Một cái bàn là một cái bàn

09:22 13/03/2020

Peter Bichsel sinh tại Lucerne (Thụy Sĩ) ngày 24 tháng 3 năm 1935, là con của một người thợ thủ công. Ông là nhà giáo dạy tại một trường tiểu học cho tới năm 1968.

Ảnh: internet

Ông nổi tiếng với tập truyện ngắn đầu tiên “And really Frau Blum would very much like to meet the Milkman/ Và thật sự Frau Blum rất muốn gặp người bán sữa” (1964); sau đó ông được mời gia nhập vào Nhóm 47 (Group 47), là Hiệp hội Nhà văn Đức do Hans Werner Richter làm chủ tịch; và tiểu thuyết đầu tiên của ông The Seasons/ Các mùa (1965) được giải thưởng Group 47 Prize năm 1965. Từ 1985, ông là thành viên của học viện Ngôn ngữ và Văn chương Đức tại Darmstadt. Bichsel sống ở Bellach thuộc bang Solothurn. Ông đã có nhiều giải thưởng văn chương, trong số đó là Great Schiller Prize và Gottfried Keller Prize.

Ông là tác giả của hơn 20 tác phẩm văn học và hàng trăm bài báo. Truyện ngắn dưới đây được Lydia Davis dịch từ tiếng Đức sang tiếng Anh.


                                Võ Hoàng Minh giới thiệu và dịch


 

PETER BICHSEL  

Tôi muốn kể một câu chuyện về một ông già, một người không còn nói một lời nào, có một khuôn mặt mệt mỏi, quá mệt để cười và quá mệt để giận. Ông sống ở một thị trấn nhỏ, ở cuối một khu phố hay gần một giao lộ. Gần như không có gì quan trọng để miêu tả ông, khó mà phân biệt ông với những người khác. Ông đội một cái mũ màu xám, mặc quần xám, áo vét xám và áo khoác dài mùa đông màu xám, và ông có cái cổ gầy da nhăn và khô, những cái cổ áo sơ mi trắng của ông quá rộng đối với ông.

Phòng ông ở tầng trên cùng của tòa nhà, có lẽ ông đã từng lập gia đình và có con, có lẽ ông từng sống ở một thị trấn khác. Chắc chắn ông từng là một đứa trẻ, nhưng vào thời mà trẻ con được cho ăn mặc như những người lớn. Người ta có thể thấy chúng như thế trong quyển an bum ảnh của bà nội. Trong phòng của ông có hai cái ghế dựa, một cái bàn, một tấm thảm, một cái giường và một tủ quần áo. Trên cái bàn nhỏ là cái đồng hồ báo thức, kế bên đồng hồ báo thức là chồng báo cũ và cuốn an bum ảnh, trên tường treo một tấm gương và một bức tranh.

Ông già sẽ đi dạo một lần vào buổi sáng và một lần vào buổi chiều, nói vài lời với người hàng xóm của ông, và buổi tối thì ông ngồi ở bàn.

Những việc này không hề thay đổi, luôn là vậy kể cả những ngày chủ nhật. Và khi ông già ngồi ở bàn, ông sẽ nghe tiếng đồng hồ tích tắc, đồng hồ luôn luôn tích tắc.

Thế rồi đến một ngày đặc biệt, một ngày nắng tốt, không quá nóng, không quá lạnh, có chim kêu chiêm chiếp, có nhiều người thân thiện, trẻ em thì đang chơi - và điều đặc biệt là bất chợt ông già thích tất cả những điều này.

Ông mỉm cười.

“Bây giờ mọi chuyện sẽ thay đổi,” ông nghĩ.

Ông cởi nút trên cùng áo sơ mi, cầm nón trong tay, bước đi nhanh nhẹn, thậm chí có cả vẻ nhún nhảy trong bước chân khi ông đi dạo, và vui vẻ. Ông về con đường nhà ông, gật đầu với lũ trẻ, đến trước tòa nhà ông ở, lên đến bậc cầu thang trên cùng, lấy chìa khóa ra khỏi túi, và mở cửa phòng ông.

Nhưng trong phòng ông mọi thứ vẫn như cũ, một cái bàn, hai cái ghế tựa, một cái giường. Và khi ông ngồi, ông lại nghe tiếng đồng hồ tích tắc, và tất cả niềm vui của ông rời bỏ ông, vì không có gì thay đổi.

Và ông già bùng phát cơn giận.

