Phật giáo Huế có được những cơ sở thờ tự, chùa chiền khang trang, cùng sự tồn tại của nhiều thiền phái, với những tăng sĩ có trình độ cao, cư sĩ tín đồ đông đảo. Sự phát triển và hưng thịnh của Phật giáo Huế thời kỳ này một phần nhờ vào công lao đóng góp lớn của các ông hoàng, bà chúa cùng con cháu của họ. Một trong những ông hoàng có công đức hộ trì Phật pháp và để lại nhiều dấu ấn quan trọng đối với Phật giáo Huế vào những năm đầu của thế kỷ XIX là đức ông Phước Long Công Tôn Thất Thăng 福隆公尊室昇 [tức Nguyễn Phúc Thăng1 阮福昇]. Trong bài viết này, chúng tôi xin đề cập đến chiếc đại hồng chung đang được bảo quản ở chùa Phước Hưng và những trợ lực của đức ông Phước Long Công đối với Phật giáo đất Thần kinh.
1. Cuộc đời và hành trạng
Ông hoàng Tôn Thất Thăng là con trai thứ 18 của Võ vương Nguyễn Phúc Khoát, mẹ là bà Hữu cung tần Tống Thị Quyên. Ông sinh ngày 17 tháng 11 năm Nhâm Ngọ [tức ngày 21/12/1762]. Những năm tháng tuổi trẻ của ông gắn liền với biết bao thăng trầm, biến động của vương triều nhà Nguyễn.
Không còn phải bôn tẩu gian nan, năm 1799, Nguyễn Vương giao cho Quốc thúc Tôn Thất Thăng nhiệm vụ cai quản vệ Cường uy và vệ Tín uy. Sau đó, vua Gia Long ban ấn cho Quốc thúc Tôn Thất Thăng (Ấn khắc chữ triện “Quốc thúc chi ấn”)2. Đồng thời, nhà vua lấy Quốc thúc Tôn Thất Thăng giữ công việc ở Phủ Tôn Nhân để chăm lo gia huấn, trông coi người trong họ, làm phổ hệ Tôn Thất và quản trị quốc tộc đi vào nề nếp.
Trong quá trình thừa hành chức phận của mình ở Phủ Tôn Nhân, Tôn Thất Thăng đã tiến hành sửa sang phả điệp tông thất, kê khai con cháu trong phả hệ và tạo điều kiện thuận lợi cho dòng dõi Tôn Thất được ăn học đàng hoàng.
Vua Gia Long còn tin tưởng giao cho Quốc thúc Tôn Thất Thăng giám sát và quản lý việc xây dựng lại 17 lăng mộ của các chúa và phi tần. Sách Đại Nam thực lục có chép: “Năm Gia Long thứ 7 [1808], sửa sang các tôn lăng. Sai Quốc thúc Tôn Thất Thăng, Chưởng quân Phạm Văn Nhân, Nguyễn Văn Nhân, Nguyễn Đức Xuyên, Lê Chất, Đô thống chế Nguyễn Văn Khiêm, Trần Văn Năng chia nhau trông coi công việc. Vua thường đến xem. Thưởng cho các quân 8.000 quan tiền”3. Công việc xây dựng lăng mộ hoàn tất, vào dịp lễ thu hưởng, ngày kỵ thì vua Gia Long thường sai Tôn Thất Thăng khâm mạng làm lễ cúng tế.
Làm việc với cường độ cao suốt một thời gian dài, năm 1816, Quốc thúc Tôn Thất Thăng bị bệnh, nhà vua ban cho 500 quan tiền để an dưỡng. Ông cố gắng vào cung để tạ ơn, vua Gia Long mời lên điện khuyên nhủ4. Trong năm này, triều đình định ban thứ lễ triều hạ. Chỗ bái lạy của hoàng thái tử, hoàng tử, hoàng tôn và các công tước đều ở trên điện Thái Hòa. Hoàng thái tử ở đầu hàng tả ban, còn đầu hữu ban là Tôn Thất Thăng5. Điều này cho thấy, Tôn Thất Thăng đương thời được vua Gia Long, giới hoàng tộc và quan lại triều đình rất trọng vọng.
