Nàng Theodora bất tử

14:56 12/08/2021

Tác giả tên đầy đủ là Heinrich Theodor Böll (1917 - 1985). Ông được coi là một trong những nhà văn lớn nhất của Đức thời hậu chiến. Năm 1972 ông được nhận giải Nobel Văn học. Tác phẩm và quan điểm chính trị của Böll thể hiện khát vọng xây dựng một xã hội mang tính nhân văn. Các tiểu thuyết tiêu biểu của ông: “Thiên thần im lặng”, “Và tôi đã không nói một lời duy nhất”, “Nhà không có người che chở”, “Qua con mắt của chú hề”, “Bức chân dung tập thể với một quý bà”…

Ảnh: internet

HEINRICH BÖLL    

Nàng Theodora bất tử      

Mỗi khi tôi đi dọc con phố Bengelmann là tôi phải nhớ đến Bodo Bengelmann, người mà Viện hàn lâm đã phong cho đẳng cấp của một người bất tử. Ngay cả khi tôi không đi vào phố Bengelmann tôi cũng thường nghĩ đến Bodo, còn con phố thì vẫn thế: nó chạy dài từ số 1 đến số 678, dẫn ra khỏi trung tâm thành phố, ngang qua những bảng hiệu quảng cáo bằng đèn neon của các quán bar đến tận vùng thôn quê, nơi những con bò cái rống vào buổi chiều đợi được dẫn ra chỗ uống nước. Con phố này mang tên họ của Bodo, chạy thẳng qua thành phố; ở phố Bengelmann có hiệu cầm đồ, có “cửa hàng bán rẻ của nhà Becker”, còn tôi thì thường đi đến cửa hàng cầm đồ, thường đi đến “cửa hàng bán rẻ của nhà Becker”, thường có đủ dịp để được nhớ đến Bodo.

Khi tôi đẩy chiếc đồng hồ của mình qua quầy hàng cho nhân viên của cửa hàng cầm đồ ông ta kẹp kính lúp vào mắt, định giá chiếc đồng hồ, đẩy nó trở lại phía tôi qua quầy hàng buông một câu tỏ vẻ khinh thường “Bốn mác”, sau đó khi tôi đã gật đầu đồng ý, đã ký biên lai cầm đồ, đã lại đẩy chiếc đồng hồ qua quầy hàng cho nhân viên của hàng cầm đồ, khi tôi thong thả bước đến bàn trả tiền và đợi ở đó, cho đến khi ống chuyển thư bằng khí nén đẩy biên lai cầm đồ của tôi sang thì tôi còn có đủ thời gian nhớ đến Bodo Bengelmann, với người mà tôi đã thường có đủ dịp vừa nhớ đến vừa đứng tại bàn trả tiền này.

Bodo có một chiếc máy đánh chữ Remington cũ, với nó ông đã chép các bài thơ của mình (mỗi bài chép ra bốn bản). Tôi và Bodo đã năm lần uổng công cố vay tiền của cửa hàng cầm đồ thành phố bằng chiếc máy chữ này. Chiếc máy chữ quá cũ, kêu loạch xoạch và ken két, còn ban quản lý của cửa hàng cầm đồ thì bảo lưu quan điểm, nghiêm chỉnh tuân thủ quy định. Ông của Bodo là người bán đồ sắt, cha của Bodo là kế toán thuế, bản thân Bodo là nhà thơ trữ tình - ba thế hệ của dòng họ Bengelmann đã quá thường xuyên gõ phím cái máy chữ này, để nó xứng đáng là một khoản cho vay của thành phố (mỗi tháng 2%).

Dĩ nhiên, giờ đây có một khu tưởng niệm Bengelmann, ở đó người ta đang bảo quản một chiếc bút mực có cái quản màu hung hung đỏ bị cắn nát nằm trong tủ kính kèm theo dòng chữ: “Đây là chiếc bút mà Bodo Bengelmann đã viết.”

