Gian nan bảo tồn nghệ thuật tuồng

14:22 17/07/2018

Tuồng là môn nghệ thuật sân khấu truyền thống độc đáo của dân tộc Việt Nam. Thế nhưng, cũng giống như những loại hình nghệ thuật truyền thống khác, tuồng đang đứng trước nguy cơ mai một. Ở đó việc bảo tồn để duy trì và phát triển nghệ thuật tuồng đang là “bài toán” không dễ gì tìm được câu trả lời thấu đáo.

Nghệ thuật tuồng đang lay lắt tồn tại.

Mất dần khán giả

Tuồng còn gọi là hát bội, hát bộ, bộ môn nghệ thuật cổ điển và bác học bậc nhất Việt Nam. Là một loại văn nghệ trình diễn cổ truyền, được hình thành trên cơ sở ca, vũ, nhạc và các trò diễn xướng dân gian vốn có từ lâu đời và rất phong phú của dân tộc Việt Nam. Thế nhưng, nhìn lại chặng đường từ khi hình thành và phát triển của nghệ thuật tuồng cho đến nay đang là những “bước đi thụt lùi”, nếu không nói là khủng hoảng. Ở đó, một trong những yếu tố cơ bản là khán giả đang dần thưa thớt, nếu không nói là “ghẻ lạnh” với loại hình nghệ thuật này. Trong đó, cũng giống với nhiều loại hình nghệ thuật truyền thống khác, nghệ thuật tuồng đang bị lớp trẻ xa rời do họ đang được tiếp xúc với nhiều loại hình nghệ thuật cũng như nhiều trào lưu văn hóa mới. 

Thực tế, đã nhiều lần nghệ thuật tuồng cũng đã được đưa vào giới thiệu ở các học đường nhưng chỉ mới mang tính hình thức... Tuy nhiên, thực tế hiện nay các khán giả ở độ tuổi thanh niên đều không có chút kiến thức cơ bản nào về nghệ thuật tuồng dẫn đến không mặn mà với sân khấu tuồng. Bên cạnh đó mặc dù, trong những năm gần đây, một số nhà hát nghệ thuật truyền thống đã tiến hành phục hồi và cho tiến hành dàn dựng một số trích đoạn tuồng cổ, một số cuộc hội thảo mang tầm quốc gia cũng được tổ chức nhằm bảo tồn và phát huy giá trị nghệ thuật sân khấu tuồng. Thế nhưng những cố gắng vẫn chưa đem lại kết quả khả quan. Chưa kể, đội ngũ nghệ sĩ, diễn viên tuồng ngày càng ít đi. Do không được đảm bảo về chế độ, nhiều nghệ sĩ, diễn viên tuồng dù yêu nghề vẫn phải ngậm ngùi dứt nghiệp để lo cuộc sống mưu sinh. Trong khi đó, đội ngũ nghệ sĩ trẻ lại chưa đáp ứng được nhiều yêu cầu khắt khe khi diễn những vở tuồng khó. Có những đêm diễn tuồng, lượng khán giả ở các rạp chỉ “lay lắt” qua ngày. 

Theo NSND Lê Tiến Thọ- Chủ tịch Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam cho rằng, các đơn vị nghệ thuật tuồng chủ yếu chạy “sô” biểu diễn trong các lễ hội, nghi thức hành lễ với dàn trống, dâng hương chứ ít có cơ hội biểu diễn một vở trọn vẹn. Bên cạnh đó, diễn viên mải làm nhiều nghề để kiếm thêm thu nhập nên ít để tâm đến nghiệp diễn, vì thế nghệ thuật tuồng ngày càng bị thất truyền. Cùng với đó, theo các nhà nghiên cứu, nguyên nhân dẫn đến tình trạng “khủng hoảng” khán giả ở sân khấu tuồng bao gồm cả yếu tố chủ quan và khách quan. Trong đó, yếu tố chủ quan nằm ở chính chất lượng của các vở tuồng. Nhiều vở tuồng mang tính cổ điển, khuôn mẫu của chế độ phong kiến đã không còn phù hợp với nhu cầu thẩm mĩ hiện nay của khán giả… 

Có thể thấy, đánh giá của NSND Lê Tiến Thọ là hoàn toàn có lý do bởi lâu nay hoạt động của Nhà hát Tuồng chủ yếu là chương trình phục vụ lễ hội. Thời gian còn lại, sân khấu tuồng hoạt động rất cầm chừng. 

