NGUYỄN QUANG HÀ
Kinh Thành Huế được khởi công xây dựng từ thời vua Gia Long (1805) và hoàn thành dưới triều vua Minh Mạng (1832). Ngay từ thời vua Gia Long trở đi, khu vực Kinh Thành Huế là nơi sinh hoạt, làm việc của các quan nha, đồn trú doanh trại quân đội, quan xưởng triều đình, dinh cơ tư thất của tầng lớp quan lại và phủ đệ của các ông hoàng, bà chúa. Tầng lớp dân chúng chỉ được sinh sống ở vùng ngoại vi, lân cận Kinh Thành.
Ảnh của NSNA Lê Tấn Thanh
Khu vực Kinh Thành Huế có quy mô diện tích hơn 500ha, có cả hệ thống các công trình phối thuộc, quan hệ rất mật thiết và gắn liền với bản thân của Kinh thành như: Đại Nội, Quốc Tử Giám, Điện Long An, Khu Lục Bộ, Phủ Phụ Chính, Phủ Tôn Nhân, Lầu Tàng Thơ, Hồ Tịnh Tâm, Hồ Học Hải, Đàn Xã Tắc, Đàn Âm Hồn, Viện Cơ Mật, Khâm Thiên Giám, Xiển Võ Từ, Sông Ngự Hà và hơn 40 hồ lớn nhỏ thuộc hệ thống thủy đạo…
Di tích Kinh Thành Huế, bao gồm: - Hệ thống tường thành Huế dài 11,5km; cao 6,60m và rộng 21,0m; - Hệ thống Eo Bầu gồm có 24 eo bầu; - Hệ thống tuyến phòng lộ, chạy bao bọc xung quanh có chiều rộng 8,0m; - Hệ thống Hộ thành hào, tiếp giáp tuyến phòng lộ chạy bao bọc xung quanh hệ thống tường thành, dài 12,5km, bề rộng từ 17m đến 50,0m và sâu khoảng 3,5m. Hai bên hộ thành hào đều có hệ thống kè đá hộc sâu 3m và giải tỏa khu vực cách mép kè ngoài 6m để xây dựng tuyến đường bảo vệ xung quanh Kinh Thành.
Rõ ràng Kinh đô Huế là một mẫu mực hiếm có về quy hoạch và xây dựng một kinh đô phong kiến phương Đông còn lưu giữ được khá nguyên vẹn tổng thể kiến trúc cung đình, với hệ thống thành quách, cung điện, miếu đường, đền đài, lăng tẩm, chùa quán, cầu cống,… Di sản văn hóa Huế là kiệt tác nghệ thuật của nhân dân lao động, của đội ngũ nghệ nhân có “bàn tay vàng”, tài hoa, ưu tú, xuất chúng nhất cả nước trải qua bao thế hệ, suốt chiều dài lịch sử mới đúc kết thành.
Chính vì vậy vào ngày 11/12/1993, Quần thể di tích Cố đô Huế chính thức được ghi vào Danh mục Di sản Thế giới của UNESCO, đây là di sản thế giới đầu tiên của Việt Nam. Việc bảo tồn di tích là hết sức quan trọng. Quyết định 818/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, ghi rõ: “Bảo tồn di sản văn hóa Cố đô Huế. Phát huy các giá trị quý giá của di sản văn hóa Cố đô Huế, bao gồm di sản văn hóa vật thể, di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa môi trường cảnh quan đô thị và thiên nhiêntrong việc giữ gìn truyền thống, bản sắc văn hóa dân tộc và nâng cao mức hưởng thụ văn hóa của nhân dân”.
Thực tế, từ khi vua Bảo Đại thoái vị (1945), kết thúc chế độ phong kiến ở Việt Nam, trong Nội Thành không ai quản lý; mặt khác do tình hình chiến tranh loạn lạc (đặc biệt trong hai cuộc kháng Pháp, kháng Mỹ, vùng ngoại ô của Kinh Thành là vùng hoạt động của cách mạng và vùng thường bị càn quét của lính Mỹ) nên dân cư từ các làng xã lân cận tràn vào sinh sống trong Thành Nội, dọc phía trước Phu Văn Lâu, dọc theo bờ sông đến chân cầu Bạch Hổ, kể cả trước khu vực Miếu Long Thuyền, hình thành các cụm dân cư. Người dân di dời vào Thành Nội, sống men theo Thượng Thành và các Eo Bầu; ban đầu họ lấy mặt thành làm vườn trồng rau, hoa màu ngắn ngày, sau gia đình phát triển nhiều thế hệ, mặt thành được dùng làm nhà ở.