Trên thực tế Bodo đã chỉ viết hai bài thơ trong số năm trăm bài thơ của mình bằng chiếc bút này, chiếc bút mà ông đã lấy trộm từ chiếc hộp bút bằng da của Lotte, em gái của ông. Phần nhiều trong số những bài thơ của mình ông viết bằng bút chì mực, một số viết trực tiếp bằng chiếc máy chữ mà chúng tôi đã bán cho một người đàn ông với giá bèo bọt là sáu mác tám mươi xu vào một ngày cực kỳ túng quẫn, người đàn ông tên là Heising và chẳng biết gì về thể loại thơ trữ tình bất tử là chất liệu làm nên những bài thơ mà anh ta mua. Heising sống ở phố Humbolt, sống bằng nghề buôn bán đồ cũ và đã được Bodo làm thành bất tử trong bài thơ “Căn buồng của một anh chàng chủ hiệu kì cục”.

Như vậy là chiếc máy chữ thực sự của Bodo không được trưng bày ở khu tưởng niệm Bengelmann, mà là chiếc bút mực này, chiếc bút mà đang cho thấy các dấu vết của những chiếc răng của Lotto Bengelmann. Chính Lotte cũng đã quên từ lâu là chiếc bút mực thuộc về chị ta và chị ta đang làm cái việc là ngày nay đứng khóc trước cái bút, rơi lệ vì một sự việc đã không hề có. Chị ta đã viết những bài tiểu luận ở trường bằng cái bút ấy, trong khi đó Bodo - tôi nhớ chính xác về ông - đã viết một mạch ra các bài thơ “Trái tim bị sương mùa thu giăng mắc” và “Khóc đi, Woge ơi, hãy khóc đi!” cũng bằng cái bút ấy sau khi ngốn hết hai miếng thịt rán, một đĩa sa lát to, một cái bánh pudding vani bự và hai lát pho mát. Ông đã viết hai bài thơ hay nhất của mình với cái bụng no nê, đại để ông là người phàm ăn như nhiều người đa sầu đa cảm và ông đã chỉ dùng cái bút của em gái mình mười tám phút, trong khi đó toàn bộ sự nghiệp sáng tác thơ trữ tình của ông kéo dài trên tám năm.

Ngày nay Lotte sống bằng sự nghiệp thơ ca vẻ vang của anh trai mình; mặc dù chị ta đã cưới một người đàn ông tên là Hosse(*), nhưng chị ta chỉ gọi mình là “em gái của Bodo Bengelmann”. Chị ta luôn là kẻ rất khó chịu. Chị ta mách lẻo về Bodo mỗi khi ông làm thơ, vì việc làm thơ thuộc về những việc mà những người trong gia đình nhà Bengelmann cho là tốn nhiều thời gian, vì thế không cần thiết.

Nỗi dày vò của Bodo là lớn. Điều đó, sự cấm đoán ông làm thơ từ phía gia đình, dễ dàng thúc ép ông viết ra thứ gì đó hay ho của mình. Nhưng cứ mỗi khi ông làm thơ là Lotte phát hiện ra việc đó, giọng nói the thé của chị ta vang lên trong hành lang, trong bếp, chị ta hớn hở chạy thật nhanh vào phòng làm việc của cha mình, la lên “Bodo lại làm thơ!” và cha của chị - một người hết sức cương quyết - quát: “Đồ con lợn đó đâu?” (Từ ngữ được dùng ở gia đình nhà Bengelmann là hơi thiếu văn hóa.) Sau đó ông cho con trai mình ăn một trận đòn. Bodo, đa cảm như tất cả mọi nhà thơ trữ tình, bị túm vào cổ áo, bị kéo xuống cầu thang và bị đánh bằng cái thước kẻ cứng như thép, với nó cha của Bodo kẻ những đường kẻ xuống dưới những thông tin về trạng thái tài khoản của các khách hàng.
 

Minh họa: Nguyễn Thiện Đức

Sau này Bodo sáng tác nhiều ở nhà chúng tôi, và tôi là chủ nhân của gần bảy mươi bài thơ không công bố của Bengelmann mà tôi dự định bảo quản như là tiền lương hưu cho mình. Một trong những bài thơ này bắt đầu bằng những từ “Lotto, đồ phản trắc, ngấm ngầm…” (Bodo được coi là người cách tân của phép điệp vận).

Với những nỗi dày vò, hoàn toàn bị coi thường, thường xuyên bị đánh đòn, Bodo đã qua tuổi mười bảy của mình, ông đã được nhận bằng tốt nghiệp trung học loại giỏi và đã được cho đi học việc để trở thành một người bán giấy dán tường. Hoàn cảnh đã tạo thuận lợi cho việc sáng tác thơ trữ tình của ông: Ông chủ cửa hàng bán giấy dán tường, nơi Bodo học việc, phần nhiều say khướt nằm ở dưới quầy hàng, còn Bodo thì viết các bài thơ do mình sáng tác vào mặt trái của những miếng giấy dán tường dùng để làm mẫu.

