Kim Long - những ngày xuân thanh lịch

09:06 07/09/2016

TÔN THẤT BÌNH

Kim Long (còn được gọi là Kim Luông) vốn là đất các chúa Nguyễn chọn nơi lập phủ từ năm 1636 đến 1687. Năm 1687 chúa Nguyễn Phúc Trăn mới dời phủ về Phú Xuân, cách Kim Long chỉ 3 cây số, dọc theo bờ Sông Hương.

Ảnh: internet

Từ đó, Kim Long được làm nơi thờ các chúa Nguyễn, nhưng các dấu tích một thời vàng son vẫn còn bóng dáng: Chùa chiền, đền đài, dinh thự cổ kính của các ông Hoàng, bà chúa, thế gia vọng tộc ở Huế dù mang nét rêu phong vẫn tiềm tàng vẻ đẹp xưa.

Đấy là một vùng đất có truyền thống văn hóa: Chùa Linh Mụ trên đồi Hà Khê; Văn Thánh, Võ Thánh, trường Quốc Tử Giám, trường thi đều được xây dựng tại Kim Long. Đây còn là nơi Lê Quý Đôn ung dung dạo chơi lúc rảnh rỗi và có công khai canh làng Xuân Hòa (1). Con gái Kim Long nổi tiếng đẹp, nết na và đảm đang, làng An Ninh dệt vải, các xóm thôn ở Kim Long có truyền thống làm mứt bánh, chẳng thế mà dân gian vẫn lưu truyền câu ca dao:

Kim Long có gái mỹ miều
Trẫm thương, trẫm nhớ, trẫm liều, trẫm đi.


Nét quanh co uốn lượn của giòng Hương trên đồi Vọng Cảnh đến địa phận Kim Long trở nên mênh mang, êm ả. Cô gái chèo thuyền trên sông có thể giãi bày tâm tư bằng câu hò mái nhì man mác:

Kim Long dãy dọc tòa ngang,
Em chèo một chiếc thuyền nan về Sình
Đôi đứa mình lỡ hẹn ba sinh
Có mần răng đi nữa cũng trọn tình với nhau
.

Cảnh sắc Kim Long nhờ Sông Hương trở nên hữu tình. Trải bao năm tháng, Kim Long vẫn gây được cảm xúc thi tứ dạt dào trong lòng khách tha phương. Nhà thơ Nam Trân chẳng thể giấu tình cảm của mình trong "Huế đẹp và thơ":

Thuyền nan đủng đỉnh sau hàng phượng,
Cô gái Kim Luông yểu điệu chèo
Tôi xuống thuyền cô, cô chẳng biết
Rằng thơ thấy đẹp phải tìm theo...


Do một vùng đất có truyền thống văn hóa như vậy, Kim Long ngày xưa cũng như hiện tại vẫn giữ được những nét đáng yêu. Đây là vùng của dinh thự, phủ đệ bao đời trước, các nhà - vườn tiêu biểu ở Huế, lối kiến trúc lập vườn không chỉ chú trọng đến kinh tế mà còn đậm đà nét văn hóa trong bố cục tổng thể. Đây còn là vùng văn nghệ dân gian nổi tiếng, nơi tập trung các tay hò, các nghệ sĩ đàn lão luyện, nơi mà các sinh hoạt rộn rã vui tươi một thời của ngày Tết còn dư âm mãi cho đến những năm đầu thế kỷ XX này. Có thể kể ở vùng này, trong những ngày Xuân, dân gian đã có những sinh hoạt khá phong phú: chơi bài thai, bài chòi, bài vụ, xem hát bội, đua trãi, đá gà. Nổi tiếng nhất là ở dinh bà chúa Tám với các trò chơi đá gà thai đố. Cạnh đó là trường hát bội một thời vang bóng (2) nơi tụ họp các danh tài như Giáo Khế, Cửu Am sắm kép, đào thì có cô Tư Huệ danh sắc một thời.

Trong những trò chơi ngày Tết ở Kim Long, đáng tìm hiểu nhất là trò chơi đố thai thường diễn ra hàng năm tại các dinh phủ ông Hoàng, bà chúa, các thế gia vọng tộc hoặc các nhà trí thức, hò bài thai trong dân gian được bày khắp các nẻo đường thôn xóm.

Đố thai là một trò chơi đố chữ vừa thanh nhã lại dung hợp được tính dân gian và bác học, ai cũng có thể tham dự đố thai. Đây là một trò chơi cốt thử thách trí thông minh, tài sử dụng ngôn ngữ.