Ông thấy trong gương khuôn mặt ông đang đỏ, mắt trừng trừng; rồi ông nắm chặt hai bàn tay, nâng lên, và nện xuống mặt bàn, mới đầu là một cú nện, rồi thêm cú nữa, rồi ông nện thình thình lên mặt bàn như đánh trống đồng thời quát to:

“Phải thay đổi, phải thay đổi!”

Và ông không còn nghe tiếng đồng hồ nữa.

Khi tay ông bắt đầu đau, giọng ông yếu, ông lại nghe tiếng đồng hồ, và không có gì thay đổi.

“Luôn luôn là cái bàn cũ,” ông nói, “hai cái ghế cũ, cái giường, bức tranh. Và mình gọi cái bàn là cái bàn, gọi bức tranh là bức tranh, cái giường là cái giường, và người ta gọi cái ghế là cái ghế. Nhưng thực sự tại sao vậy? Người Pháp gọi cái giường là “lee”, cái bàn là “tahbleh”, họ gọi bức tranh là “tahblo” và cái ghế là “shez”, và họ hiểu được nhau. Và người Trung Quốc cũng hiểu nhau.

“Tại sao cái giường không được gọi là bức tranh,” ông già nghĩ và mỉm cười, rồi cười thành tiếng, cười cho tới khi mấy người hàng xóm dộng vào tường và quát “Im đi nào!”

“Giờ thì sự việc thay đổi,” ông nói to và từ lúc này trở đi ông gọi cái giường là ‘bức tranh”.

“Mình mệt, mình sẽ đến bức tranh,” ông nói thế, và trong những buổi sáng ông sẽ thường nằm nán trong bức tranh một hồi lâu và ngẫm nghĩ về vật mà lúc này ông gọi là cái ghế, và ông đặt tên cho cái ghế là “đồng hồ báo thức”.
 

Minh họa: Nguyễn Duy Linh

Vậy là ông rời giường, mặc quần áo, ngồi lên cái đồng hồ báo thức, và đặt hai tay lên bàn. Nhưng cái bàn không còn được gọi là bàn nữa, mà lúc này có tên là tấm thảm.

Vậy là trong buổi sáng ông già sẽ rời bức tranh, mặc quần áo, ngồi chỗ tấm thảm trên cái đồng hồ báo thức và ngẫm nghĩ về các vật bây giờ ông có thể gọi bằng những tên khác.

Cái giường ông gọi là bức tranh.
Cái bàn ông gọi là tấm thảm.
Cái ghế ông gọi là đồng hồ.
Tờ báo ông gọi là cái giường.
Tấm gương ông gọi là ghế.
Cái đồng hồ ông gọi là anbum ảnh.
Tủ quần áo ông gọi là tờ báo.
Tấm thảm ông gọi là tủ quần áo.
Bức tranh ông gọi là cái bàn.
Và album ảnh ông gọi là tấm gương.

Thế là:

Vào buổi sáng, ông già sẽ nằm nán lại trong bức tranh một hồi lâu, đến chín giờ thì album ảnh reo, ông già dậy và giẫm lên tủ quần áo để chân không lạnh cóng, rồi ông sẽ lấy quần áo ra từ tờ báo, mặc vào, nhìn mình trong cái ghế trên tường, ngồi xuống trên cái đồng hồ ở chỗ tấm thảm và lật lật tấm gương cho tới khi ông đụng đến cái bàn của mẹ ông.

Ông già thấy sự vụ này vui, và ông tập suốt ngày và nhớ những từ mới. Bây giờ tất cả được đặt tên lại: ông không còn là một người đàn ông, mà là một bàn chân, và bàn chân là buổi sáng, và buổi sáng là người đàn ông.

Giờ thì bạn có thể tự mình viết ra truyện. Và lúc ấy bạn có thể làm như ông già đã làm và đổi tên gọi những từ khác:

tiếng chuông reo được gọi là tiếng bước chân,
ướp lạnh được gọi là giương mắt nhìn,
nằm được gọi là reo,
đứng gọi là đóng băng,
bước được gọi là trổ lá.
Vậy thì đoạn văn đọc là:

Trong người đàn ông, bàn chân già sẽ vẫn reo trong bức tranh một hồi lâu, lúc chín giờ anbum ảnh sẽ bước, bàn chân cảm thấy lạnh và trổ lá trên tủ quần áo để nó sẽ không nhìn buổi sáng.

Ông già mua mấy quyển vở màu xanh và viết đầy những từ mới, việc này làm ông rất bận rộn và bây giờ ít khi thấy ông già ra đường.