Việc sáng tác thơ trữ tình của Bodo nhận được một động cơ thúc đẩy khác khi ông yêu say đắm cô gái mà ông đã ca ngợi trong “Những bài ca dành tặng nàng Theodora”, mặc dù tên của cô gái không phải là Theodora.

Thế rồi Bodo cũng sẽ bước sang tuổi mười chín, và vào ngày mùng một tháng Mười Hai ông đã đầu tư toàn bộ khoản lương học việc vào bưu phí và gửi tất cả ba trăm bài thơ tới ba trăm tòa soạn khác nhau mà không gửi kèm tiền bưu phí gửi trả lại: một sự táo bạo độc nhất vô nhị trong toàn bộ lịch sử văn chương. Bốn tháng sau - khi vẫn chưa đến hai mươi tuổi - Bodo đã là một người đàn ông lừng danh.

Một trăm năm mươi tư bài trong số các bài thơ của Bodo đã được đăng báo, và bây giờ sáng nào người bưu tá đầm đìa mồ hôi cũng dừng lại, xuống xe đạp trước cửa nhà của Bengelmann. Để biết được chính xác số lần các bài thơ được đăng của Bodo thì chỉ cần làm một phép tính nhân, trong đó người ta lấy con số 300 bài thơ của Bodo nhân với số lượng các tờ báo đã đăng thơ của ông, con số này tạm thời là 40 tờ.

Đáng tiếc là Bodo chỉ được hưởng danh tiếng của mình hai năm. Ông chết vì một trận cười sặc sụa. Một hôm ông thú nhận với tôi: “Danh tiếng chỉ nằm ở một vấn đề, đó là bưu phí” - sau đó ông nói thầm, “thậm chí tớ đã gửi đại thơ của mình đi”, rồi bật cười sặc sụa, càng ngày càng sặc sụa hơn - và chết. Đó là những câu duy nhất trong một bài tản văn có giá trị mà đã có lần ông bày tỏ: nhờ đó tôi nhắn gửi chúng cho đời sau.

Giờ đây danh tiếng của Bodo đã được tạo nên chủ yếu qua “những bài ca tặng nàng Theodora” của ông, một hợp tuyển bao gồm hai trăm bài thơ về thứ thơ tình tìm kiếm một cô gái vẫn yêu nồng nhiệt như ông. Những nhà phê bình riêng rẽ đã cố thử viết tiểu luận về chủ đề: “Ai đã là nàng Theodora?” Một nhà phê bình đồng nhất hóa nàng một cách trơ trẽn với một nữ thi sĩ cùng thời, còn đang sống, anh ta chứng minh điều đó có sức thuyết phục, khá tỉ mỉ về nữ thi sĩ mà Bodo đã chưa hề gặp mặt, nhưng giờ đây gần như bị ép buộc thừa nhận rằng nữ thi sĩ là nàng Theodora. Nhưng đó không phải là nàng: tôi biết rõ điều đó, vì tôi biết Theodora. Cô ấy tên là Käte Barutzki, đang đứng trong “cửa hàng bán rẻ của nhà Becker” tại bàn số 6, nơi cô đang bán văn phòng phẩm. Những bài thơ của Bodo được chép sạch sẽ ra giấy mua ở “cửa hàng bán rẻ của nhà Becker”; tôi thường có đủ dịp cùng với ông đã đứng nán lại ở cái bàn của cô Käte này, cô gái cũng là một người xinh đẹp: cô ấy có mái tóc vàng hoe, nói hơi thủ thỉ, không biết gì về thứ văn chương cao cấp hơn và đọc vào buổi tối ở trên tàu điện “những cuốn sách rẻ riền của cửa hàng nhà Becker” được bán cho các nhân viên với giá ưu đãi.

