Minh họa: Phạm Đại
Bằng một động tác nhanh nhẹn, ông chánh án đưa tay phải nắm lấy chiếc búa con và gõ nhẹ xuống mặt bàn nhẵn bóng. Sau đó, ông đằng hắng, sửa lại kính rồi bắt đầu nghiên cứu những tờ giấy nằm trước mặt. Phòng xử án rộng lớn treo đầy cờ, quốc huy và các danh ngôn của những bậc vĩ nhân. Các bức tường phủ kín những tấm nhựa hóa học nặng nề làm giả gỗ sồi theo đúng kiểu xưa. Ở chỗ các hàng ghế dành cho công chúng, chỉ có ba máy quay truyền hình to tướng và mấy chiếc mi-crô. Mười bốn triệu người xem ti-vi đang theo dõi phiên tòa. Phiên tòa mà bên bị là I-u-han-nét Mi-clát Péc-xơn và bên nguyên là Nhà nước Thụy Điển được truyền hình trực tiếp qua kênh chính - kênh duy nhất làm tròn chức năng của mình, như lời người ta quảng cáo. Péc-xơn vóc người bé nhỏ, chắc nịch, mặc bộ com-lê tơ nhân tạo đã sờn, rộng thùng thình, mua ở cửa hàng bán đồ may sẵn. Sau ba tuần nằm trong nhà giam, anh ta râu ria xồm xoàm và người hôi hám. Nhưng bất luận thế nào, đông đảo người xem vừa mới thoạt nhìn đã cho rằng bị cáo là kẻ có tội. Péc-xơn gần như cảm thấy sự thù hằn phát ra từ những thấu kính của các máy quay truyền hình. Anh thấy người khó chịu và sợ hết hồn. Trong bất cứ trường hợp nào, dù anh bị kết tội hay được tha bổng, tương lai cũng chẳng hứa hẹn một điều gì tốt đẹp. Péc-xơn đã bị đóng dấu rồi! Đôi giầy bó chặt lấy chân anh. Cổ áo vét-tông cọ đau cả cổ. Người ta vẫn nhất quyết khép bị cáo vào tội giết người. Ông chánh án, bằng một giọng lạnh lùng, đã tuyên bố như vậy đó. Ông ta vừa tuyên bố, vừa xếp kính, cất vào bao. Các ông hội thẩm nhìn Péc-xơn chằm chằm. Péc-xơn cố tránh nhìn vào họ. Cuối cùng, ông luật sư xin nói. Ông bắt đầu bài nói của mình bằng những lời như sau: - Thưa ngài chánh án, thưa các ngài hội thẩm kính mến! Trước hết, tôi muốn nhấn mạnh rằng mục đích bài nói của tôi không phải là chứng minh người được tôi bào chữa có tội hay không có tội, mà chỉ là phân định hành vi của bị cáo. Đó là một vụ giết người không cố ý, một hành động tự vệ làm hại tới tài sản của người khác, hay chỉ là một hành động tự vệ đơn thuần? Tất cả các ngài đã biết rõ những tài liệu do cơ quan điều tra đưa ra, nhưng tôi xin phép được kể lại quá trình diễn biến các sự việc theo lời khai của người được tôi bào chữa. Cho đến nay, những lời khai này vẫn chưa được công bố. Mọi chuyện bắt đầu từ năm tuần về trước. Đã mấy năm nay, Péc-xơn làm việc tại một hãng quảng cáo nhỏ ở vùng ngoại ô Tây - Bắc Xtốc-khôm. Anh ta vốn là người quê ở phương Bắc, đến tận nay vẫn chưa hoàn toàn quen với nếp sinh hoạt trong một thành phố lớn. Điều đó cắt nghĩa vì sao bị cáo lại tỏ ra sợ sệt khi đi làm về muộn trong những ngày đông giá rét. Péc-xơn bao giờ cũng là một nhân viên tận