua cờ" (Kỳ vương) được đăng lần đầu trên tạp chí "Thượng hải văn học" năm 1984. Vừa xuất hiện, "Vua cờ" đã chấn động văn đàn, liên tiếp nhận được nhiều giải thưởng "Trung thiên tiểu thuyết ưu tú" ở cấp tỉnh và trung ương ở Trung Quốc. Tác giả A Thành tên thật là Chung A Thành sinh năm 1949 ở Tứ Xuyên. Đây là tác phẩm đầu tay của ông. Do khuôn khổ tờ báo, chúng tôi không thể in trọn tác phẩm nổi tiếng này khoảng gần 100 trang sách. Dưới đây là chương IV, chương cuối cùng của "Vua cờ".
ROBERT SWINDELLS (ANH)Nếu thế giới này bằng phẳng và nếu bạn có thể nhìn thẳng vào mặt trời đang mọc, bạn sẽ nhìn thấy miền đất nơi Nick và Bruin sinh sống. Nơi ban ngày ẩm nhoẹt còn ban đêm thì ngột ngạt ghê người, nơi mặt trời lên như kẻ thù và gió như muốn bốc cháy.
ALEXANDER VAMPILOV (NGA)Nikolai Nikolaevich Smirnov tin chắc là ông không sống được đến mùa xuân sang năm.