Le lói hy vọng

Mới đây, Hội diễn sân khấu tuồng không chuyên toàn quốc năm 2018 vừa diễn ra tại Bình Ðịnh là một minh chứng cho việc nghệ thuật tuồng không hẳn đang bị “ghẻ lạnh”. Mặc dù là sân chơi của các nghệ sĩ, diễn viên không chuyên, nhưng với sự góp mặt của 15 CLB tham gia đã tạo nên một “ngày hội” cho những người yêu tuồng. Trong suốt thời gian diễn ra hội diễn luôn có khá đông khán giả, cả những nghệ sĩ tuồng chuyên nghiệp, những NSND, NSƯT và nhiều nghệ sĩ trẻ đến thưởng thức và nhiệt tình cổ vũ. Họ đến đây với chung đam mê và với lòng mến yêu, thấu hiểu những thiệt thòi, vất vả đặc trưng của nghệ sĩ tuồng, hơn thế, xem đó cũng là một dịp để học nghề, họ lặng lẽ đồng hành cùng những đồng nghiệp của mình đang cháy hết mình trên sân khấu…

Theo NSND Lê Tiến Thọ: Để cho sức sống của nghệ thuật tuồng thực sự trọn vẹn chúng ta cần kêu gọi các nhà khoa học, các nghệ nhân, nghệ sĩ tâm huyết và cả sự quan tâm của lãnh đạo ban, ngành liên quan cùng chung sức bảo tồn và phát triển nghệ thuật tuồng. Cần tiếp tục đưa nghệ thuật tuồng vào các cơ sở đào tạo phổ thông, duy trì và gây dựng lớp khán giả cho Tuồng, phát triển hoạt động nghệ thuật tuồng không chuyên, chính sách đãi ngộ, đối với nghệ sĩ, diễn viên tuồng; đưa nghệ thuật tuồng cùng các nghệ thuật sân khấu truyền thống khác thành sản phẩm du lịch để tuồng lan tỏa trong đời sống văn hóa của người dân và bạn bè quốc tế. 

Ông Phạm Ngọc Tuấn- Giám đốc Nhà hát Tuồng Việt Nam cho biết: Hàng tuần, tại rạp Hồng Hà, Nhà hát vẫn đều đặn có 2 đêm diễn vào thứ hai và thứ năm để phục vụ khách du lịch, với các trích đoạn tuồng cổ đặc sắc: “Ông già cõng vợ đi xem hội”, “Nhã nhạc cung đình Huế”, múa “Lân mẹ đẻ lân con”, “Hồ Nguyệt Cô hóa cáo”, Nhã nhạc cung đình Huế… Mặc dù chỉ là cho khách nước ngoài, chứ hầu như không có khán giả Việt. Nhưng xem ra cách “chống cháy” này vẫn phần nào động viên được các nghệ sĩ khi có cơ hội được biểu diễn trên sân khấu. Cùng với đó, mới đây Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế đã bắt tay vào thực hiện đề tài cấp tỉnh số hóa tuồng Huế. Trong đó, thông qua đề tài khoa học “Xây dựng cơ sở dữ liệu cho tuồng Huế” trong 2 năm tới Trung tâm sẽ tiến hành lưu trữ và hệ thống lại toàn bộ những nguồn tài liệu hiện có về tuồng Huế, đồng thời tiếp tục bổ sung những “khoảng trống” còn thiếu, nghiên cứu chuyên sâu hơn về ngôn ngữ, vũ đạo, phục trang, mặt nạ,… nhất là kịch bản. 