Niên hiệu Gia Long năm thứ 16 [1817], ông hoàng Tôn Thất Thăng được nhà vua phong tước Phước Long Công, ban sách phong, ấn bạc và ấn quan phòng6. Dù về mặt thân tộc Phước Long Công giữ vai chú của vua Gia Long nhưng ông luôn giữ mối quan hệ quân thần (vua tôi). Vì vậy, ông được nhà vua rất yêu mến và kính trọng.
![]() |
Cổng phủ Phước Long Công ở làng Công Lương |
Đức ông Phước Long Công bị mắc bệnh và càng ngày càng nặng, mặc dù vua Gia Long đã lệnh cho quan ngự y giỏi nhất đến để chữa trị, nhưng vẫn không qua khỏi. Ông qua đời vào ngày 8 tháng 6 năm Kỷ Mão (tức ngày 29/7/1819), hưởng thọ 58 tuổi. Hay tin Phước Long Công mất, vua Gia Long vô cùng thương xót và ban thụy là Hòa Tĩnh. Viên tẩm của đức ông Phước Long Công được triều đình xây dựng ở núi Bích Sơn thuộc làng An Ninh, huyện Hương Trà (nay thuộc phường Hương Hồ, thành phố Huế), gần lăng mộ mẫu thân của ngài. Sách Đại Nam liệt truyện có đoạn chép: “Thăng là chỗ rất thân trong họ nhà vua, được yêu quý không ai bằng. Vua thường gọi là Quốc thúc mà không gọi tên. Mỗi khi Thăng vào chầu riêng, vua bèn đứng dậy đón mời ngồi lên giường ngự, Thăng cố từ chối mà rằng: “Trời không có hai mặt trời, thần là Thăng đâu dám ngồi ở đấy”. Vua sai trải chiếu xuống đất cùng ngồi. Lúc Thăng ra về, vua đứng dậy tiễn. Vua đối Thăng, lễ đãi càng hậu, Thăng giữ lễ càng kính cẩn, hơn 20 năm vẫn như một ngày. Quận công Nguyễn Văn Nhân và Lê Văn Duyệt thường nói với nhau rằng: “Cái ân hoàng thượng ta thân với người thân, cái đức Quốc thúc khiêm thật là khiêm xưa nay đều ít có”. Đến bấy giờ Thăng mất, vua thương xót không thôi, cho dùng tang lễ thân vương theo chế độ, nghỉ chầu 5 ngày, đặt tên thụy là Hòa Tĩnh, chi tiền cho sắm sửa việc tang, sai hoàng tử Định Viễn công Bính đến dự tế. Vua lại bảo bộ Lễ rằng: “Quốc thúc kể ở nhà là bậc kỳ đức, kể ở nước là hạng nguyên thần, nay không may mất đi, con còn bé, đến khi lớn tuổi sẽ bàn cho tập ấm để nối mãi việc tế tự”7.
Đức ông Phước Long Công có 4 người con trai gồm Tôn Thất Thạnh (1806 - 1818), Tôn Thất Vĩnh (1811 - 1859), Tôn Thất Tường (1814 - 1877), Tôn Thất Thùy (1815 - 1885). Ngoài người con trưởng là Tôn Thất Thạnh do mất sớm nên không được ban tước vị, còn các vị công tử khác đã trưởng thành đều được triều đình ban cấp lương bổng và chức tước hậu hĩnh. Cụ thể, con trai thứ hai là công tử Tôn Thất Vĩnh được vua Minh Mạng tập phong tước Phước Long hầu (1826), cho sách phong và ấn bạc cùng triều phục hàm nhị phẩm, thứ bậc ở hạng dưới hàm nhị phẩm, mỗi năm cấp bổng 600 quan tiền, 500 phương gạo8. Còn công tử Tôn Thất Tường và Tôn Thất Thùy đều được ân phong làm Trợ Quốc lang (1830), vị thứ trong ban ở dưới hàng lục phẩm9.