tụy và một con người ngay thật. Anh chưa hề bị gọi đến đồn cảnh sát lúc nào và chưa bao giờ bị truy tố trước pháp luật. Vụ rắc rối đầu tiên xảy ra vào tối thứ sáu, lúc Péc-xơn đang trên đường đi về nhà và người máy bán hàng kiểu “Mắc-xi-côn-xum” đến quấy rầy anh ta, nếu tôi được phép nói như vậy. Péc-xơn không muốn và cũng không thể mua gì, điều này đã được xác nhận sau khi người máy tiến hành kiểm tra một cách thích đáng trên người Péc-xơn. Hẳn là tất cả các ngài đều biết rằng kiểu người máy ấy cũng như toàn bộ những người máy ở Xtốc-khôm đều thuộc xê-ri “người máy bách khoa - 16”. Chúng chỉ khác nhau ở bề ngoài. “Người máy bách khoa - 16” này hình dáng rất giống người, làm việc rất giỏi trong ngành công nghiệp nặng, nhưng chớ nên quên rằng chúng chẳng qua cũng chỉ là những cái máy mà thôi! Ông chánh án lầu bầu một câu gì không rõ. - Có lẽ khi nói chuyện với người máy, Péc-xơn đã diễn đạt không rõ ràng, điều đó đã truyền cho người máy một điện tích âm, - ông luật sư nói tiếp. Hẳn là sự việc đã diễn ra như thế. Vì bị sốc và bị chấn động thần kinh do tình trạng giam cầm khác thường gây ra, Péc-xơn không thể nhớ lại được những lời anh ta đã nói với người máy trong lần đầu tiên, nhưng điều đó cũng chẳng quan trọng lắm. Có thể, bộ phận điều khiển người máy bị rối loạn. Như mọi người đã biết, đây là một kiểu máy mới. Hơn thế nữa, người máy này lại vừa bắt đầu bán hàng tại khu vực của mình ở xung quanh ga tàu điện ngầm. Dù sao đi nữa thì vào hôm thứ hai tuần sau, gã người máy nọ lại đến quấy rầy Péc-xơn. Lần này, gã rắp tâm buộc Péc-xơn phải mua bằng được một món hàng gì đó. Sự việc cứ diễn ra nhùng nhằng như thế trong suốt hai tuần liền cho đến hôm thứ năm thảm họa ấy … Người được tôi bào chữa rất nghèo, anh không thể cho phép mình phung phí tiền nong. Song vì gã người máy quấy rầy quá đáng nên từ hôm thứ tư, Péc-xơn đã quyết định mang theo một ít tiền để thoát nợ gã. Anh tính mua một món hàng nhỏ rẻ tiền nào đó, chẳng hạn một gói mứt, Péc-xơn chưa kịp xuống tới sân ga, gã người máy nọ đã lập tức đâm bổ tới. Gã một mực ép Péc-xơn phải mua hàng của mình và bị cáo đã mua gói mứt với hy vọng “người máy bách khoa - 16” sẽ để cho anh yên. Thế nhưng gã người máy vẫn chưa chịu. Có lẽ bộ phận điều khiển người máy gọi là “Đạo luật số 1” đã ngừng hoạt động. Vì thế, theo lời xác nhận của những người chứng kiến, trong khi Péc-xơn luống cuống móc tiền trong túi, gã người máy đã xé quần áo của bị cáo và gây cho bị cáo mấy vết thâm tím. Chẳng có gì là lạ khi Péc-xơn, trong cơn hoảng loạn, đã toan tự vệ bằng cách đẩy gã người máy ra, làm gã ngã xuống đường ray. Đúng lúc đó, một đoàn tàu chạy đến đã cán chết người máy. Trên đoàn tàu có mấy viên cảnh sát. Họ lập