Có thể thấy, muốn khắc phục những bất cập trên, không có cách nào khác ngoài việc phải đưa việc bảo tồn, phát triển nghệ thuật tuồng, trở thành mục tiêu quốc gia. Song song với đó, cần tiếp tục đưa nghệ thuật tuồng vào các cơ sở đào tạo phổ thông, duy trì và gây dựng lớp khán giả cho tuồng, phát triển hoạt động nghệ thuật tuồng không chuyên…

Theo Minh Quân - ĐĐK

 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • Ngày 15/10, tại Hà Nội, Bộ VHTTDL đã tổ chức cuộc họp nhằm chuẩn bị cho phiên họp Hội đồng cấp Nhà nước xét tặng các danh hiệu nghệ sĩ nhân dân, nghệ sĩ ưu tú (NSND, NSƯT) và danh hiệu nghệ nhân nhân dân, nghệ nhân ưu tú (NNND, NNƯT) năm 2018.

  • Nghệ thuật truyền thống dân tộc như: tuồng, chèo, cải lương, kịch hát dân tộc… đang kêu cứu, vì người xem ngày càng giảm, người theo nghề ngày càng hiếm. Hiện nghệ thuật truyền thống dân tộc đang thiếu hụt trầm trọng lực lượng thay thế trên tất cả các lĩnh vực, như diễn viên, nhạc công, biên kịch, đạo diễn…

  • Từ góc nhìn của nhà quy hoạch, Giám đốc SLAB, Đại học Nam California (Mỹ), GS. Annette Kim cho rằng, vỉa hè đa chức năng là một phần tạo nên thành phố sôi động, bền vững, đóng góp vào sinh hoạt cộng đồng.

  • Kết thúc loạt bài này, chúng tôi mong muốn, những nhận thức về văn hóa ngày càng hoàn thiện tiến gần đến giá trị cốt lõi nhất của văn hóa: Hình thành nhân cách con người và cốt cách của một dân tộc, trở thành nguồn lực nội sinh quan trọng để đất nước phát triển bền vững.

  • Hiện nay, nguy cơ mai một giá trị truyền thống làng xã rất lớn, ở cả chiều rộng và chiều sâu. Việc bảo tồn các giá trị di sản trong quá trình quy hoạch không gian kiến trúc làng không thể chậm trễ và trì hoãn. Trong đó, bảo tồn thích ứng và phát triển tiếp nối là phương thức mà giá trị tinh thần của di sản được kế thừa, hoàn thiện.

  • Chỉ đạo nghệ thuật được ví như người giữ lửa, bảo đảm khuynh hướng nghệ thuật, phong cách sáng tạo của đơn vị. Tuy nhiên, nhiều nhà hát của Hà Nội đang thiếu đội ngũ chỉ đạo nghệ thuật tài năng, chuyên nghiệp, dẫn tới sáng tạo ít mang tính đương thời, chưa có nhiều tác phẩm đỉnh cao có thể cạnh tranh với các loại hình nghệ thuật khác.

  • Mặt nạ giấy bồi, đèn kéo quân, tàu thủy sắt tây... từng mang lại niềm vui cho biết bao đứa trẻ mỗi độ Tết Trung thu. Nhưng trước sự phát triển của xã hội, những món đồ chơi truyền thống này liệu có cần thay đổi để đáp ứng thị hiếu trẻ nhỏ “thời 4.0”?

  • Vài năm trở lại đây, thị trường sách thiếu nhi trong nước đã có những chuyển biến với nhiều tín hiệu khởi sắc, nhưng vẫn cần nhiều cú hích để thực sự ổn định.

  • Dù trẻ con ngày nay ít còn chơi đèn kéo quân nữa, nhưng mỗi mùa Trung thu đến, gần ngày rằm tháng 8, nghệ nhân Vũ Văn Sinh lại cặm cụi làm những chiếc đèn truyền thống để giữ nghề, hoài niệm tuổi thơ và tưởng nhớ tổ tông.

  • Năm 2018, cải lương đánh dấu sự xuất hiện đúng 100 năm trên mảnh đất Nam bộ. Ngoài vở diễn “Thầy Ba Đợi” tri ân người khai sáng bộ môn nghệ thuật này, bộ phim “Song Lang” cũng ra mắt công chúng để góp thêm tình yêu cho khán giả hôm nay đối với loại hình sân khấu độc đáo trong tâm thức cư dân mở đất. Con đường đã qua của cải lương rất nhiều thành tựu, nhưng con đường phía trước của cải lương cũng không ít thử thách!