![]() |
Sơ đồ phong tước tại phủ Phước Long Công |
Đức ông Phước Long Công cùng con cháu khai mở ra Phòng 18, Hệ 9 Tiền biên (con cháu của các chúa Nguyễn). Niên hiệu Minh Mạng năm thứ 5 [1824], triều đình ban đặc ân cấp cho phòng Phước Long Công “hơn 40 mẫu tự điền (Nguyên là ruộng đất tư ở hai làng Công Lương và Triều Thủy), tha thuế cho mãi mãi, khiến con là Vĩnh coi giữ việc thờ”10.
2. Xây chùa, tạo tượng và đúc đại hồng chung
Năm Bính Tý (1816), Quốc thúc Tôn Thất Thăng quyết định rời xa kinh kỳ phồn hoa diễm lệ để quay trở về làng Công Lương bên dòng sông Như Ý (nay là phường Thủy Vân, thành phố Huế) dựng phủ đệ, đặt tên vườn là Lạng Uyển để vui thú điền viên, một lòng hướng Phật.
![]() |
Toàn cảnh phủ Phước Long Công |
Nhìn ra được chốn linh địa, sau khi kiến tạo xong phủ đệ thì việc đầu tiên đức ông Tôn Thất Thăng nghĩ đến đó là tiến hành trùng hưng lại ngôi chùa của làng Công Lương đã bị hư hỏng, xuống cấp do tác động của thời gian và chiến sự loạn lạc. Ngoài ra, đức ông đã cùng vợ là bà Nguyễn Thị Ý cho tạo tượng Phật, đúc đại hồng chung để thay thế các pháp tượng, pháp khí của chùa đã bị mất mát trong cơn biến loạn. Ngày lạc thành ngôi chùa mới, đức ông Tôn Thất Thăng đặt tên là chùa Phước Hưng, thiện nam tín nữ gần xa đã đến chùa rất đông để chiêm bái. Sau đó, Quốc thúc Tôn Thất Thăng quyết định xuất gia, thọ giới Sa-di, do đại sư Tánh Toàn Nhất Thể11 thế độ, cho pháp danh là Hải Mâu, tự là Phước Hạo. Bà Nguyễn Thị Ý cũng xin quy y với đại sư Tánh Toàn Nhất Thể, thọ giới Sa-di-ni và được pháp danh là Hải Giác (cùng hàng chữ Hải với chồng), tự là Toàn Hảo. Từ đó, hai ông bà chăm lo tu học, giữ giới hạnh tinh nghiêm. Đặc biệt, Quốc thúc Tôn Thất Thăng còn cung thỉnh thầy của mình là Hòa thượng Tánh Toàn Nhất Thể về làm trú trì chùa Phước Hưng ở làng Công Lương để ngày ngày nghe tiếng tụng kinh niệm Phật cho khuây đi niềm tục lụy.
Cuốn gia phả do cụ Tôn Thất Đàn12 soạn vào năm Bảo Đại thứ 7 [1932] có chép về sự kiện này như sau: “Năm Bính Tý kính xây phủ đệ, mười dặm xóm làng dân chúng kéo về, sùng tu tự viện, một năm giảm thuế khóa để vỗ về những kẻ có quân công (tất cả mọi việc đều tiến hành ở xã Công Lương). Tạo tượng Phật và đúc đại hồng chung, sắm mũ áo và tôn thờ sấm điển. Lúc xây dựng xong và chạm trên biển ngạch hai chữ “Phước Hưng”13. Thời đó, chùa Phước Hưng đã trở thành nơi lui tới thường xuyên của các bậc cao tăng thạc đức.