tức điệu Péc-xơn vào đồn và lấy khẩu cung. Có lẽ do Péc-xơn ở trong tình trạng bấn loạn thực sự và các nhân chứng sợ hãi đã đưa ra những lời khai không rõ ràng, nên mấy viên cảnh sát nọ giải thích sai lệch tình hình thực tế và họ quả quyết rằng Péc-xơn đã cố ý đẩy gã người máy xuống đường ray cho đoàn tàu cán chết. Tôi chỉ còn biết lấy làm tiếc rằng cơ quan điều tra đã không đưa ra những bằng chứng cho lời buộc tội của mình, một lời buộc tội lặp lại nguyên xi những lời khai ban đầu của mấy viên cảnh sát nọ. Ông luật sư ngồi xuống. Ông chánh án lầu bầu một câu gì đó với người ngồi bên phải, người này chậm chạp gật đầu và lại ngồi im như phỗng. Ông chánh án nói: - Bây giờ, chúng ta sẽ nghe bên nguyên. Bên nguyên là Nhà nước Thụy Điển. Việc bản thân tôi cũng là một bộ phận trực tiếp của Nhà nước Thụy Điển không hề ảnh hưởng chút nào đến quyết định khách quan của tôi. Và cũng không hề ảnh hưởng chút nào đến quyết định của các ngài hội thẩm. Ông chánh án từ từ quay đầu về phía các ông hội thẩm. Lần đầu tiên trong suốt thời gian xét xử, các ông hội thẩm rời mắt khỏi Péc-xơn, làm cho bị cáo cảm thấy nhẹ người trong chốc lát. Ông ủy viên công tố đứng dậy, sửa lại áo vét-tông được là phẳng lì. Kính gọng sừng, mũi quặp, trán cao và cặp lông mày sâu róm tạo cho ông ta cái vẻ người nghiêm khắc nhưng công bằng. - Mục đích của tòa án là xác định chân lý. Chân lý, thưa quý bà và quý ông! Mà chân lý là cốt lõi của sự thật. Một sự thật không thể chối cãi được, không bác bỏ được, - ông ủy viên công tố gào lên các câu nói như là khẩu lệnh ấy về phía mấy người có mặt trong phiên tòa và mấy chiếc mi-crô. Tiếng nói của ông ta âm vang trong phòng xử án trống rỗng. - Sự thật là ở chỗ Nhà nước Thụy Điển sản xuất và bán ra các người máy nhằm phục vụ lợi ích của nhân dân, - ông ủy viên công tố nói tiếp. - Các cửa hàng phải đến với người mua chứ không phải ngược lại. Sự thật là ở chỗ các người máy ấy là đỉnh cao của sự sáng tạo trong lĩnh vực điện tử và trong lĩnh vực kỹ thuật cực kỳ tối tân. Sự thật là ở chỗ các người máy ấy được chế tạo ngày càng giống con người. Trong một đám đông, khó mà phân biệt nổi người máy với người bằng xương bằng thịt. Người ta làm như vậy cốt là để khi gặp người máy, không ai có ác cảm đối với máy móc. Trên nhiều lĩnh vực, những tạo vật có một không hai đó đang thực hiện một công việc lớn lao rất hữu ích cho xã hội. Các người máy ấy có giá trị không kém những con người bằng xương, bằng thịt, thậm chí còn có giá trị hơn nữa là đằng khác. Thêm một chi tiết nữa: đặc điểm bề ngoài duy nhất của người máy vừa bị chết là ở bụng có gắn một bộ máy có thể làm các thủ tục hợp đồng. Những cái gì còn lại, người máy này chẳng khác gì các người máy thường.