Rồi ông học những từ mới về tất cả các thứ, và khi ông học từ mới thì ông ngày càng quên những từ đúng. Ông có một ngôn ngữ mới chỉ thuộc về ông.

Thỉnh thoảng ông mơ về ngôn ngữ mới, rồi ông dịch những bài hát hồi ông còn đi học sang ngôn ngữ của ông, và ông hát nho nhỏ cho chính mình nghe.

Nhưng chẳng bao lâu việc dịch thuật này cũng vất vả đối với ông, ông hầu như đã quên ngôn ngữ cũ, và ông phải tìm những từ đúng trong mấy quyển vở màu xanh của ông. Và việc trò chuyện với người khác làm ông lo âu. Ông phải nghĩ hồi lâu về những gì người ta nói.

Bức tranh của ông người ta gọi là cái giường.
Tấm thảm của ông người ta gọi là cái bàn.
Cái đồng hồ báo thức của ông người ta gọi là cái ghế.
Cái giường của ông người ta gọi là tờ báo.
Cái ghế của ông người ta gọi là tấm gương.
Cuốn anbum ảnh của ông người ta gọi là cái đồng hồ báo thức.
Tờ báo của ông người ta gọi là tủ quần áo.
Tủ quần áo của ông người ta gọi là tấm thảm.
Cái bàn của ông người ta gọi là bức tranh.
Tấm gương của ông người ta gọi là cuốn anbum ảnh.

Đến một lúc ông già phát cười khi nghe người ta nói chuyện.

Ông bật cười khi ông nghe một người nói:

“Ngày mai ông cũng đi xem bóng đá chứ?” Hay khi một người nói: “Tôi có một người chú ở Mỹ.”

Ông phải cười, vì ông không hiểu hết các câu đó.

Nhưng đây không phải là một chuyện vui.

Truyện khởi đầu buồn và kết thúc buồn.

Ông già mặc áo khoác xám không còn hiểu được người khác, điều đó không tệ lắm.

Điều tệ hơn nhiều là họ không còn hiểu được ông.

Và vì thế ông không nói nữa.

Ông im lặng, chỉ nói với chính mình, thậm chí không chào hỏi họ.   

(TCSH372/02-2020)

..............................................
(Nguồn: http://www.thewhitereview.org/fiction/a-table-is-a-table/)  




 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • MISHIMA YUKIO (Nhật Bản)Nhà văn Nhật Bản Mishima Yukio (1925 - 1970) bắt đầu in các tác phẩm của mình từ những năm 20 tuổi. Ông được tặng nhiều giải thưởng văn học và ba lần được đề cử vào giải Nobel văn chương.

  • PAUXTÔPXKIChúng ta yêu mến thứ ánh sáng bảo hiểm của những ngọn hải đăng nhưng ít khi nhìn thẳng vào nó. Thường chỉ có những người bảo vệ và các tay lái tàu dán mắt vào hải đăng để kiểm tra bí mật độ loé sáng của nó. Bởi vì tất cả hải đăng trên biển đều nháy và nhấp nhánh khác nhau, theo những tín hiệu đó, người ta có thể biết được hải đăng nào và con tàu đang ở đâu.

  • SLAWOMIR MROZEK (Ba Lan)(Lê Bá Thự dịch từ nguyên bản tiếng Ba Lan)

  • ALPHONSE DAUDETSự kiện phản ánh trong truyện xảy ra năm 1871, thời kỳ chiến tranh Pháp - Phổ, khi quân đội Phổ (Đức) đã chiếm đóng và sáp nhập hai tỉnh Alsace và Lorraine của Pháp vào lãnh thổ Đức.

  • DOMINIQUE DE VILLEPINTác giả Dominique de Villepin, sinh năm 1953, đương kim Bộ trưởng Ngoại giao Pháp, là người phát ngôn cho chính sách hòa bình đối lập với đường lối chiến tranh Bush-Blair trong vụ tập kích Irak đầu năm 2003. Nơi đầu sóng ngọn gió của bang giao quốc tế, ông đã đồng thời cho xuất bản một khảo luận về Thơ, Ngợi ca những Người Cướp Lửa, tượng trưng cho Người Làm Thơ, qua hình ảnh mượn của Arthur Rimbaud, lấy từ huyền thoại Prométhée.