Đến triều vua Minh Mạng, Hòa thượng Tánh Toàn Nhất Thể đã chọn một cuộc đất trên núi Tiên Tĩnh, làng Dương Xuân (nay thuộc phường Thủy Xuân, thành phố Huế) lập ra chùa Bảo Lâm và tu ở đó cho đến những ngày cuối đời. Từ đây, chùa Phước Hưng được giao lại cho phủ Phước Long Công quản lý và tổ chức các nghi lễ Phật giáo. Và phủ Phước Long Công có mối liên hệ mật thiết với chùa Bảo Lâm. Hầu hết, các con cháu của đức ông Phước Long Công đều quy y tại chùa Bảo Lâm. Vì vậy, họ đã đóng góp nhiều tịnh tài để trùng tu tôn tạo chùa và khắc in mộc bản kinh Phật cúng dường cho chùa Bảo Lâm. Điển hình vào năm Minh Mạng thứ 6 [1925], công tử Tôn Thất Vĩnh, Tôn Thất Tường đã phát tâm trợ khắc bản Tỳ ni nhật dụng thiết yếu để cầu nguyện cho cha là đức ông Phước Long Công14.
Sau khi triều Nguyễn cáo chung vào năm 1945, con cháu của các ông hoàng, bà chúa không còn được cấp lương bổng và phải vất vả bươn chải mưu sinh; và hậu duệ của đức ông Phước Long Công cũng không phải là một trường hợp ngoại lệ. Từ đó, chùa Phước Hưng ít được quan tâm tu bổ và chỉ đóng vai trò là một ngôi chùa làng. Trải qua nhiều biến thiên của thời cuộc và thời tiết khắc nghiệt, chùa đã bị hư hỏng nặng, nhiều hạng mục của ngôi nhà rường xuống cấp nghiêm trọng, có thể sụp đổ vào bất cứ lúc nào.
Với tinh thần phát huy ngôi cổ tự để tưởng nhớ thâm ân, ngưỡng vọng công hạnh của các vị khai sơn và trùng kiến, Thượng tọa Thích Đạo Huệ15 sau khi đảm nhiệm chức trú trì chùa Phước Hưng vào năm 2008 đã không quản khó khăn trùng hưng lại ngôi cổ tự ngày nào, trở thành chốn già lam uy nghiêm. Chùa hiện tọa lạc tại đường Nguyễn Hạnh (thuộc Tổ dân phố Công Lương, phường Thủy Vân, thành phố Huế), nằm cách phủ thờ Phước Long Công một đoạn không xa. Chùa Phước Hưng quay về hướng Tây Nam, gồm có các hạng mục kiến trúc chính như: Tam quan, chánh điện, nhà hậu, nhà Tăng, trai đường…
![]() |
Toàn cảnh chùa Phước Hưng |
Ngôi chánh điện có kiến trúc theo mô hình trùng thiềm điệp ốc, ba gian hai chái, kiểu kiến trúc truyền thống của chùa Huế. Điện Phật được bài trí tôn nghiêm. Ở gian giữa, có ba án thờ với từng án trong cao ngoài thấp. Án cao nhất thờ Tam Thế Phật gồm: Phật A Di Đà, Phật Thích Ca, Phật Di Lặc. Dưới hàng Tam Thế Phật là tượng đức Phật Thích Ca Mâu Ni hai tay quyết ấn tam muội, ngự trên tòa sen. Hàng dưới cùng là án kinh, chuông mõ. Ở hai gian tả hữu hai bên có án thờ tượng Địa Tạng Vương Bồ Tát và Quán Thế Âm Bồ Tát. Tại hậu tổ chùa Phước Hưng hiện đang thờ long vị của đức ông Phước Long Công Tôn Thất Thăng với nội dung: “Phụng vị Hoàng thúc Phước Long công ứng pháp Sa-di pháp danh Hải Mâu, tự Phước Hạo, thụy Viên Giác kim tọa - 奉為皇菽福隆公應法沙彌法名海眸字福昊諡圓覺金座”. Hai bên là 2 án thờ di ảnh của hương linh, các vị đạo hữu có công đức với chùa và 5 bài vị của các họ khai khẩn làng Công Lương là họ Nguyễn Hữu, Nguyễn, Trương, Lê, Hồ. Qua đây cho thấy, do những công lao và đóng góp to lớn của đức ông Phước Long Công đối với làng Công Lương nói chung và chùa Phước Hưng nói riêng nên mới được thờ phụng một cách trang trọng phía sau hậu tổ của chùa.
