Khát vọng thơ ca và tình yêu

08:39 13/04/2009
BÍCH THU          (Đọc thơ Dòng sông mùa hạ của Hoàng Kim Dung. NXB Hội Nhà văn, 2004)Nhìn vào tác phẩm đã xuất bản của Hoàng Kim Dung, tôi nhận thấy ở người phụ nữ này có sự đan xen giữa công việc nghiên cứu khoa học với sáng tạo thi ca. Ngoài bốn tập thơ và bốn cuốn sách nghiên cứu về nghệ thuật đã in, với tập thơ thứ năm có tựa đề Dòng sông mùa hạ mới ra mắt bạn đọc, đã làm cán cân nghiêng về phía thơ ca.

Có lẽ không phải do ngẫu nhiên mà Hoàng Kim Dung bộc bạch “sẽ thế nào khi tôi không làm thơ”. Điều ấy giải thích vì sao chị đã tự nguyện ghi tên vào hội “đoạn trường nghệ thuật”, dấn thân vào con đường thi ca, dẫu biết “thơ như lộc trời cho trong đau đớn nhọc nhằn”, vẫn coi nó như một cách thức hoá giải những buồn đau, mỏi mệt cùng những “níu kéo đa đoan” của thân phận.

Cấu trúc trong thơ Hoàng Kim Dung là sự xoắn kết, giao thoa của những cảm xúc, suy tư về thời gian, tình yêu và khát vọng của một chủ thể trữ tình giản dị, thuần hậu mà lãng mạn và đầy nữ tính. Xuyên thấm trong Dòng sông mùa hạ là cảm thức về thời gian được cụ thể hoá, nhân hoá trong những hình tượng thơ về mùa. Mùa của thiên nhiên, của tình đời và tình người. Tất cả vương vấn, quấn quyện trong những câu thơ trong trẻo, đầy màu sắc nhưng cũng đượm buồn và tiếc nuối, gợi về một mùa xưa, mùa yêu được soi chiếu từ nhiều góc độ và đầy tâm trạng của một cá thể trữ tình luôn có ý thức lưu giữ, bảo tồn tình yêu như một báu vật. Một tình yêu đã xa nhưng không xưa cũ, lúc nào cũng bất chợt ùa về, hiện hữu trong một trái tim đong đầy nhớ và da diết yêu: Em vẫn đọc bài thơ mùa xuân anh viết/Lắng nghe dịu dàng từ mùa ấy/Em vẫn yêu dòng sông đang hát/Và tiếng gọi ban trưa trên đỉnh núi... Bài thơ anh viết về mùa xuân/Là bài thơ em đọc mãi (Khúc hát mùa xuân). Đón nắng xuân ở Cố đô, người nữ cũng không nguôi nhớ và thầm mong ước: Người yêu xa xôi/Sao không cùng em xứ Huế/Xuân đã về đất trời thanh tịnh quá/Và trái tim em da diết yêu thương (Nắng xuân xứ Huế). Đặt chân lên vùng biên ải, người nữ ấy cũng không quên: Gửi lại nỗi nhớ bên kia sông Hồng/Mang trái tim yêu tôi về ngược núi/Cát Cát chiều mưa đưa tôi huyền thoại/Cát Cát chiều mưa chạm tới bến bờ. (Bản Cát Cát chiều mưa).