Ông ủy viên công tố ngừng một lát để những lời của ông ta kịp đi vào nhận thức của mấy người có mặt trong phiên tòa. - Các ngài hãy nhìn thẳng vào bị cáo! Y có dáng dấp của một tên tội phạm… - Tôi phản đối, - luật sư của Péc-xơn huơ tay. - Phản đối cái gì? - ông chánh án giật mình. - Ngài ủy viên công tố quyết đoán rằng dường như bề ngoài của người được tôi bào chữa thể hiện bản chất của anh ta. - Thật ư? - Đúng thế. Ngài ủy viên công tố nói rằng bị cáo có dáng dấp của một tên tội phạm, nhưng điều đó… - Lời phản đối sai lệch. Ngài luật sư hãy cố nghĩ một điều gì đó thì hơn. - Quay sang ông ủy viên công tố, ông chánh án nói: - Xin mời ngài nói tiếp! - Cám ơn ngài chánh án! - ông ủy viên công tố đáp và hít không khí vào lồng ngực như tiếng còi rít. - Tên tội phạm kia! - Ông ta quát, chỉ tay vào chàng Péc-xơn bất lực đang run cầm cập vì khiếp sợ. - Người đã làm nhục nhân dân Thụy Điển! Bằng những mánh khóe xảo quyệt, ngươi giết hại các người máy bán hàng tốt nhất của chúng ta! Những câu nói vang lên như những loạt đại bác. Ông ủy viên công tố nói mười phút liền và lúc gần cuối, do gào thét quá độ, ông ta buộc phải cứu vãn sức lực đang cạn dần bằng “Bia tăng lực” mà người ta đã đặt sẵn ở chiếc bàn con, trước các máy quay truyền hình. Nhưng lúc ông ủy viên công tố thong thả uống cạn ly bia, những người xem ti-vi không đắm mình trong sự im lặng tuyệt đối. Chiếc mi-crô giữa các hộp bia đã thu trọn vẹn những tiếng ừng ực phát ra từ cổ họng ông ủy viên công tố và truyền những tiếng ừng ực ấy theo kênh trực tiếp vào thẳng mạng lưới truyền hình. Lúc ấy ít ra cũng có đến hai trăm ngàn người xem ti-vi đứng dậy, lấy trong tủ lạnh mỗi người một hộp “Bia tăng lực” để thích thú uống cạn nó cùng với ông ủy viên công tố. Những người chậm chạp hơn cũng làm theo họ lúc ông ủy viên công tố đã đặt ly xuống bàn và vừa ợ, vừa chùi bọt bia dính trên môi. Bây giờ mới có thể tiếp tục phiên tòa. Xoạc rộng hai chân, ông ủy viên công tố đứng giữa phòng xử án và búng ngón tay đánh toách. Trên màn ảnh trắng hiện lên hình ảnh một người đang ngồi tươi cười bên bàn giấy. - Đó là ngài I-ô-ran Rút mà mọi người đều biết rõ. Ông là giám đốc công ty du lịch, - ông ủy viên công tố ngừng một lát. - Không một ai trong chúng ta bối rối khi được biết ngài Rút là người máy thuộc xê-ri “ người máy bách khoa”. Tất cả những ai đã từng đi du lịch hay sẽ còn đi du lịch đều biết rõ rằng Công ty của ngài Rút phục vụ rất tốt các khách hàng của mình. - Trên màn ảnh nối tiếp nhau các cảnh những người du lịch tươi vui, nước da sạm nắng. Máy chiếu lại đổi cảnh. Bây giờ trên màn ảnh xuất hiện người điều khiển các chương trình truyền hình hấp dẫn, một người được cả nước hâm mộ. - Trước mặt các ngài là ngài Tơ-rê-vin, người mà tất cả chúng ta đều biết là một nhân vật hết sức đáng yêu. Ngài Tơ-rê-vin cũng là người máy. Một điều đã được chứng minh từ lâu: các người máy giữ cương vị lãnh đạo đang làm cho cuộc sống của chúng ta bớt khó khăn. Chúng ta không còn phải bổ nhiệm vào các chức vụ then chốt những con người bằng xương bằng thịt chưa được hoàn thiện. Các người máy chẳng hề bị khốn khổ vì bệnh loét bao tử, cũng chẳng hề bị khốn khổ vì những chuyện bê bối nào đó. Các người máy là những vị cứu tinh của chúng ta! Các người máy là tương lai của chúng ta! Các người máy là đỉnh cao của sự sáng tạo! Tiếng nói của ông ủy viên công tố âm vang trong phòng xử án, còn chính ông ta thì quay về phía các ông hội thẩm. Trong khi đó, trên màn ảnh xuất hiện một cảnh mới, lần này là hình ảnh