Hiện nay toàn bộ khu dân cư phía trước Phu Văn Lâu đến chùa Thiên Mụ đã được giải tỏa, vẻ đẹp thơ mộng của dòng sông Thơm được phục sinh. Vấn đề lớn bây giờ là cần trả lại vẻ đẹp cổ kính, tinh tế, liêu trai, huyền diệu, độc đáo vốn có của Kinh Thành.
Xung quanh di tích Kinh Thành Huế, ngay trên khu vực Thượng Thành và các vọng lâu tại các cổng thành vẫn đang hiện diện 13 lô cốt quân sự (bê tông cốt thép, có từ trước 1975) cần có giải pháp tháo dỡ hoặc di chuyển vì gây phản cảm, dễ là nơi tập trung tệ nạn xã hội, ảnh hưởng xấu đến cảnh quan và giá trị di tích. Vừa qua, những lô cốt như trên tại cửa Đông Ba, cửa Thượng Tứ đã được tháo dỡ và di chuyển trong quá trình trùng tu tôn tạo phục hồi.
Theo thống kê (chưa đầy đủ) của Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế, từ năm 1995 có 1838 hộ dân (hộ chính) sống tại khu vực I di tích Kinh Thành, đến năm 2003 tăng thêm 438 hộ. Cho đến nay (2018) chủ yếu trong các khu vực Thượng Thành, Eo Bầu, Hộ Thành Hào, Phòng lộ Kinh Thành, Khâm Thiên Giám, Xiển Võ Từ, Lục Bộ, Hồ Tịnh Tâm, Hồ Học Hải, Đàn Xã Tắc, Trấn Bình Đài và các hồ trong Kinh Thành có khoảng 4200 hộ dân sinh sống (có gần 50% là hộ phụ).
Tại khu vực phía Nam di tích Kinh Thành Huế, hiện đang triển khai thực hiện các gói thầu tu bổ tường thành, phục hồi các eo bầu và các pháo nhãn.
Song song với công cuộc bảo tồn trùng tu các di tích, công tác di dời giải tỏa tại các khu vực bảo vệ di tích cũng được tiến hành. Trong thời gian hơn 20 năm, với nỗ lực của các cấp, các ngành, nhưng chỉ mới di dời giải phóng được khoảng 1050 hộ dân ra khỏi khu vực I bảo vệ di tích như: Sông Ngự Hà, Tôn Nhân Phủ, Đàn Xã Tắc, Lầu Tàng Thơ, khu vực Thượng Thành và eo bầu mặt Nam, Đàn Âm hồn,…
Tôi đến thăm Thượng Thành, Eo Bầu, Hộ Thành Hào,… đều thấy đa số người dân ở đây nghèo thật, sống chen chúc nhiều thế hệ trong một gia đình đất chật người đông, làm đủ nghề: cắt tóc, buôn bán, thợ mộc, thợ nề, lái xe ôm, đạp xích lô,…; đều dễ đồng cảm với ước mơ sâu thẳm (thoát khỏi những ngôi nhà tạm) của những chủ hộ gia đình ở đây.
“Ở Ngự Viên mà nhớ Ngự Viên” - Nhà thơ Nguyễn Bính đã nói hộ tấm lòng của nhiều người Huế xưa, Huế xa, Huế nay. Có một Ngự Viên nay nhớ một Ngự Viên xưa. Có một Nội Thành nay nhớ Thành Nội xưa. Và cũng để thấy việc chính quyền địa phương muốn làm gì đó cho Huế đẹp như và hơn xưa là không hề dễ dàng, nói không ngoa là chưa bao giờ khó như hôm nay, nếu muốn trả lại sắc diện kinh đô cho Thành Huế. Vì chúng ta phải vừa nhanh chóng sửa những vết xước lịch sử để lại (di dời giải tỏa cư dân tại các di tích), vừa tiếp tục công cuộc bảo tồn trùng tu các di tích, vừa phải kiến tạo sức sống trẻ cho các di tích và việc quan trọng song hành là phải đảm bảo cho dân di dời được an cư lạc nghiệp nơi định cư mới (trong tình hình Huế và cả nước vẫn còn “chống dịch Covid như chống giặc”).