![]() |
Long vị của đức ông Phước Long Công thờ tại hậu tổ chùa Phước Hưng |
Ngày nay, khi đến chánh điện chùa Phước Hưng, khách thập phương có thể chiêm ngưỡng chiếc đại hồng chung do đức ông Phước Long Công Tôn Thất Thăng phát tâm chú tạo vào niên hiệu Gia Long năm thứ 16 [1817]. Quả chuông này được xem là một tác phẩm nghệ thuật trang trí tiêu biểu, thể hiện sự tinh xảo trong kỹ thuật đúc đồng của các nghệ nhân tài hoa dưới triều Nguyễn.
Toàn bộ chuông chùa Phước Hưng cao 118cm, đường kính thân chuông 67cm và đường kính miệng chuông 80cm. Chuông có hình dáng cân đối, hoa văn và những motif trên thân chuông được chạm trổ tinh xảo, sắc nét. Nếu chia theo bố cục ngang, đại hồng chung được chia thành ba phần: Quai chuông, thân chuông và miệng chuông. Phần quai chuông cao 24cm, được tạo hình bồ lao có hai đầu, với hình dáng chắc khỏe, uy nghi. Phần thân nối với nhau ở giữa, tạo thành một vòng cung tròn. Đầu bồ lao hướng lên, mũi dẹt, sống mũi dài, miệng ngậm hạt châu, răng nanh dài, đầu răng tròn. Mắt nhỏ, sừng ngắn chia làm hai nhánh ngay từ gốc. Quanh hàm có các bờm ngắn, râu dài thẳng nối từ mũi qua má đến khuỷu chân, đầu cuối râu cuốn lại thành khối xoắn ốc. Phần nối giữa đầu và thân có các trang trí như các cụm sóng nước. Thân bồ lao được bao phủ bởi các vảy tròn như vảy cá, dọc theo lưng có các vây theo kích thước từ nhỏ đến lớn, đều đặn hướng lên trên. Phần nối giữa hai thân có một khối hình búp sen cao với ba tầng cánh được tạo hình rõ ràng, tỉ mỉ, cánh hoa hơi khum xếp xen kẽ nhau. Chân bồ lao tạo khối hơi dẹt, nhỏ, khuỷu chân hơi chúc xuống, ở cạnh chân phía trên có các vây nhọn, trên chân có các vảy nhỏ. Chân bồ lao có bốn móng, dài và nhọn, độ tách móng rõ ràng, cùng với phần ức bám vào chuông.
![]() |
Quai chuông chùa Phước Hưng |
Phần vai chuông chia làm hai hàng, hàng thứ nhất không có trang trí, hàng thứ hai có một đường viền trang trí hình lá bồ đề chạy quanh chuông, giữa có ba đường gân lá. Phần thân chuông chia làm 5 hàng, hàng thứ nhất và hàng thứ ba chia làm bốn mặt, các mặt cách nhau bởi ba đường gờ dọc. Trên thân chuông có khắc một bài minh văn bằng chữ Hán.
![]() |
Minh văn chữ Hán khắc trên chuông chùa Phước Hưng |
Bốn núm đánh được nối liền nhau bằng gờ nổi, bên trái và phải của núm có trang trí sáu dải mây hình mũi mác, mỗi bên ba dải. Một trong những nét đặc trưng nổi bật mà ít chuông có được là hình đúc nổi biểu tượng bát bửu, tám quẻ bát quái, lưỡng long triều nhật cách đều chạy quanh thân chuông. Trong đó ở giữa tám vật quý này đều có một dải là quấn ngang ở giữa và hai đầu uốn lượn. Đây là một cách thức trang trí ước lệ rất cổ điển được duy trì ở các triều đại trước trên các chất liệu khác nhau như gỗ, sành sứ, lụa. Miệng chuông loe, uốn cong, có gờ gấp ở sát viền miệng và trang trí họa tiết tam sơn, thủy ba uốn lượn đều đặn theo nhịp.