Người ta không thể sống mà không yêu, nhất là đối với người đàn bà đã trải qua những đắng xót, xót xa, những buồn vui, mưa nắng trong đời. Trong thơ Hoàng Kim Dung có một nhân vật trữ tình là người nam, lúc ẩn lúc hiện, như thật, như hư, hoá thân trong nhiều dạng vẻ, lúc là anh, lúc là “người yêu dấu”, có “lực hấp dẫn” cực mạnh đối với người nữ - là em, khiến em luôn ở trong tâm trạng quá khứ hoá hiện tại. Ở đâu làm gì và lúc nào em cũng hồi nhớ, ghi tạc những kỷ niệm về anh, về “người yêu dấu”. Chủ thể trữ tình đã không dấu mình trong thơ. Người làm thơ luôn ám ảnh, giăng mắc mình trong những “đợi chờ thương nhớ” và cả những khao khát hòng bứt ra khỏi cái hiện tại khép kín chỉ có gió “từ quạt điện và máy điều hoà nhiệt độ” với mong muốn: Sao em thèm ngọn gió từ núi cao/Nơi có lần anh tìm cho viên đá trắng/Hôm ấy gió heo may về/Bầu trời thì xanh thắm/Em đã mang nụ hôn cho gió.... Giá mà đêm nay có thể bay lên được/Em sẽ thu ngọn gió nhớ thương/Trong vòng tay bé nhỏ của mình (Bây giờ mùa hạ). Trước sự xa cách và “im lặng của anh”, người nữ không hề trách móc mà với thiên tính nữ của mình đã tự nguyện “thuỷ chung tiền kiếp”. Thuỷ chung cả trong đêm cô đơn, tĩnh lặng đến nỗi nghe được cả Tiếng trở mình rất nhẹ của những cây hoa dại trên con đường lên núi. Hoa cúc tím là loài hoa biểu tượng cho tình yêu chung thuỷ, Hoàng Kim Dung đã mượn cái đẹp bình dị và lâu bền của nó để thể hiện tâm thế và cách ứng xử của mình với tình yêu: Hoa cúc tím giữa mùa xuân êm ả/Khi khô rồi vẫn màu tím thuỷ chung (Hoa cúc tím).

Trong thơ Hoàng Kim Dung, lịch thiên nhiên cứ tuần tự giao mùa: xuân qua, hạ tới rồi thu về và tất cả như được lắng lọc qua trạng thái của tâm hồn. Không gian mùa thu “vơi đầy xao xuyến”, “vơi đầy ngất ngây” trong Dòng sông mùa hạ đã trở thành không gian màu nhiệm nâng đỡ con người: Cất đi khoảnh khắc/Lo toan đượm buồn/Tựa vào mùa thu/Niềm yêu tha thiết/Nụ hôn êm đềm (Thế rồi mùa thu). Có ai đó nói, sao thơ Hoàng Kim Dung không có mùa đông. Có đấy. Nhưng mùa đông chỉ là cái cớ để nhân vật trữ tình “kiểm nghiệm” tình cảm của người khác giới, lấy lại sự cân bằng, an nhiên cho chính mình: Có phải nhớ em như anh nói/Hay là chút rượu thả tơ vương/Để em sóng sánh bờ hư thực/Làm say ngọn lửa gió mùa đông (Say).

Trong thơ Hoàng Kim Dung tràn ngập gió. Nhà thơ như ”cuốn theo chiều gió” của tình yêu và khát vọng. Những ngọn gió trong Dòng sông mùa hạ như có linh hồn, là biểu tượng của một cái tôi trữ tình nồng nàn yêu, nồng nàn nhớ, dịu dàng và đắm đuối với nhiều sắc thái biểu cảm. Đó là Ngọn gió đam mê (Ngọn gió), ngọn gió tháng ba lắng sâu khát vọng, ngọn gió tháng ba khắc khoải mùa màng (Gửi tháng ba), ngọn gió vô tình đã đi qua nỗi nhớ (Nhan sắc) và cả những ngọn gió dịu dàng để con người le lói niềm tin hoặc thắc thỏm bởi một lời hứa hẹn: Ai sẽ gửi về bức tranh có dòng sông chảy... (Gió dịu dàng).

Có thể nói, với Dòng sông mùa hạ, thời gian, tình yêu và nỗi khao khát đã hội tụ trong cảm hứng sáng tạo của một chủ thể trữ tình không phải lúc nào cũng an phận và cam chịu. Hơn lúc nào hết, người làm thơ đã cảm nhận được “thơ như của hiếm đâu dễ tìm kiếm” và với tình cảm lứa đôi “yêu bao nhiêu cũng không đủ cho nhau”, và vì thế luôn luôn nuôi dưỡng trong mình: Một khát vọng bình yên/Gửi theo người yêu dấu (Cánh rừng xanh).