Riêng việc giải phóng mặt bằng, tỉnh Thừa Thiên Huế đã khái toán tổng kinh phí di dời qua 2 giai đoạn:
1. Giai đoạn 2019 - 2021, số hộ 2.938: 1.880 tỷ đồng.
2. Giai đoạn 2022 - 2025, số hộ 1.263: 855 tỷ đồng.
Tổng cộng là 4201 hộ với tổng kinh phí: 2.735 tỷ đồng.
Lên làm Chủ tịch UBND tỉnh, ông Phan Ngọc Thọ rất năng nổ, nhiệt huyết, được xem là “Kiến trúc sư trưởng”, “Thuyền trưởng” của Đề án di dân Kinh Thành Huế. Cảm tấm lòng ông, tôi hỏi:
- Ông nghĩ sao về việc giải phóng mặt bằng khu vực I hệ thống di tích Kinh Thành Huế?
Ông trả lời:
- Cả nước mình có cố đô ở Hà Nội, Thanh Hóa, Ninh Bình, Phú Thọ có nơi đâu giữ được nguyên vẹn quần thể di tích (trong và ngoài Kinh Thành) như ở Huế. Nếu không giữ được văn hóa Kinh Thành thì còn đâu Huế nữa.
Để hiểu thêm ý tưởng văn hóa của ông Phan Ngọc Thọ, chúng tôi đến thăm gia đình ông Quy đã xây nhà trên Thượng Thành 60 năm nay. Đường lên nhà ông Quy là leo dốc, ngoắt ngoéo, chỉ rộng chừng 1 mét. Đây là ngôi nhà 3 gian thờ ông bà tổ tiên, rất sang trọng đẹp, mang đầy màu sắc Huế. Ông Quy đón chúng tôi rất niềm nở:
- Tôi có đi dự cuộc gặp gỡ 300 người dân Thượng Thành của ông Phan Ngọc Thọ. Ông Thọ khẳng định: “Dự kiến kế hoạch giải tỏa, chỉnh trang và điều chỉnh phạm vi khoanh vùng bảo vệ một số điểm di tích để ổn định cuộc sống của người dân, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tham gia khai thác dịch vụ, nâng cao ý thức trách nhiệm trong việc giữ gìn, bảo vệ và phát huy giá trị di sản của dân tộc”. Và ông đã thực hiện đúng như vậy. Dân không đồng ý ở chung cư, ông tổ chức, xây dựng khu dân cư ở Hương Sơ cho dân có nhà ở riêng. Diện tích mỗi hộ 60 mét vuông, xây nhà 1 tầng, có tầng lửng. Nhận nhà mới dân mừng lắm. Gia đình tôi cũng chuẩn bị chuyển nhà đây, anh ạ. Vợ con tôi rất mừng sắp có nhà mới. Chúng tôi sẽ chuyển nguyên dạng nhà này xuống dưới đó. Có điều rất lạ là rất nhớ nơi mình đã ở.
Để minh chứng ý tưởng của ông Phan Ngọc Thọ, chúng tôi ra Hương Sơ thăm khu vực định cư của dân Kinh Thành, Eo Bầu chuyển về. Những dãy nhà mới xây gọn gàng, một khu tái định cư kiểu mẫu, điện đường đầy đủ, hàng cây xanh đang bắt đầu nẩy những chồi non, chẳng bao lâu bóng cây sẽ tỏa xanh những con đường rộng rãi. Nhà nào cũng rộng 60 mét vuông. Một tầng và tầng lửng rất xinh xắn.