  • MARK TWAINTwain, Mark, (Samuel Langhorne Clemens), nhà văn Mỹ, (1835-1910). Sinh tại Florida, bang Missouri. Là con thứ tư trong một gia đình thương nhân nghèo. Chưa đầy 12 tuổi, Clemens đã phải thôi học để học nghề sắp chữ in, rồi làm đủ nghề. Năm 1853, bị thôi thúc bởi ý muốn tìm hiểu thế giới, lên đường đi nhiều nơi, làm thợ in công nhật ở St. Louis, New York và Philadelphia. Đến sông Mississipi, hành trình dự kiến đi Brazil bị đình lại vì Clemens lại mơ ước trở thành hoa tiêu trên sông.

  • HARUKI MURAKAMI (Nhật Bản)Chàng và nàng đang đi trên một con đường. Dọc bãi tha ma. Lúc nửa đêm. Sương mờ vây phủ. Họ tuyệt nhiên không định đi ở nơi chốn này vào lúc này. Nhưng vì các nguyên do khác nhau họ đã buộc phải đi. Họ bước vội vàng, nắm chặt tay nhau.

  • GRAHAM GREENE (Anh)Có tám người đàn ông Nhật đang ăn bữa tối ở nhà hàng cá nổi tiếng Bentley's. Họ chỉ trao đổi với nhau dăm ba câu bằng thứ tiếng mẹ đẻ khó hiểu của họ, nhưng luôn có nụ cười nhã nhặn và thường mỗi câu lại kèm một cử chỉ cúi đầu lịch thiệp. Tất cả tám người, trừ có một, đều đeo kính. Thỉnh thoảng cô gái xinh đẹp ngồi phía cửa sổ lại đưa một cái nhìn lướt qua họ, nhưng xem ra chuyện của cô ta quá quan trọng, khiến cô ta không thể thực sự chú ý tới bất kỳ ai trên đời ngoài chính mình và người ngồi cùng bàn.

  • VICTORIA CHIE (ÚC)Cảm giác xấu hổ như kẻ đang làm điều mờ ám, Anne Peterson đặt bút run run ghi tên mình vào phần trống trong bản tự giới thiệu của văn phòng môi giới hôn nhân. Chẳng lẽ lại đến nông nổi này sao? 49 tuổi, trông còn rất trẻ, duyên dáng, đầy sức sống, thành đạt, vật chất đầy đủ, đã ly dị, thế mà phải nhờ môi giới kiếm cho một tấm chồng. Mà anh ta là ai, cũng là một kẻ nào đấy tìm đến đây với những dòng tự giới thiệu cứng nhắc. Thôi, đành vậy chứ biết sao, chỉ vì quá yêu con gái Cindy mà Anne đã phải chịu đựng nỗi trống trải cô đơn ròng rã suốt bao năm trời.

  • NGÔ KIM LƯƠNG (Trung Quốc)"Nếu còn gặp người, nhất định phải nói", Trần Tĩnh đang nghĩ, ngước mắt lên nhìn ánh đèn vàng vọt trong ngõ nhỏ. Đêm khuya rồi, khắp nơi là hình ảnh kỳ quái của một màn đêm đen kịt. "Ai cha! Chiếc xe đạp xui xẻo này!" - Cô đẩy chiếc xe, không biết phải nói thế nào.Sau lưng vang lên một hồi chuông xe đạp, Trần Tĩnh "ai cha" một tiếng, chàng trai cưỡi xe đạp đã lướt vèo qua rồi.

  • S.MROZEKCó một lần tôi đi du lịch.Vì không có tàu trực tiếp đến nơi tôi cần tới nên tôi phải xuống một ga dọc đường để chuyển sang tàu khác.Hôm đó là một buổi tối. Mãi sáng hôm sau con tàu tiếp theo tôi sẽ phải đi mới đến.Tôi rời nhà ga, vào thị trấn để kiếm nơi ở trọ.

  • JOYCE BEGG (Úc)Bà Firbank trở thành hàng xóm của chúng tôi đã lâu, dễ đến sáu bảy năm nay, nhưng thật sự trong chúng tôi chẳng ai dám khẳng định mình biết rõ về người đàn bà này. Xung quanh bà ta lúc nào cũng bao phủ một bầu không khí bí hiểm, ma quái, ngay cả toà dinh thự cổ của bà ta cũng gợi cho người ta cái vẻ rờn rợn, lạnh lẽo giống như nơi trú ẩn của những linh hồn cõi âm.

  • KRISHNAN VARMAKrishnan Varma sinh ở Kerala, Ấn Độ. Ông viết bằng hai thứ tiếng Anh và Malayalam. Trong nhiều tác phẩm của mình, ông chia sẻ sự quan sát đối với cuộc sống của lớp người cùng khổ trên đất nước ông.