Ngay cả Bodo cũng không biết về những cuốn sách rẻ tiền này; điều đó không hề gây tổn hại cho tình yêu của ông. Tôi và Bodo đã thường đứng trước cửa hàng nhà Becker, đã rình mò Käte, đã theo dõi cô, vào những buổi chiều mùa hè, trong sương mù mùa thu chúng tôi đã lén theo cô gái này, ra đến tận khu ngoại thành, ở khu mà ngày nay cô ấy vẫn đang sống. Đáng tiếc là Bodo đã quá nhút nhát khi có dịp bắt chuyện với cô. Ông không thực hiện được điều đó, mặc dù ngọn lửa tình trong ông đang rực cháy. Ngay cả khi ông đã nổi tiếng, tiền nhiều như nước, thì ông vẫn luôn mua hàng ở “cửa hàng bán rẻ của nhà Becker”, chỉ để thường xuyên ngắm nhìn cô gái xinh đẹp này - cô Käte Barutzki trẻ trung, cô gái mỉm cười và nói thủ thỉ như một nữ thần. Vì thế ở trong “các bài ca dành tặng nàng Theodora” rất hay có lối ví von “sự luyến láy kì diệu, dịu dàng…”.

Bodo cũng thường xuyên gửi cho Käte Barutzki những lá thư giấu tên có những bài thơ, nhưng tôi cần phải tin là thứ thơ trữ tình này đã bị cho vào bếp lò của gia đình nhà Barutzki hoặc không được cô Käte đọc đến, nếu người ta muốn thừa nhận tôi là một bức tranh trung thực với tư cách là người viết thiên sử thi trung thực.

Vào buổi tối tôi vẫn còn thường xuyên đi đến “cửa hàng bán rẻ của nhà Becker”, và tôi đã nhận ra là mới đây Käte được một thanh niên đến đón, hiển nhiên cậu ta ít nhút nhát hơn Bodo và là thợ sửa chữa ô tô (xét đoán theo quần áo của cậu ta đang mặc trên người). Tôi có thể đối mặt với cuộc hội thảo của lịch sử văn chương, có thể chứng minh rằng cô Käte này và nàng Theodora của Bodo Bengelmann là một. Nhưng tôi không làm việc đó, vì tôi e ngại cho hạnh phúc của Käte, cũng là hạnh phúc của anh chàng thợ sửa chữa ô tô. Chỉ thỉnh thoảng tôi đi đến chỗ Käte bán hàng, lục lọi trong đống giấy trang kim, tìm kiếm trong “những cuốn sách rẻ tiền của cửa hàng nhà Becker”, chọn một cục tẩy, ngắm nhìn Käte và cảm thấy hơi thở của lịch sử đang phả vào mặt tôi.

Phạm Đức Hùng dịch từ nguyên bản tiếng Đức  
(TCSH389/07-2021)

--------------
(*) Ở các nước Âu - Mỹ phụ nữ sau khi lấy chồng sẽ mang họ chồng và được gọi theo tên họ của chồng.  




 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • AZIt NêxinNgày xưa, nhà vua ở một nước nọ có một kho bạc. Nghe đồn rằng trong kho bạc của nhà vua cất giữ một báu vật vô giá duy nhất của nước đó. Mọi người đều tự hào về báu vật mà tổ tiên đã để lại cho họ. “Mặc dầu chúng ta chẳng có gì cả, nhưng tổ tiên đã để cho chúng ta giữ một vật quý”, họ thường tự hào như vậy mà quên đi cảnh túng thiếu của mình.

  • AZIT NÊXIN (1915 - 1995)Một con chó chạy xồng xộc vào tòa báo "Tin tức đô thành”.

  • Nhà văn Mỹ Carson Mc Cullers sinh 1917. Các tác phẩm chính của bà là: Trái tim là kẻ đi săn cô độc (1940), Thành viên của đám cưới (1946), Khúc ballad của quán cà phê buồn (1951), Ngọt như dưa chua và sạch như heo (1954)…

  • Kamala Das tên thật là Kamala Suraiyya, sinh ngày 31.3.1934 tại Punnayurkulam, quận Thrissur, thành phố Kerala, vùng tây nam Ấn Độ. Bà là nhà văn nữ nổi tiếng của Ấn Độ. Bà sáng tác truyện ngắn bằng tiếng Malayalam. Bà sáng tác thơ và tiểu thuyết ngắn bằng tiếng Anh. Bà chủ yếu nổi tiếng trong thể loại truyện ngắn. Trong sự nghiệp sáng tác, bà đã có nhiều giải thưởng văn học, trong số đó là: Asian Poetry Prize, Kent Award for English Writing from Asian Countries, Asan World Prize, Ezhuthachan Award và một số giải thưởng khác nữa. Ngày 31 tháng Năm, 2009, bà mất tại bệnh viện thành phố Pune, Ấn Độ, thọ 75 tuổi.