Chúng tôi tới thăm nhà ông Thìn, ở Eo Bầu chuyển ra. Ông Thìn dẫn chúng tôi đi thăm nhà và nói:
- Ông Phan Ngọc Thọ giữ đúng lời hứa, lo nhà cửa cho dân, định cư đàng hoàng cho dân mau chóng ổn định đời sống. Gia đình tôi đất rộng, được đền bù khá hơn, nên tôi đủ sức xây nhà 2 tầng. Anh biết vợ con tôi nói sao không? Vợ con tôi bảo: Đây chính là ước mơ của mình. Còn các gia đình khác, bình thường, ổn định 200 triệu đồng là có nhà rồi.
Vậy đó, từng bước một, Chủ tịch UBND tỉnh Thừa Thiên Huế đối thoại với các hộ dân bị thu hồi đất tại các khu vực Kinh Thành Huế, chỉ đạo cơ quan chức năng tổng hợp phân loại kiến nghị của người dân thuộc đề án di dời dân cư (ngay việc này, do đề phòng dịch Covid 19, cơ quan chức năng đã chia làm 2 đợt đối thoại công phu, thấu lý đạt tình).
Với hơn 4.200 hộ dân phải di dời, vì vậy được chia làm 2 giai đoạn:
- Giai đoạn 1 (2019 - 2021), di dời 2.938 hộ dân ở các khu vực Thượng Thành, Eo Bầu, Hộ Thành Hào và tuyến Phòng Lộ.
- Giai đoạn 2 (2022 - 2025), sẽ tiếp tục di dời 1.263 hộ dân ở các di tích Hồ Tịnh Tâm, Hồ Học Hải, Khu Lục Bộ, Đàn Xã Tắc, Khâm Thiên Giám, Trấn Bình Đài, hệ thống hồ 4 phường Nội Thành thành phố Huế.
Lời hứa của Chủ tịch tỉnh Thừa Thiên Huế: “Sẽ không để người dân nào bị bỏ lại phía sau trong cuộc di dân lịch sử này”; “Chính quyền sẽ cố gắng hết sức để bà con được đến một nơi ở mới hiện đại, tiện nghi và xanh - sạch - sáng hơn nơi ở cũ” như đóng đinh vàng vào trái tim không chỉ của những người dân thuộc diện di dời mà còn làm nức lòng mọi người dân Huế, những người yêu Huế gần xa, trong và ngoài biên giới địa lý…
Chuyện di dời dân cư trong Kinh Thành ra định cư ở vị trí mới không phải bàn cãi thêm nữa. Tôi hỏi anh Minh, một thành viên của UBND tỉnh đi cùng chúng tôi:
- Năm 2020 đã có bao nhiêu hộ được chuyển ra khu tái định cư Hương Sơ?
Anh đáp:
- Năm 2020 đã chuyển ra được 657 hộ.
Tôi định hỏi anh thêm, chừng bao lâu nữa thì chuyển hết 4200 hộ ra khỏi khu di tích. Nhưng tôi thấy câu hỏi ấy thật thừa, vì tôi đã biết kế hoạch sẽ hoàn thành vào năm 2025 với tổng kinh phí là 2735 tỷ đồng. Nếu gặp thuận lợi thời gian giải quyết sẽ nhanh hơn. Nếu gặp khó khăn thời gian giải quyết có thể lâu hơn chút ít, dù gì thời gian giải quyết cũng không thể chậm để dân Thượng thành, Eo Bầu, Hộ Thành Hào,… cũng mau chóng được tận hưởng bản sắc văn hóa Kinh Thành và Huế mãi mãi là Huế thân yêu của chúng ta như ý tưởng của Chủ tịch UBND tỉnh Phan Ngọc Thọ.