các nhà thể thao trẻ tuổi. - Cố tình giết hại người máy lẽ nào lại không phải là một tội ác? Giết hại người máy có nghĩa là xâm phạm đến sự tiến bộ của dân tộc và của nhân loại! người máy đã được hoàn thiện! Đã được hoàn thiện! Vì thế, tôi yêu cầu các ngài hãy dành hình phạt cao nhất cho kẻ hủ lậu, nguy hiểm đối với xã hội kia. Hình phạt cao nhất! - Ông ủy viên công tố lần cuối cùng nhìn thẳng vào các ông hội thẩm và ngồi xuống. Ông chánh án nghiêm nghị nhìn Péc-xơn và luật sư của anh ta. - Ngài luật sư có phát biểu gì thêm trước khi các ngài hội thẩm lui vào phòng nghị án không? Ông luật sư nhìn Péc-xơn với cái nhìn của một người cha (Công ty truyền hình đặt nhiều hy vọng vào cái nhìn ấy) và lắc đầu. Ông chánh án quay về phía các ông hội thẩm: - Vậy thì các ngài chỉ còn việc quyết định xem ai có tội: bị cáo Péc-xơn đã đẩy người máy xuống đường ray hay người chế tạo ra người máy ấy, tức là Nhà nước Thụy Điển. Nhà nước Thụy Điển, xin nhắc lại như vậy. Tôi hy vọng rằng quyết định của các ngài sẽ công bằng. Các ông hội thẩm lui vào phòng nghị án. Péc-xơn thì thầm một câu gì đó với ông luật sư, ông này lắc đầu thương hại. *** Các ông hội thẩm trở lại phòng xử án. Lặp lại nghi thức đứng lên, ngồi xuống. - Bị cáo là kẻ có tội - ông Chủ tịch hội thẩm đoàn tuyên bố và ngồi xuống. Ông ủy viên công tố nhìn ông Chủ tịch hội thẩm đoàn một hồi lâu với vẻ hài lòng. Ông chánh án quang sang phía Péc-xơn: - I-u-han-nét Mi-clát Péc-xơn, theo điều một, chương ba Bộ luật Nhà nước thứ hai, người bị kết án hình phạt cao nhất; tống vào khoảng không vũ trụ không có không khí. Đây là bản án cuối cùng và bản án này phải được thi hành ngay. Thét lên một tiếng khản đặc, Péc-xơn đâm bổ ra cửa, nhưng ông chánh án, ông ủy viên công tố, viên mõ tòa và một nửa hội thẩm đoàn đã nhanh chân hơn bị cáo. Trong chốc lát, Péc-xơn đã bị lấp hẳn dưới đống thân hình chồng chất. *** Cuộc hành hình Péc-xơn được truyền hình trực tiếp đi khắp nước. Vào đúng giờ thuận tiện nhất mà những người xem ti-vi có thể quây quần cả gia đình trước màn ảnh nhỏ, người ta tống Péc-xơn vào một cái hòm kín; anh ta cào gãy cả móng tay vào thành hòm bọc thép. Sau đó, người ta phóng cái hòm ấy vào khoảng không vũ trụ, Péc-xơn đã chết đúng giữa lúc anh ngạc nhiên phát hiện ra rằng trong khoảng không vũ trụ không có không khí, quả là chẳng có gì để thở. *** Ông chánh án lui vào phòng làm việc của mình và ngồi xuống chiếc ghế bành sau bàn giấy. Ở đấy ông ta lấy cái phích cắm điện giấu ở nách cắm vào máy tiếp năng lượng. *** Ông ủy viên công tố phải nạp ắc quy suốt cả buổi tối. Những lời hò hét nảy lửa của ông đã ngốn mất quá nhiều năng lượng. *** Ông luật sư đã nhận tiền thù lao của Nhà nước Thụy Điển. Tấm séc do ngài Bộ trưởng Bộ các phương tiện thông tin đại chúng ký tên. Nét chữ ký hơi vụng về vì các động cơ trợ động ở bàn tay chưa làm được những động tác thật khéo léo. Nhà nước Thụy Điển cảm ơn ông luật sư về sự đóng góp của ông vào vụ án Péc-xơn, vụ án này phải chứng tỏ cho nhân dân Thụy Điển thấy rằng việc cản trở sự tiến bộ nguy hiểm như thế nào. *** Người ta xếp các ông hội thẩm cùng viên mõ tòa vào kho sau khi đã cắt nguồn điện. MINH ĐĂNG KHÁNH Dịch từ tập truyện khoa học viễn tưởng Thụy Điển “Màu hy vọng: xanh” (Nhà xuất bản Thế giới, Mát-xcơ-va 1982) (13/6-85) |
MISHIMA YUKIO (Nhật Bản)Nhà văn Nhật Bản Mishima Yukio (1925 - 1970) bắt đầu in các tác phẩm của mình từ những năm 20 tuổi. Ông được tặng nhiều giải thưởng văn học và ba lần được đề cử vào giải Nobel văn chương.