Ban tổ chức chơi đố thai thường dán một câu thách đố bằng thể thơ lục bát dân gian vào cái lồng đèn lớn treo trước dinh; người tham dự nhìn vào câu thơ, suy ngẫm cách giải dựa vào chìa khóa hướng dẫn trả lời ở chữ đả (đánh) viết cuối câu. Đánh sai sẽ được nghe vài tiếng mỏ lốc cốc, nếu đánh trúng, một hồi trống vang dội, tiếp đó ban tổ chức sẽ cho người bưng quà tặng đặt trên một chiếc khay nhỏ đến thưởng tận tay người dự đoán, quà thường là những kỷ vật có giá trị.

Như vậy người chơi sẽ không mất tiền đoán mà chỉ được thưởng nếu thông minh, lanh trí đáp trúng.

Nhiều giai thoại xung quanh cuộc chơi đố thai này được lưu truyền.

Một dịp Tết nọ, tại dinh bà Chúa Tám có câu thai đố:

Có ăn mà chịu đã xong
Không ăn mà chịu cực lòng gian nan
.
            Đả: Mộc danh và nhân danh.

Câu này thật khó đánh, thường thì chỉ một lời đáp, hoặc mộc danh (tên cây) hoặc nhân danh (tên người). Tên cây và tên người phải xuất phát từ địa phương. Nhiều người đoán nhưng chẳng ai trúng, sau cùng ông Lý Đài, một người có tính nghịch ngợm, ưa trêu cợt người khác giải được bằng câu vần:

Chưởi cây bưởi nghe, mụ nghè làm chứng

Một hồi trống vang lên tán thưởng cho tài lanh trí của ông. Ông đã đoán được thâm ý của người ra câu thai kia muốn nhắm vào ông mà châm chọc, vì mụ Nghè ông quen chồng chết đã lâu.

Cũng nên lưu ý rằng vùng Kim Long đất tốt, rất thích hợp để trồng thanh trà, bưởi, mít... những cây lưu niên có giá trị kinh tế.

Một lần khác, câu thai đố ra khá hóc hiểm, tuy xuất phát từ một câu ca dao trữ tình đầy ý nghĩa và nhiều người biết:

Thương nhau cởi áo cho nhau.
Về nhà mẹ hỏi qua cầu gió bay

                        Đả: Dụng cụ

Ông Bá Đảo làng Xuân Hòa đã thắng cuộc thi giải đáp:

Thương nhau cho nhau áo, mẹ hỏi nói dối qua cầu gió bay, đó là con dấu.

Thế đó! Muốn giải thai đố cần phải vận dụng trí thông minh, tài ngôn ngữ và thêm một ít tinh thần trào phúng nữa.

Nhiều câu thai đố lại thử thách tài năng bác học. Lối chiết tự chữ Hán cũng được sử dụng, ví như câu:

Chán chi gỗ mít, gỗ xoan,
Tạm dùng lếu láo vài gian tu hành.

                                    Đả: Chữ

Đáp: Chữ đẳng 等 gồm bộ trúc (tre) ở trên, chữ tự (chùa) ở dưới. Chùa được dựng bằng tre.

Đố thai là một trò chơi của trí thức ngày tết, hò bài thai là một trò chơi dân gian, dùng hình thức thai đố bằng câu hò. Căn cứ trên 30 con bài tới có những tên lạ lùng, mộc mạc, những hình tượng, vật thể, con người gần gũi với quần chúng: Xơ, nhọn, tám tiền, xe, nghèo, gà, lá liễu, đỏ mỏ, rún, voi, sưa, dày, quăng, thầy, tứ cẳng, nọc đượng...

Từ lâu bộ bài tới trở thành một bộ bài phổ biến trong dân gian dùng để chơi bài nọc, bài chòi, bài tới, bài thai. Với trò chơi bài thai, người chơi phải vận dụng trí thông minh mà đoán tên con bài, sau khi nghe một câu hò du dương đầy tính trữ tình của người hò cái: Đây là trò chơi có ăn tiền, nhưng không nặng tính chất sát phạt. Người chơi được thưởng gấp 8 đến 10 lần số tiền đặt nếu đánh trúng con bài thai. Nhưng niềm vui lý thú hơn là được nghe câu hò ân ái, đầy ý nghĩa mà người tham dự phải suy luận theo lối dân gian mới dễ đánh trúng, vì cách suy diễn để đoán con bài thai khác hẳn lối suy luận để đoán tên trong đố thai.