N.Q.H
(SHSDB41/06-2021)
LTS: Đại Học Huế đang ở tuổi 50, một tuổi đời còn ngắn ngủi so với các Đại học lớn của thế giới. Nhưng so với các Đại học trong nước, Đại Học Huế lại có tuổi sánh vai với các Đại học lớn của Việt như ở Hà Nội và TP Hồ Chí Minh. Trên hành trình phát triển của mình, Đại Học Huế đã góp phần không nhỏ vào sự phát triển kinh tế, giáo dục, văn hoá ở miền Trung, Tây Nguyên, đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao cho khu vực và cả nước. Nhân dịp kỷ niệm này, TCSH phân công ông Bửu Nam, biên tập viên tạp chí, trao đổi và trò chuyện với PGS.TS. Nguyễn Văn Toàn, Giám đốc Đại Học Huế. Trân trọng giới thiệu với bạn đọc cuộc trò chuyện này.
VÕ ĐẮC KHÔICó một thời người Huế loay hoay đi vỡ núi, phá rừng trồng khoai sắn. Có một thời người Huế tìm cách mở cảng nước sâu để vươn ra biển lớn, hay đón những con tàu viễn xứ xa xôi. Cả nước, các tỉnh thành láng giềng như Quảng Bình, Quảng Trị, Đà Nẵng cũng đều ra sức làm như thế, sao ta có thể ngồi yên?
TRẦN ĐÌNH SƠNĐất Việt là cái nôi sinh trưởng của cây trà và người Việt biết dùng trà làm thức uống thông thường, lễ phẩm cúng tế, dâng tặng, ban thưởng từ hàng ngàn năm nay.
NGUYỄN XUÂN HOÀNGTừng là đất Kẻ Chợ – kinh đô triều Nguyễn xưa, ẩm thực Huế dựa trên nền tảng triết lý của cái đẹp, món ăn món uống phải ngon nhưng nhất thiết phải đẹp, vị phải đi với mỹ, thiếu mỹ thì không còn vị nữa.
TRƯƠNG THỊ CÚCTrong vô vàn những bài thơ viết về Huế, hai câu thơ của Phan Huyền Thư dễ làm chúng ta giật mình:Muốn thì thầm vuốt ve Huế thật khẽLại sợ chạm vào nơi nhạy cảm của cơ thể Việt Nam (Huế)
FRED MARCHANT(*) Trong chuyến viếng thăm Huế lần thứ hai vào năm 1997, tôi làm một bài thơ đã đăng trong tập thứ hai của tôi, Thuyền đầy trăng (Full Moon Boat). Bối cảnh bài thơ là một địa điểm khảo cổ nổi danh ở Huế. Có thể nói là bài thơ này thực sự ra đời (dù lúc đó tôi không biết) khi nhà thơ Võ Quê đề nghị với tôi và các bạn trong đoàn ghé thăm Đàn Nam Giao trước khi đi ăn tối ở một quán ăn sau Hoàng Thành bên kia sông Hương.
TRẦN KIÊM ĐOÀNDu khách là người trong mắt nhìn và qua cảm nhận của chính người đó.
TRƯƠNG THỊ CÚCTừ buổi hồng hoang của lịch sử, hình ảnh ban đầu của xứ Huế chỉ thấp thoáng ẩn hiện qua mấy trang huyền sử của đất nước Trung Hoa cổ đại. Tài liệu thư tịch cổ của Trung Quốc đã kể lại từ năm Mậu Thân đời vua Đường Nghiêu (2353 năm trước Công nguyên), xứ Việt Thường ở phương Nam đã đến hiến tặng vua Nghiêu con rùa thần từng sống qua ngàn năm tuổi.
HỒ ĐĂNG THANH NGỌCCó một hiện tượng lịch sử lý thú, ở những nơi khác vốn dĩ bình thường nhưng ở Huế theo tôi là rất đặc biệt, đó là tại mảnh đất này sau hơn ba mươi năm ngày đất nước thống nhất, đã hình thành một thế hệ nữ doanh nhân thành đạt giữa chốn thương trường.
MINH TÂMTôi nghe bà con bán tôm ở chợ Bến Ngự kháo nhau: Dân nuôi tôm phá Tam Giang đã xây miếu thờ “Ông tổ nghề” của mình gần chục năm rồi. Nghe nói miếu thờ thiêng lắm, nên bà con suốt ngày hương khói, cả những người nuôi tôm ở tận Phú Lộc, dân buôn tôm ở Huế cũng lặn lội vượt Phá Tam Giang lễ bái tổ nghề.