Trong Dòng sông mùa hạ, Hoàng Kim Dung không chỉ đối thoại với riêng mình. Chị đã gửi gắm vào thơ nỗi niềm, tình cảm cùng những lo âu, khắc khoải, đau đáu yêu thương với người thân, với gia đình. Không ai khác là người con đã cảm nhận đến tận đáy sự đau thương và hẫng hụt khi người cha không còn nữa: Chỉ còn ảnh cha trong căn phòng rộng/Và dáng mẹ con liêu xiêu chiều hạ (Chỉ còn ảnh cha). Với bà ngoại, nhà thơ như vẫn lưu giữ trong ký ức hình bóng và cốt cách của bà: Khi lưng đã mỏi, khi chân đã mềm/Bà vẫn muốn san gánh nặng lo âu/Thế rồi nhẹ nhàng ra đi như lá cây (Ngày của bà ngoại).

Bên cạnh những giãi bày, tâm sự về nỗi nhớ, niềm yêu, thơ Hoàng Kim Dung còn là tiếng nói đồng vọng, sẽ chia với những số phận, cuộc đời, đặc biệt với những người cùng giới. Trong bài Bà lão bán trầu cau. Với sự mẫn cảm và tinh tế, Hoàng Kim Dung đã làm nổi bật sự tương phản giữa hình ảnh xưa cũ của bà lão bán trầu cau Bà vấn khăn mặc áo cánh nâu với những cô gái thế hệ @ Tóc nhuộm nâu, môi thoa son Hàn Quốc trong dòng đời hiện tại: Lá trầu thì vẫn xanh/Quả cau thì vẫn thắm/Chỉ có bà cũ kĩ như trôi về cổ tích. Hoàng Kim Dung cũng đã thâu nạp được những chi tiết thú vị của đời thường vào thơ. Từ người mẹ trẻ địu con mang hàng lên phố ở Sapa “cất tiếng Hello khi có người ngoại quốc tới thăm” đến người thiếu phụ chở khách dạo chơi bằng thuyền thúng trên đảo Miễu Nha Trang với duyên thầm xứ biển cũng biết mời chào “bằng tiếng Việt, tiếng Anh”. Và cả hạnh phúc trong đón đợi giản dị mỗi ngày của của người đàn bà Phan Thiết mà không phải ai cũng có được: Chị tắm biển trong bộ đồ thường mặc/Không bikini không áo tắm choàng vai/Chị ra biển đón người đàn ông của chị. Hoà nhập và giao cảm với đời sống quanh mình, Hoàng Kim Dung đã cảm nhận một cách thấm thía và sâu sắc ý nghĩa của cuộc đời, tình người: Để được sống đã là điều quý giá/ Thì nhọc nhằn buồn khổ có sao đâu/ Thật khủng khiếp khi lời yêu thương cạn kiệt/Khi người ta cứ vô cảm trước sự đời/Trước nét đẹp của ánh trăng, ngọn cỏ/Trước nỗi buồn da diết cũng dửng dưng (Khoảng cách).

Dòng sông mùa hạ, Hoàng Kim Dung đã trổ được lối riêng cho thơ mình, với một cái tôi bình dị, luôn thành thật đến tận cùng. Thơ chị có nỗi buồn và sự cô đơn nhưng không rơi vào “hội chứng” buồn, cũng không ồn ào, bứt phá. Chị lặng lẽ đi, lặng lẽ quan sát, chiêm nghiệm và lặng lẽ viết. Người đọc đã bắt gặp trong thơ chị những tâm trạng rất thực của một người phụ nữ sống và viết với niềm đam mê thánh thiện. Hoàng Kim Dung quan niệm mọi điều giản dị, tự nhiên như cuộc đời. Trong khi viết, dường như chị không chú ý nhiều đến những biến ảo của câu chữ, đến những “thôi xao” trong hình thức biểu đạt. Nhưng với sự cô đọng và kiệm lời, thơ chị đã thuyết phục người đọc ở cái tình của nhà thơ đối với những điều mình bộc lộ, đặc biệt với khát vọng trong tình yêu và sáng tạo.