PAUXTÔPXKIChúng ta yêu mến thứ ánh sáng bảo hiểm của những ngọn hải đăng nhưng ít khi nhìn thẳng vào nó. Thường chỉ có những người bảo vệ và các tay lái tàu dán mắt vào hải đăng để kiểm tra bí mật độ loé sáng của nó. Bởi vì tất cả hải đăng trên biển đều nháy và nhấp nhánh khác nhau, theo những tín hiệu đó, người ta có thể biết được hải đăng nào và con tàu đang ở đâu.
SLAWOMIR MROZEK (Ba Lan)(Lê Bá Thự dịch từ nguyên bản tiếng Ba Lan)
ALPHONSE DAUDETSự kiện phản ánh trong truyện xảy ra năm 1871, thời kỳ chiến tranh Pháp - Phổ, khi quân đội Phổ (Đức) đã chiếm đóng và sáp nhập hai tỉnh Alsace và Lorraine của Pháp vào lãnh thổ Đức.
DOMINIQUE DE VILLEPINTác giả Dominique de Villepin, sinh năm 1953, đương kim Bộ trưởng Ngoại giao Pháp, là người phát ngôn cho chính sách hòa bình đối lập với đường lối chiến tranh Bush-Blair trong vụ tập kích Irak đầu năm 2003. Nơi đầu sóng ngọn gió của bang giao quốc tế, ông đã đồng thời cho xuất bản một khảo luận về Thơ, Ngợi ca những Người Cướp Lửa, tượng trưng cho Người Làm Thơ, qua hình ảnh mượn của Arthur Rimbaud, lấy từ huyền thoại Prométhée.
MARK TWAINTwain, Mark, (Samuel Langhorne Clemens), nhà văn Mỹ, (1835-1910). Sinh tại Florida, bang Missouri. Là con thứ tư trong một gia đình thương nhân nghèo. Chưa đầy 12 tuổi, Clemens đã phải thôi học để học nghề sắp chữ in, rồi làm đủ nghề. Năm 1853, bị thôi thúc bởi ý muốn tìm hiểu thế giới, lên đường đi nhiều nơi, làm thợ in công nhật ở St. Louis, New York và Philadelphia. Đến sông Mississipi, hành trình dự kiến đi Brazil bị đình lại vì Clemens lại mơ ước trở thành hoa tiêu trên sông.
HARUKI MURAKAMI (Nhật Bản)Chàng và nàng đang đi trên một con đường. Dọc bãi tha ma. Lúc nửa đêm. Sương mờ vây phủ. Họ tuyệt nhiên không định đi ở nơi chốn này vào lúc này. Nhưng vì các nguyên do khác nhau họ đã buộc phải đi. Họ bước vội vàng, nắm chặt tay nhau.