PHẠM THỊ ANH NGA"Hiểu biết những người khác không chỉ đơn giản là một con đường có thể dẫn đến hiểu biết bản thân: nó là con đường duy nhất" (Tzvetan Todorov)
TRẦN ĐỨC ANH SƠNSau hơn 1,5 thế kỷ được các chúa Nguyễn chọn làm thủ phủ của Đàng Trong, đến cuối thế kỷ XVIII, Huế trở thành kinh đô vương triều Tây Sơn (1788 - 1801) và sau đó là kinh đô của vương triều Nguyễn (1802 - 1945).
TRƯƠNG THỊ CÚC Sông Hương là một trong những nét đẹp tiêu biểu của thiên nhiên xứ Huế. Sông là hợp lưu của hai nguồn Hữu Trạch, Tả Trạch, chảy qua vùng đá hoa cương cuồn cuộn ghềnh thác, đổ dốc từ độ cao 900 mét đầu nguồn Hữu trạch, 600 mét đầu nguồn Tả trạch, vượt 55 ghềnh thác của nguồn hữu, 14 ghềnh thác của nguồn tả, chảy qua nhiều vùng địa chất, uốn mình theo núi đồi trùng điệp của Trường Sơn để gặp nhau ở ngã ba Bàng Lãng, êm ả đi vào thành phố, hợp lưu với sông Bồ ở Ngã Ba Sình và dồn nước về phá Tam Giang, đổ ra cửa biển Thuận An.
Chúng ta biết rằng trong thời đại ngày nay, khi đầu tư xây dựng những cơ sở nhằm đáp ứng nhu cầu cao của người đi du lịch, văn hóa ẩm thực được xem như là cánh cửa đầu tiên được mở ra để thu hút du khách.
Chúng tôi đi thăm đầm chim Quảng Thái, theo ông Trần Giải, Phó chủ tịch huyện Quảng Điền.
I. Chúng tôi xin tạm hiểu như sau về văn hóa Huế. Đó là văn hóa Đại Việt vững bền ở Thăng Long và Đàng Ngoài chuyển vào Thuận Hóa - Phú Xuân.
Thúng mủng Bao La đem ra đựng bột. Chiếu Bình Định tốt lắm ai ơi. Tạm tiền mua lấy vài đôi. Dành khi hiếu sự trải côi giường Lào.
LTS: Tiến sĩ Nguyễn Thuyết Phong hiện đang dạy tại trường đại học Kent State thuộc tiểu bang Ohio, . Đây là một trong những bài trích ra từ cuốn Hồi ký âm nhạc, gồm những bài viết về kinh nghiệm bản thân cùng cảm tưởng trong suốt quá trình đi đó đây, lên núi xuống biển, từ Bắc chí Nam của ông để sưu tầm về nhạc dân tộc. Được sự đồng ý của tác giả, TCSH xin trân trọng giới thiệu cùng độc giả.
Từ sau ngày giải phóng đến nay, tôi chưa một lần gặp lại Anh hùng Vai và Anh hùng Kan Lịch. Về Huế hoài nhưng lên A Lưới lại không đủ giờ và không dễ dàng gì. Những năm trước, đường về A Lưới còn chật hẹp, lổm chổm đất đá, lại hay sạt lở... đi về rất khó khăn và phải mất vài ngày. Đến Huế vào mùa khô thì lại ít thời giờ. Về Huế dịp mùa mưa thì đường về A Lưới luôn tắc nghẽn.
Tế lễ, giỗ chạp, cúng kỵ gắn với người Huế rất sâu. Hình như nhạc lễ cổ truyền xứ Huế cũng hình thành từ đó. Món ăn Huế được chăm chút, gọt tỉa để trở thành một thứ nghệ thuật ẩm thực cũng từ đó. Màu sắc, mẫu mã của nhiều loại trang phục Huế cũng từ đó mà được hoàn chỉnh, nâng cao. Cả những phong cách sinh hoạt nói năng, thưa gởi, đứng ngồi, mời trà, rót rượu... đầy ý tứ của vùng đất nầy cũng đi từ những buổi cúng giỗ đượm mùi hương trầm.