  • HERTA MULLERHerta Mueller vừa được trao giải Nobel văn học 2009 vì đã mô tả cảnh tượng mất quyền sở hữu bằng một lối thơ cô đọng và một lối văn thẳng thắn. Truyện ngắn này rút từ tập truyện Nadirs (1982) là tác phẩm đầu tay của bà.

  • SHERMAN ALEXIENgay sau khi mất việc ở văn phòng giao dịch của người Anh điêng, Victor mới biết cha anh đã qua đời vì một cơn đau tim ở Phoenix, Arizoan. Đã mấy năm nay Victor không gặp cha, anh chỉ nói chuyện với ông qua điện thoại một hay hai lần gì đó, nhưng đó là một căn bệnh di truyền, có thực và xảy ra đột ngột như xương bị gãy vậy.

  • KOMATSU SAKYOKomatsu Sakyo sinh tại Osaka (Nhật Bản) (28/1/1931). Nhà văn chuyên viết  truyện khoa học giả tưởng nổi tiếng của Nhật Bản. Tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Kyoto, chuyên ngành Văn học Italia. Từ năm 1957 là phóng viên đài phát thanh Osaka và viết cho một số báo. Năm 1961 chiến thắng trong cuộc thi truyện ngắn giả tưởng xuất sắc do tạp chí “SF Magasines” tổ chức. Tác phẩm của Komatsu đã được dịch ra rất nhiều thứ tiếng trên thế giới. Có bốn tiểu thuyết đã được dựng thành phim.

  • FRANK R- STOCKTONCách đây năm năm, một sự kiện kì lạ đã xảy đến với tôi. Cái biến cố này làm thay đổi cả cuộc đời tôi, cho nên tôi quyết định viết lại nó. mong rằng nó sẽ là bài học bổ ích cho những người lâm vào tình cảnh giống tôi.

  • MIKHAIN SÔLÔKHỐP                Truyện ngắn Mùa xuân thanh bình đầu tiên đã về lại trên sông Đông sau những năm tháng chiến tranh. Vào cuối tháng Ba, những cơn gió ấm áp cũng đã thổi đến, và chỉ sau hai ngày tuyết cũng đã bắt đầu tan trên đôi bờ sông Đông. Khắp mọi ngả đường việc đi lại cũng vô cùng khó khăn.

  • KAHLIL GIBRANNguồn: A Treasury of Kahlil Gibran (Một kho tàng của Kahlil Gibran), Anthony Rizcallah Ferrris dịch từ tiếng Arập, Martin L. Wolf biên tập, Nxb Citadel Press, New York, HK, 1951.

  • ROBERT ZACKS (ANH)Nhân ngày quốc tế phụ nữ, tôi và anh tôi bàn nhau mua quà tặng mẹ. Đây là lần đầu tiên trong đời chúng tôi thực hiện điều này.

  • GUY DE MAUPASSANTÔng Marrande, người nổi tiếng và lỗi lạc nhất trong các bác sĩ tâm thần, đã mời ba đồng nghiệp cùng bốn nhà bác học nghiên cứu khoa học tự nhiên đến thăm và chứng kiến, trong vòng một giờ đồng hồ, một trong những bệnh nhân tại nhà điều trị do ông lãnh đạo.

  • GUY DE MAUPASSANTGia đình Creightons rất tự hào về cậu con trai của họ, Frank. Khi Frank học đại học xa nhà, họ rất nhớ anh ấy. Nhưng rồi anh ấy gửi thư về, và rồi cuối tuần họ lại được gặp nhau.

  • JAMAICA KINCAIDNhà văn hậu hiện đại Anh J. Kincaid sinh năm 1949. Mười sáu tuổi, bà đến New York làm quản gia và giữ trẻ. Bà tự học là chính. Tuyển tập truyện ngắn đầu tiên của bà: “Giữa dòng sông” (1984) nhận được giải thưởng của viện hàn lâm Văn chương và Nghệ thuật Mỹ; còn các tiểu thuyết “Annie” (1985), “Lucky” (1990) được đánh giá cao.