GRAHAM GREENE (Anh)Có tám người đàn ông Nhật đang ăn bữa tối ở nhà hàng cá nổi tiếng Bentley's. Họ chỉ trao đổi với nhau dăm ba câu bằng thứ tiếng mẹ đẻ khó hiểu của họ, nhưng luôn có nụ cười nhã nhặn và thường mỗi câu lại kèm một cử chỉ cúi đầu lịch thiệp. Tất cả tám người, trừ có một, đều đeo kính. Thỉnh thoảng cô gái xinh đẹp ngồi phía cửa sổ lại đưa một cái nhìn lướt qua họ, nhưng xem ra chuyện của cô ta quá quan trọng, khiến cô ta không thể thực sự chú ý tới bất kỳ ai trên đời ngoài chính mình và người ngồi cùng bàn.
VICTORIA CHIE (ÚC)Cảm giác xấu hổ như kẻ đang làm điều mờ ám, Anne Peterson đặt bút run run ghi tên mình vào phần trống trong bản tự giới thiệu của văn phòng môi giới hôn nhân. Chẳng lẽ lại đến nông nổi này sao? 49 tuổi, trông còn rất trẻ, duyên dáng, đầy sức sống, thành đạt, vật chất đầy đủ, đã ly dị, thế mà phải nhờ môi giới kiếm cho một tấm chồng. Mà anh ta là ai, cũng là một kẻ nào đấy tìm đến đây với những dòng tự giới thiệu cứng nhắc. Thôi, đành vậy chứ biết sao, chỉ vì quá yêu con gái Cindy mà Anne đã phải chịu đựng nỗi trống trải cô đơn ròng rã suốt bao năm trời.
NGÔ KIM LƯƠNG (Trung Quốc)"Nếu còn gặp người, nhất định phải nói", Trần Tĩnh đang nghĩ, ngước mắt lên nhìn ánh đèn vàng vọt trong ngõ nhỏ. Đêm khuya rồi, khắp nơi là hình ảnh kỳ quái của một màn đêm đen kịt. "Ai cha! Chiếc xe đạp xui xẻo này!" - Cô đẩy chiếc xe, không biết phải nói thế nào.Sau lưng vang lên một hồi chuông xe đạp, Trần Tĩnh "ai cha" một tiếng, chàng trai cưỡi xe đạp đã lướt vèo qua rồi.
S.MROZEKCó một lần tôi đi du lịch.Vì không có tàu trực tiếp đến nơi tôi cần tới nên tôi phải xuống một ga dọc đường để chuyển sang tàu khác.Hôm đó là một buổi tối. Mãi sáng hôm sau con tàu tiếp theo tôi sẽ phải đi mới đến.Tôi rời nhà ga, vào thị trấn để kiếm nơi ở trọ.
JOYCE BEGG (Úc)Bà Firbank trở thành hàng xóm của chúng tôi đã lâu, dễ đến sáu bảy năm nay, nhưng thật sự trong chúng tôi chẳng ai dám khẳng định mình biết rõ về người đàn bà này. Xung quanh bà ta lúc nào cũng bao phủ một bầu không khí bí hiểm, ma quái, ngay cả toà dinh thự cổ của bà ta cũng gợi cho người ta cái vẻ rờn rợn, lạnh lẽo giống như nơi trú ẩn của những linh hồn cõi âm.
KRISHNAN VARMAKrishnan Varma sinh ở Kerala, Ấn Độ. Ông viết bằng hai thứ tiếng Anh và Malayalam. Trong nhiều tác phẩm của mình, ông chia sẻ sự quan sát đối với cuộc sống của lớp người cùng khổ trên đất nước ông.
ARTURO VIVANTELời giới thiệu: Nhà văn Arturo Vivante sinh năm 1923 ở Rome, tốt nghiệp cử nhân đại học McGill, Canada, 1945, tốt nghiệp y khoa đại học Rome, 1949. Ông hành nghề bác sĩ toàn khoa, đồng thời sinh hoạt và nghiên cứu về văn chương ở một số trường đại học Mỹ. Vivante là nhà văn rất nổi tiếng với các truyện cực ngắn và các giai thoại.