B.T
(200/10-05)

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • HÀ VĂN THỊNHTrong lịch sử của loài người, những vĩ nhân có tầm vóc và sự nghiệp phi thường chỉ có khoảng vài chục phần tỷ. Nhưng có lẽ rất chắc chắn rằng sự bí ẩn của những nhân cách tuyệt vời ấy gấp nhiều lần hơn tất cả những con người đang sống trên trái đất này. Tôi đã rất nhiều lần đọc Hồ Chí Minh Toàn tập, nhưng mỗi lần đều trăn trở bởi những suy tư không thể hiểu hết về Người.

  • HOÀNG NGỌC VĨNHHồ Chí Minh, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, lãnh tụ xuất sắc của phong trào công nhân và cộng sản quốc tế, Chủ tịch Đảng Cộng sản Việt Nam, là người Việt Nam đầu tiên soạn thảo và ban bố các sắc lệnh tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân Việt Nam.

  • BÙI ĐỨC VINH(Nhân đọc tập thơ “Đá vàng” của Đinh Khương - NXB Hội Nhà văn 2004)

  • NGÔ XUÂN HỘITính tình phóng khoáng, Trần Chấn Uy chắc không mặn mà lắm với những cuộc chơi mà luật chơi được giới hạn bởi những quy định nghiêm ngặt! Ý nghĩ trên của tôi chợt thay đổi khi mở tập thơ Chân trời khát của anh, ngẫu nhiên bắt gặp câu lục bát: “Dòng sông buồn bã trôi xuôi/ Đàn trâu xưa đã về trời ăn mây”...

  • TRẦN THUỲ MAI( “Thơ Trà My” của Nguyễn Xuân Hoa - NXB Thuận Hoá, 2005)

  • HỒ THẾ HÀ(Đọc tập thơ Lửa và Đất của Trần Việt Kỉnh - Hội Văn học Nghệ thuật Khánh Hoà, 2003)

  • NGUYỄN THỊ ANH ĐÀO(Đọc tập ký ''Trên dấu chim di thê'' của Văn Cầm Hải- NXB Phương - 2003)

  • NGUYỄN QUANG HÀ(Đọc Huế trong thơ Nguyệt Đình)

  • NGUYỄN VĂN HOA(Nhà xuất bản Lao Động phát hành 2004)

  • PHẠM NGỌC HIỀNChưa lúc nào trong lịch sử Việt , các nhà văn hoá ta lại sốt sắng ra sức kêu gọi bảo tồn nền văn hoá dân tộc như lúc này. Xu hướng toàn cầu hoá nền kinh tế công nghiệp cộng với xa lộ thông tin đã mang theo những ngọn gió xa lạ thổi đến từng luỹ tre, mái rạ làm cho "Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều". Mà "Trách nhiệm của mỗi dân tộc là phải thể hiện rõ bản sắc của mình trước thế giới" (R. Tagor).

  • NGUYỄN THANH MỪNG                Miền duyên hải Nam Trung bộ gần gũi với Tây Nguyên lắm lắm, Bình Định gần gũi với Gia Lai lắm lắm, ít nhất ở phương diện địa lý và nhân văn. Ừ mà không gần gũi sao được khi có thể chiều nghe gió biển Quy Nhơn, đêm đã thấm trên tóc những giọt mưa Pleiku. Giữa tiếng gió mưa từ nguồn tới bể ấy nhất thiết bao nhiêu nỗi lòng ẩn chứa trong tiếng thơ diệu vợi có thể chia sẻ, bù đắp được cho nhau điều gì đó.

  • NGUYỄN QUANG HÀSau ba tập: Thơ viết cho em - 1998, Lối nhớ - 2000, Khoảng trời - 2002, năm 2004 này Lê Viết Xuân cho xuất bản tập thơ thứ tư: Đi tìm.