  • SAM GREENLEE (MỸ)Sam Greenlee sinh tại Chicago, nổi tiếng với thể loại tiểu thuyết.Ông cũng đóng góp nhiều truyện ngắn, bài báo trong “Thế giới da màu” (Black World); và xem như là bộ phận không thể tách rời trong văn nghiệp, bởi ông là nhà văn da màu. Tuy nhiều truyện ngắn của ông vẫn được thể hiện theo lối truyền thống, nghĩa là vào cửa nào ra cửa ấy; nhưng cái cách mở rộng câu chuyện ở giữa truyện, bằng lối kể gần gũi nhiều kinh nghiệm; đã gây được sự thú vị. Đọc “Sonny không buồn” qua bản dịch, dĩ nhiên, khó thấy được cái hay trong lối kể, bởi nếp nghĩ và văn hoá rất khác nhau; nhiều từ-câu-đoạn không tìm được sự tương đương trong tiếng Việt. Cho nên đọc truyện này, chỉ có thể dừng lại ở mức, cùng theo dõi những diễn tiến bên ngoài cũng như sự tưởng tượng bên trong của Sonny về môn bóng rổ, cả hai như một và được kể cùng một lúc.

  • DƯƠNG UÝ NHIÊN (Trung Quốc)Tôi không thể thay đổi được thói quen gần gũi với cô ấy nên đành trốn chạy ra nước ngoài. Tôi đã gặp được em. Khi đăng tác phẩm “Không thể chia lìa” trên một tạp chí xa tít tắp và dùng bút danh, tôi cho rằng mình không một chút sơ hở. Tôi nhận tiền nhuận bút và mua hai chai rượu quý nồng độ cao trên đường trở về. Tôi muốn nói với em điều gì đó nhân kỷ niệm ngày cưới.

  • S. MROZEK (Ba Lan)Tại thủ đô của một vương quốc nọ có một viện bảo tàng, trong đó có khu trưng bày về nền nghệ thuật phương Đông. Trong vô số các hiện vật trưng bày tại khu này có nhiều báu vật cực hiếm, giá trị văn hoá và giá trị bằng tiền của chúng vô cùng lớn. Trong số các vật hiếm này có một báu vật đầu bảng, bởi đó là bản duy nhất thuộc loại đó và cũng là bản duy nhất trên toàn cầu. Vì là hiện vật cực hiếm nên giá trị văn hoá của nó là độc nhất vô nhị, còn giá trị bằng tiền thời không tính xuể.

  • WILLIAM SAROYAN (Mỹ)Cả thế giới muốn tôi làm một chầu hớt tóc. Cái đầu tôi thì quá bự cho thế giới. Quá nhiều tóc đen, thế giới nói thế. Mọi người đều nói, khi nào thì mày định đi làm một chầu hớt tóc vậy hả nhóc kia?

  • SOMERSET MAUGHAM (ANH)Trang trại nằm giữa thung lũng, giữa những mỏm đồi ở Sômôsetsi. Ngôi nhà xây bằng đá theo mốt cũ được bao bọc bởi những kho củi, sân nhốt súc vật và những công trình bằng gỗ khác. Thời điểm xây dựng được chạm trổ trên cổng bằng những chữ số cổ đẹp đẽ: 1673.

  • SORBON (Tajikistan)Sorbon sinh năm 1940 tại làng Amondar  trong một gia đình nông dân  thuộc  tập đoàn sản  xuất nông nghiệp. Năm 1963 ông tốt nghiệp Đại học Lenin của Tajikistan với bằng tiến sĩ ngôn ngữ học. Các tác phẩm của Sorbon xuất hiện lần đầu vào năm 1965. Tuyển tập truyện ngắn đầu tiên của ông “Không phải tất cả đã được nói ra” xuất bản năm 1969. Nhiều truyện ngắn của ông mau chóng được thu thập lại, trong đó có truyện “Ngày đầu tiên đến trường” nói về một phụ nữ Tajikistan  trong Thế chiến thứ Hai, “Sự phòng thủ của đá” và “Người du mục” nói về sự thiết lập chính quyền Xô Viết tại ngôi làng ven sông Zeravshan, và “Áo khoác đồ sộ” nói về một cậu bé bị mất cha trong chiến tranh. Sorbon là nhà văn có tiếng tăm lớn của nền văn xuôi Tajikistan ở thập niên bảy mươi. Truyện ngắn “Người đánh bẫy chim” được viết năm 1974.