KÔNXTANTIN PAUXTÔPXKI Mùa Thu. Những hạt sương mai tháng Chín lạnh giá, mọng nước rơi tung tóe từ những tán lá trên cao xuống và bắn cả vào người tôi. Sương từ các nhành cây nhỏ giọt xuống mặt nước sông đen thẫm, tạo thành những vòng tròn và chậm rãi lan ra xung quanh.
LTS: Mario Bendetti sinh tại Paso de los Toros (Tacuarembó ) ngày 14 tháng 9 năm 1920. Ông theo học tại trường tiểu học tiếng Đức ở Montevideo và trường trung học Miranda, đã từng làm nhiều nghề như nhân viên bán hàng, tốc kí, kế toán, viên chức nhà nước và phóng viên. Từ năm 1938 đến 1941 ông sống chủ yếu ở Buenos Aires . Năm 1945, khi trở về Montevideo, ông viết bài cho tuần báo nổi tiếng Marcha, qua đó trở thành phóng viên bên cạnh Carlos Quijano và rồi trở thành một thành viên trong ê-kíp của ông này cho tới tận năm 1974 khi tuần báo ngừng xuất bản.Năm 1973, vì lí do chính trị, ông phải rời bỏ tổ quốc,bắt đầu cuộc sống lưu vong kéo dài mười hai năm ở những quốc gia: Ác-hen-ti- na và Tây Ban Nha. Quãng thời gian này đã để lại những dấu ấn vô cùng sâu sắc trong cuộc đời ông cũng như trong văn nghiệp.
YUKIO MISHIMA (Nhật Bản)YUKIO MISHIMA tên thật là HIRAOKA KIMITAKE (1925-1970). Sinh tại Tokyo.Tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Tokyo . Nhà văn, kịch tác gia, đạo diễn sân khấu và điện ảnh, diễn viên.Năm 16 tuổi đã xuất bản truyện vừa lãng mạn Khu rừng nở hoa. Tiểu thuyết Lời thú tội của chiếc mặt nạ ra năm 1949 đã khẳng định tên tuổi của nhà văn trẻ tài năng và trở thành tác phẩm được đánh giá là kinh điển của nền văn học Nhật Bản.
KOMASHU SAKIO (Nhật Bản)Sinh 28/1/1931 tại Osaka (Nhật Bản). Nhà văn chuyên viết truyện khoa học giả tưởng nổi tiếng của Nhật Bản.Tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Kyoto , chuyên ngành Văn học Italia.Từ năm 1957 là phóng viên Đài Phát thanh Osaka và viết cho một số các báo. Năm 1961 chiến thắng trong cuộc thi truyện ngắn giả tưởng xuất sắc do tạp chí "SF Magasines" tổ chức.Tác phẩm của Komatsu đã được dịch ra rất nhiều thứ tiếng trên thế giới.
S. MROZEK (Ba Lan)Có lần tôi bắt gặp một con chó ác bụng đang rượt đuổi một con mèo. Bởi tôi là người yêu động vật nên tôi bèn vớ ngay một cục đá to sụ quẳng vào con chó khiến nó ngã lăn quay, nằm đứ đừ một hồi lâu. Chú mèo nhỏ không nhà, con vật bé xíu nom mệt phờ râu. Không chút do dự - tôi cho nó nương nhờ. Đây quả là một con mèo đẹp mã, lông mịn màng, mắt long lanh. Tôi đem nhốt nó vào trong nhà, đoạn bỏ đi chơi bời trác táng.
KITA MORIO (Nhật Bản)Kita Morio (sinh năm 1927) là nhà văn thuộc thế hệ hậu chiến của Nhật Bản. Tốt nghiệp Đại học Y. Năm 1960 được trao giải thưởng mang tên Akutagawa với truyện ngắn Trong bóng tối đêm, cốt truyện xảy ra trong một bệnh viện tâm thần ở Đức thời kì Chiến Tranh Thế Giới thứ II. Nổi tiếng với các tác phẩm giả tưởng khoa học và chống chiến tranh.