Ví dụ như câu:

Chàng đừng lời thở tiếng than mà thiếp đau lòng xót dạ,
Đêm em nằm nơi trướng hạ, thấy anh sao đặng chừ.
Đạo làm con là do quyền thầy mẹ, tấm thân của em chừ như ngọn cỏ đá dằn.
Ví dầu thầy mẹ không thương chàng đi nữa em đây cũng vô lòn ra cúi để lời nỉ tiếng năn cho thương chàng.


Đó là con rún, lối giải thích như sau.

Phận làm con đành vô lòn ra cúi cho nên dù cha mẹ có làm gì cũng bầm gan tím ruột mà chịu, nhưng lòng tựa như rún bị cắt hai.

Lối suy diễn để giải con bài thai trên quả là chơn chất mộc mạc; có thể suy diễn theo nhiều cách khác nhau, đó là mẹo mực của người cái. Bộ bài tới có 30 tên con bài nên dễ có nhiều lời giải cho một câu hò. Ví như câu này:

Tay chàng vén mùng rồi là tay chàng bưng chén thuốc,
Đỡ em ngồi dậy vội vuốt Cúc Hoa Khuyên em uống chén thuốc này cho bệnh khỏi tai qua
Sợ em cho số ba mươi thiên tào dĩ tận rứa thì ai bỏ cá với cơm và cho hai con.


Giải thích: Con ầm. Sợ cho em số ba mươi thiên tào dĩ tận khi nớ em lên Trời bỏ con.

Câu trên có thể suy diễn thành con tử (chết) lấy từ con bài: thái tử; hoặc con liễu, ám chỉ người phụ nữ.

Có lẽ người cái không thể dùng một logích chặt chẽ để giải con bài, nếu vậy ai cũng có thể đánh trúng. Đôi khi lại còn dùng phương cách đánh tráo ý nghĩa ngôn từ để giải. Câu hò bài thai sau là một ví dụ:

Chàng nghe thiếp phân mấy lời sau trước,
Trở lui về mượn người mai chuốt mối dong
Qua thưa thầy thầy không đẹp dạ, thưa mẹ mẹ chẳng vừa lòng.
Mẹ với thầy chê chàng ở xứ quê mùa thôn dã nên chi đôi đứa chìm nổi linh đinh với rứa hoài.


Đó là con trường ba.

Giải thích: vì thầy mẹ không vừa lòng nên duyên đôi ta ba chìm ba nổi.

Rõ ràng là người cái đã đánh tráo ý nghĩa ngôn từ. Theo thể thức thi hương ngày trước, vượt qua được 3 trường gọi là tam trường (trường ba); nhưng ở câu này, người cái bỏ từ trường, chỉ lấy từ ba, trong con bài trường ba để giải thích là ba chìm ba nổi. Qua cách giải thích này, nếu không quen với lối suy diễn dân gian khó có thể đánh trúng con bài thai được úp ở dưới chiếu.

Chơi bài thai ở Kim Long trong những ngày xuân phổ biến cho đến ngày Giải phóng. Các nghệ nhân hò bài thai nổi tiếng ở đây vẫn còn được nhân dân nhắc nhở (3) mỗi lần tiết Xuân trở lại trên vùng đất cổ ấy, với niềm luyến tiếc xa xôi một trò chơi dân gian thanh nhã, cũng như đố thai đầy tính thanh lịch ở phủ bà chúa Tám.

T.T.B
(TCSH40/01-1990)


-----------------
(1) Giữa ở miếu khai canh làng Xuân Hòa hiện còn có câu:
Bổn thổ hộ bộ Thượng thơ kiêm binh bộ Hành hạ Thuận Hóa Quảng Nam đẳng xứ Lê Tướng công tôn thần
Dân Xuân Hòa cử tên gọi đôn nhà, chỉ gọi là nóc nhà, lấy ngày Lê Quý Đôn về xứ (25 tháng 9 Âm Lịch) để làm lễ kỵ ông khai canh hàng năm.

(2) Trường hát này do bà chúa Tám cùng chồng là phò mã Năm (thường gọi là ông Phò năm), ông Ưng Duy (tục danh là Hầu Bảy), ông Nguyễn Mộng Thạch (Nghè Quang) và ông Thập Bối thành lập.