  • Dù còn nhiều khó khăn nhưng giới bạn đọc đang dần tiếp cận và sử dụng những sản phẩm trong cuộc cách mạng công nghiệp (CMCN) 4.0 để có thể thỏa mãn nhu cầu tiếp nhận thông tin hữu ích. 

  • Vùng đất phía Tây Hà Nội còn nhiều ngôi đình làng là biểu tượng của vùng xứ Đoài, với những giá trị đặc sắc về kiến trúc và điêu khắc. Tuy nhiên, hiện nay, các ngôi đình này đối diện với nguy cơ xuống cấp và bị hủy hoại. Đã có rất nhiều công trình bị “trùng tu như phá”, gần đây nhất là tại đình Lương Xá, xã Liên Bạt, huyện Ứng Hòa.

  • Mong muốn nghiên cứu, phục dựng, bảo tồn lại các nét đẹp trong văn hóa truyền thống của Việt Nam, ngày 8-8, Ỷ Vân Hiên với đội ngũ các bạn trẻ chuyên nghiệp, có kiến thức chuyên môn cùng với lòng nhiệt thành, sức sáng tạo mạnh mẽ đã ra mắt tại Hà Nội.

  • Trong 6 tháng đầu năm 2018, ngành xuất bản đã gây được tiếng vang trong xã hội với nhiều cuốn sách có nội dung tốt, mang tính thời sự... Số lượng xuất bản phẩm vi phạm về nội dung có giảm so với cùng kỳ năm 2017 nhưng vẫn chưa có giải pháp khắc phục triệt để.

  • Tiếp bước sự sáng tạo với sơn mài của các bậc thầy thời kỳ hội họa Đông Dương, ngày nay nghệ thuật sơn mài đương đại vẫn kế thừa và phát triển với nhiều lối biểu hiện và tìm tòi mới. Tuy nhiên, bên cạnh hiệu quả nghệ thuật, nhiều sáng tạo cũng gây tranh luận.

  • Tính đến thời điểm này, Việt Nam có 12 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO vinh danh. Thế nhưng, bên cạnh niềm vinh dự thì những danh hiệu cũng đang tạo ra nhiều sức ép không nhỏ với các nhà quản lý văn hóa trong công tác quảng bá, bảo tồn và phát triển.

  • “Ok (đồng ý) hay không thì mày nhớ confirm (xác nhận) cho người ta nha”; “giao đứa nào set up (sắp xếp) vụ này ngay và luôn đi chứ hứa rồi bỏ đó không hà”; “go now (đi ngay), mà free (miễn phí) thiệt hả?”; “nay được ở nhà full (cả) ngày”… Đó là vài trong số những câu Tây không ra Tây, ta chẳng ra ta mà giới trẻ Việt đang sử dụng trong cuộc sống hàng ngày.

  • Mùa World Cup 2018 đang đến những giờ phút cao trào của xúc cảm trong lòng người hâm mộ môn thể thao “vua”. Mỗi trận đấu mang lại nhiều cung bậc tình cảm: hân hoan, hào hứng, thất vọng, buồn khổ... theo từng đường bóng. Trong làng văn cũng có rất nhiều người hâm mộ đang cuồng nhiệt cổ vũ cho đội bóng mình yêu thích, thành thật khóc - cười sau mỗi trận bóng, và cuối cùng là đặt bút... làm thơ.

  • Chúng ta tưởng rằng, chúng ta tạo ra mạng xã hội là để chúng ta tự do hơn: tự do phát ngôn, tự do thể hiện quan điểm và suy nghĩ của mình, nhưng nhìn những điều đang diễn ra, chúng ta liệu có đạt được tự do thực sự và quan trọng hơn, là tìm kiếm được hạnh phúc?

  • Mấy chục năm qua, phê bình luôn được coi là khâu yếu nhất của nền văn nghệ. Nhẹ thì cũng là chưa theo kịp sự phát triển của phong trào sáng tác, không cắt nghĩa được sự phức tạp của các hiện tượng văn nghệ…