  • ARTURO VIVANTELời giới thiệu: Nhà văn Arturo Vivante sinh năm 1923 ở Rome, tốt nghiệp cử nhân đại học McGill, Canada, 1945, tốt nghiệp y khoa đại học Rome, 1949. Ông hành nghề bác sĩ toàn khoa, đồng thời sinh hoạt và nghiên cứu về văn chương ở một số trường đại học Mỹ. Vivante là nhà văn rất nổi tiếng với các truyện cực ngắn và các giai thoại.

  • KÔNXTANTIN PAUXTÔPXKI Mùa Thu. Những hạt sương mai tháng Chín lạnh giá, mọng nước rơi tung tóe từ những tán lá trên cao xuống và bắn cả vào người tôi. Sương từ các nhành cây nhỏ giọt xuống mặt nước sông đen thẫm, tạo thành những vòng tròn và chậm rãi lan ra xung quanh.

  • LTS: Mario Bendetti sinh tại Paso de los Toros (Tacuarembó ) ngày 14 tháng 9 năm 1920. Ông theo học tại trường tiểu học tiếng Đức ở Montevideo và trường trung học Miranda, đã từng làm nhiều nghề như nhân viên bán hàng, tốc kí, kế toán, viên chức nhà nước và phóng viên. Từ năm 1938 đến 1941 ông sống chủ yếu ở Buenos Aires . Năm 1945, khi trở về Montevideo, ông viết bài cho tuần báo nổi tiếng Marcha, qua đó trở thành phóng viên bên cạnh Carlos Quijano và rồi trở thành một thành viên trong ê-kíp của ông này cho tới tận năm 1974 khi tuần báo ngừng xuất bản.Năm 1973, vì lí do chính trị, ông phải rời bỏ tổ quốc,bắt đầu cuộc sống lưu vong kéo dài mười hai năm ở những quốc gia: Ác-hen-ti- na và Tây Ban Nha. Quãng thời gian này đã để lại những dấu ấn vô cùng sâu sắc trong cuộc đời ông cũng như trong văn nghiệp.

  • YUKIO MISHIMA (Nhật Bản)YUKIO MISHIMA tên thật là HIRAOKA KIMITAKE (1925-1970). Sinh tại Tokyo.Tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Tokyo . Nhà văn, kịch tác gia, đạo diễn sân khấu và điện ảnh, diễn viên.Năm 16 tuổi đã xuất bản truyện vừa lãng mạn Khu rừng nở hoa. Tiểu thuyết Lời thú tội của chiếc mặt nạ ra năm 1949 đã khẳng định tên tuổi của nhà văn trẻ tài năng và trở thành tác phẩm được đánh giá là kinh điển của nền văn học Nhật Bản.

  • KOMASHU SAKIO (Nhật Bản)Sinh 28/1/1931 tại Osaka (Nhật Bản). Nhà văn chuyên viết truyện khoa học giả tưởng nổi tiếng của Nhật Bản.Tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Kyoto , chuyên ngành Văn học Italia.Từ năm 1957 là phóng viên Đài Phát thanh Osaka và viết cho một số các báo. Năm 1961 chiến thắng trong cuộc thi truyện ngắn giả tưởng xuất sắc do tạp chí "SF Magasines" tổ chức.Tác phẩm của Komatsu đã được dịch ra rất nhiều thứ tiếng trên thế giới.

  • S. MROZEK (Ba Lan)Có lần tôi bắt gặp một con chó ác bụng đang rượt đuổi một con mèo. Bởi tôi là người yêu động vật nên tôi bèn vớ ngay một cục đá to sụ quẳng vào con chó khiến nó ngã lăn quay, nằm đứ đừ một hồi lâu. Chú mèo nhỏ không nhà, con vật bé xíu nom mệt phờ râu. Không chút do dự - tôi cho nó nương nhờ. Đây quả là một con mèo đẹp mã, lông mịn màng, mắt long lanh. Tôi đem nhốt nó vào trong nhà, đoạn bỏ đi chơi bời trác táng.

  • KITA MORIO (Nhật Bản)Kita Morio (sinh năm 1927) là nhà văn thuộc thế hệ hậu chiến của Nhật Bản. Tốt nghiệp Đại học Y. Năm 1960 được trao giải thưởng mang tên Akutagawa với truyện ngắn Trong bóng tối đêm, cốt truyện xảy ra trong một bệnh viện tâm thần ở Đức thời kì Chiến Tranh Thế Giới thứ II. Nổi tiếng với các tác phẩm giả tưởng khoa học và chống chiến tranh.