(3) Ông Nguyễn Ao sinh năm 1918 tại Huế và con gái là Nguyễn thị Cúc, người đã sáng tác các câu hò trích dẫn ở trên.





 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • LÊ MINH PHONGDọc theo đôi bờ Sông Hương, nơi có những công viên quyến rũ là điểm trưng bày của một số công trình nghệ thuật.

  • NHỤY NGUYÊN(Xây dựng Thừa Thiên Huế trở thành thành phố trực thuộc trung ương)

  • LÊ PHÙNGSau nhiều ngày cùng nhau trăn trở - nghĩ suy - hiệp lực - hiệp tâm của những anh, chị em nhạc sĩ ở Huế, Nhạc Quán đã chính thức trình làng với công chúng yêu thích âm nhạc tại Huế vào lúc 20h, ngày chủ nhật (02/01/2011) là ngày Đinh Tỵ (nguyệt đức hợp, tế tự, đính hôn) trong tiết trời vào xuân của Huế, có sáng nắng chiều mưa, có gió về đêm, có lòng người ấm áp, có không gian lãng mạn, trữ tình.

  • HỒ VĨNHMới đây trong quá trình sưu tầm tư liệu Hán Nôm tại Cố đô Huế, chúng tôi tìm thấy được một văn bản có liên quan đến Phường Đúc Huế.

  • TƯỜNG THITôi trở lại Hương Trà bằng ký ức của hơn 20 năm trước, trên con đường đất băng qua những vườn thanh trà trĩu quả ven con sông Bồ thơ mộng để đến làng Lại Bằng, xã Hương Vân. Một xã tiếp giáp núi và đồng bằng, nơi đã ghi lại dấu ấn lịch chống giặc ngoại xâm của Thừa Thiên Huế - địa đạo Khe Trái.

  • NGUYỄN ĐẮC XUÂNTrong những năm gần đây, Huế đã được các nhà đông phương học và khách du lịch trong nước và ngoài nước lưu ý.

  • MAI KHẮC ỨNGLăng Minh Mạng nằm dưới chân núi Cẩm Kê thuộc thôn La Khê làng An Bằng huyện Hương Trà cũ, nay là thôn Liên Bằng, xã Hương Thọ, thành phố Huế. Địa thế dải đất này rất đẹp. Hiện thời cây cối ở chung quanh đã lùi xa để lại những khoảng trống nối dài trên các triền đồi thoai thoải, khu lăng trở nên lẻ loi hơn.

  • LÊ HUỲNH LÂMCó lẽ một trong những loài động vật gần gũi, gắn bó với người dân xứ Huế trong mọi thời cuộc là loài hến. Cho dù trải qua bao thăng trầm, bao biến cố trên mảnh đất nhỏ bé này, mọi thứ có thể thịnh suy nhưng hến vẫn trường tồn. Trường tồn như một nét văn hóa thầm lặng, khiêm tốn, không khua trương, ồn ào,… mà âm thầm tỏa ngát hương.

  • PHAN HỨA THỤYChùa Thiên Mụ là một công trình kiến trúc có qui mô lớn và xuất hiện khá sớm trong quá trình hình thành phát triển của văn hoá Phú Xuân. Cũng như phần lớn các công trình kiến trúc cổ khác, chùa Thiên Mụ từ khi mới được xây cất trở về sau lần lượt đã được dựng nhiều tấm bia, hoặc để ghi lại công việc tu tạo, hoặc đề thơ vịnh cảnh, hoặc ghi cảm tưởng trong những lần vãn cảnh chùa của một số vua chúa nhà Nguyễn.

  • NGUYỄN ĐÌNH HÒE VÀ L.CADIÈRE(Tiếp theo SH số 5 – tháng 2 - 1984)

  • NGUYỄN ĐÌNH HÒE VÀ L.CADIÈRE(B.A.V.H. 1992, trang 189-203)HỒ TỊNH TÂM - Từ thời Gia Long, khi xây kinh thành Huế, một nhánh sông đã được ngăn chặn lại ở trên làng Kim Long hiện nay và dòng sông đó bị lấp đi ở một vài nơi, một số nơi khác thì được mở rộng và uốn nắn lại cho đều đặn. Chính một phần của nhánh sông ngày xưa ấy đã tạo ra Hồ Tịnh Tâm, nay ở tại bên trái đường Lục bộ, gần với Cầu kho, hay vùng nhượng địa (cho Pháp ở Mang Cá lớn).

  • HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNGCó lẽ thiên nhiên đã giữ một vai trò nào đó, thực quan trọng, trong sự tổng hợp nên cái mà người ta có thể gọi là “bản sắc Huế”. Bởi vì thiên nhiên bao giờ cũng biểu hiện một cách nhất quán giữa cái hằng cửu và cái biến dịch, giữa cái biến động và cái tĩnh tại.

  • MAI KHẮC ỨNGBất chợt. Tưởng như có con lợn chạy giữa sân điện Cần Chánh tại Hoàng thành Huế. Định thần lại tôi đã nhìn thấy chúng trong mấy ô trang trí bên thân hai chiếc vạc đồng đúc thuở Kim Long còn là phủ chúa dưới thời Hiền vương Nguyễn Phúc Tần (1648 - 1687) mà lạc khoản lại ghi Thịnh Đức thứ 8 và Thịnh Đức thứ 10. Bản chú thích bên hai vạc này ghi là đúc năm 1660 và 1662.

  • L.N.D: Vào năm 1822, dưới triều Minh Mạng, một người Anh là John Crawfurd có dịp đến Huế và được hai người Pháp lúc bấy giờ đang làm quan ở đây là Chaigneau và Vannier hướng dẫn đi thăm Kinh Thành. Dưới đây là những gì mà Crawfurd đã viết về Huế trong ngày viếng thăm ấy: 29-9-1822. Chúng tôi dịch từ bản Pháp ngữ của H.Cossarat trong B.A.V.H. 1933, No1-2, tr.5-10.

  • PHẠM ĐĂNG TRÍThuở ấy, có nhiều người từ những miền đất màu mỡ nhưng vẫn dời nhà đến ở trên một vùng gò đồi đầy sỏi đá. Nguyên nhân lôi cuốn họ tới đây là do màu sắc thiên nhiên ở chốn này thật là thanh tú, đa dạng và không ngừng thay đổi.

  • LÊ VĂN HẢOTháng 12 năm 1979 tại thành phố Pitxanulôcơ (Pitsanulok) Thái Lan, ông Tổng Giám đốc Tổ chức Giáo dục Khoa học và Văn hoá của Liên Hiệp Quốc (gọi tắt là UNESCO) đã triệu tập một cuộc họp của những chuyên gia nhằm chuẩn bị cho một Chương trình nghiên cứu các đô thành lịch sử ở châu Á. Chương trình này sẽ nhằm vào một số đô thành cổ kính đã từng đóng những vai trò có ý nghĩa trong sự phát triển và giao lưu của các nền văn hoá ở châu Á.

  • Chiều 8.6, tại Nam Châu Hội Quán trên vùng cỏ cây Kim Long xứ Huế, GALA TINH HOA SÔNG HƯƠNG đã được tổ chức nhằm tôn vinh Nhà xuất bản Tinh Hoa - Huế.

  • NGUYỄN ĐẮC XUÂNỞ mục “Phương vị quê hương” này, tạp chí sẽ lần lượt đăng các bài tìm hiểu văn hoá ngắn gọn nhưng có… duyên văn chương. Chúng tôi vui mừng được sự hưởng ứng của các nhà nghiên cứu lão thành am hiểu Huế - Bình Trị Thiên như các cụ Bửu Kế, Phan Văn Dật, Nguyễn Hữu Đính, Phạm Đăng Trí… cùng các anh Lê Văn Hảo, Nguyễn Đắc Xuân, Phan Thuận An… Chúng tôi cũng mong nhận được bài của các bạn ở các tỉnh miền Trung nói về phong vị quê hương mình để tạo được giao lưu văn hoá trên giải đất gắn bó lâu đời này.

  • MẶC KHÁCHHuế nguyên là đất đế đô, nơi sinh trưởng của vua chúa, chốn triều đình quan lại, đa số tao nhân mặc khách đều tụ họp về đây. Do đó mà tiếng nói của xứ Huế, trang nhã thanh tao, có khi lại nặng mùi “bề trên” hoặc kiểu cách đến buồn cười.

  • NGUYỄN HỮU ĐÍNHMột nhà văn tên tuổi địa phương - địa phương nhưng kiêm cả Trung ương - đã say sưa mô tả con sông Hương, với một đầu đề trớ trêu và duyên dáng: “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” Trớ trêu và duyên dáng hơn nữa là nêu lên câu hỏi mà không chịu trả lời.