  • NGÔ MINHThật may mắn và hạnh phúc là Hoàng Phủ NgọcTường đã vượt qua được cơn tai biến hiểm nghèo của số phận, để được tiếp tục đến với đọc giả cả nước trong suốt mười một năm nay. Đối với tôi, khi bên chiếu rượu ngồi nghe anh Tường nói, hay đọc bút ký, nhàn đàm, thơ của Hoàng Phủ là những lần tôi được nghe các “cua” ngoại khóa sâu sắc về nhân văn và nghề văn.

  • VÕ THỊ XUÂN HÀVào rằm tháng Giêng năm 2003 tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Hà Nội, Ngày Thơ Việt Nam lần thứ nhất được tổ chức long trọng. Mở đầu bằng lễ kéo Lá cờ Thơ, rồi ngâm đọc bài thơ Nguyên tiêu của Hồ Chí Minh. Sau đó là các chương trình giao lưu thơ với công chúng, đọc những bài thơ hay nhất của đất nước, ngâm thơ, bình thơ v.v…

  • VÔNG VANGCó thể nói cùng với chiều dài lịch sử của vùng đất Thuận Hóa - Phú Xuân, không thể và không khi nào mà khi nói đến nơi đây người ta lại không nhắc đến Thơ. Bởi vì ngoài “nhiệm vụ” là một bức thông điệp giúp cho ta biết hơn về lịch sử, về con người, Thơ còn giúp ta hiểu hơn về chính nó, về một ký ức lãng đãng đang trôi qua từ thẳm sâu trong trí nhớ, trong cái thăng hoa luân chuyển của vũ trụ và của chính con người.

  • TRẦN THÙY MAI(Đọc “Thơ của người cô độc” tập thơ của Tường Phong, NXB Thuận Hóa xuất bản)

  • TRẦN HỮU LỤCChân dung Huế (*) - tập bút ký nhân vật, là một trong 12 đầu sách liên kết giữa Tủ sách Nhớ Huế với NXB Trẻ.

  • BÍCH PHƯỢNG thực hiệnLTS: Trong dịp vào Huế thực hiện một số phim trong chương trình “Người của công chúng” (Đài Truyền hình Việt Nam), nhà báo Bích Phượng đã có dịp tìm hiểu tác phẩm, gặp gỡ trò chuyện với nhà văn Nguyễn Khắc Phê tại ngôi nhà vuờn xinh đẹp của ông trên đường Xuân Diệu. Ông đã trả lời một cách cởi mở và thẳng thắn những vấn đề đặt ra.

  • NGUYỄN PHÚC VĨNH BATrong cuốn “Hồ sơ văn hoá Mỹ”, nhà nghiên cứu Hữu Ngọc có giới thiệu một số nhà thơ cổ điển Mỹ như Walt Whitman, Edgar A. Poe, Henri W. Longfellow… Về Longfellow, ông Hữu Ngọc viết:“Nếu không đòi hỏi tâm lí và tư duy sâu sắc thì có thể tìm ở thơ Longfellow sự trong sáng, giản dị, cảm xúc nhẹ nhàng, bâng khuâng, hình ảnh duyên dáng và âm điệu du dương. Ông làm thơ về lịch sử và truyền thuyết, đất nước và thiên nhiên, ông ca ngợi tình thương, lòng tốt, chịu đựng cuộc đời.

  • LÊ HUỲNH LÂMTừ “Vọng sông quê” đến “Mang” của Nhà xuất bản Trẻ, rồi “Gửi thiên thần” của Nhà xuất bản CAND và bây giờ là “Đồng hồ một kim” của Nhà xuất bản Văn Học” được gửi đến bạn đọc, Phan Trung Thành đã khẳng định được gương mặt thơ của thế hệ 7.X. Ở đây, số lượng tác phẩm không định hình nên một gương mặt thơ, mà chính những câu chữ đã vẽ lên chân dung một nhà thơ.