![]() |
Họa tiết trang trí trên thân chuông chùa Phước Hưng |
Có thể nói, đức ông Phước Long Công là một trong những nhân vật có vai trò và công lao lớn trong quá trình dựng xây vương triều Nguyễn vào thời kỳ đầu. Và với Phật giáo Huế, đức ông cũng đã để lại một số dấu ấn quan trọng góp phần làm phong phú thêm cho đời sống văn hóa và lịch sử Phật giáo của địa phương. Bởi vậy, những dấu ấn của đức ông Phước Long Công xứng đáng được vinh danh và trân trọng. Riêng về chiếc đại hồng chung đang được lưu giữ ở chùa Phước Hưng, đây là một tác phẩm mỹ thuật điêu khắc, hội họa và kỹ nghệ đúc đồng đặc sắc dưới thời Nguyễn. Từ bao đời nay, tiếng chuông chùa Phước Hưng thanh thoát, vang vọng trong mỗi sớm hôm giúp thức tỉnh lòng người, xua tan miền tục lụy đã trở thành thanh âm gần gũi, thân thương trong tâm thức người dân phường Thủy Vân nói chung và làng Công Lương nói riêng.
T.V.D
(TCSH431/01-2024)
------------------------
1 Kể từ ngày 28/5/1822, vua Minh Mạng đã định phép đặt tên, theo đó con cháu của 9 đời chúa Nguyễn trước được xưng là “Tôn Thất”. Vì vậy, đức ông Nguyễn Phúc Thăng được triều đình đổi tên thành Tôn Thất Thăng.
2 Quốc sử quán triều Nguyễn (2007), Đại Nam thực lục, Tập 1, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, tr. 492.
3 Quốc sử quán triều Nguyễn (2007), Đại Nam thực lục, Tập 1, Sđd, tr. 722.
4 Quốc sử quán triều Nguyễn (2007), Đại Nam thực lục, Tập 1, Sđd, tr. 917.
5 Quốc Sử Quán triều Nguyễn (2007), Đại Nam thực lục, Tập 1, Sđd, tr. 926.
6 Quốc Sử Quán triều Nguyễn (2007), Đại Nam thực lục, Tập 1, Sđd, tr. 954.
7 Quốc Sử Quán triều Nguyễn (1993), Đại Nam liệt truyện, Tập 1, Nxb. Thuận Hóa, Huế, tr. 74.
8 Quốc Sử Quán triều Nguyễn (2007), Đại Nam thực lục, Tập 2, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, tr. 516.
9 Quốc Sử Quán triều Nguyễn (2007), Đại Nam thực lục, Tập 2, Sđd, tr. 504.
10 Quốc Sử Quán triều Nguyễn (2007), Đại Nam thực lục, Tập 2, Sđd, tr 344.
11 Đại sư Tánh Toàn Nhất Thể là Tổ khai sơn chùa Bảo Lâm ở làng Dương Xuân (nay thuộc phường Thủy Xuân, thành phố Huế).
12 Cụ Tôn Thất Đàn là con trai của Huyện hầu Tôn Thất Trọng.
13 Dẫn theo Gia phả phủ Phước Long Công, soạn năm Nhâm Thân, niên hiệu Bảo Đại năm thứ 7 [1932].
14 Thích Pháp Hạnh, Nguyễn Văn Thịnh (2024), “Chùa Bảo Lâm và bộ mộc bản Luật tạng”, Kỷ yếu Hội thảo Khoa học Thiền phái Liễu Quán: Lịch sử hình thành và phát triển, Học viện Phật giáo Việt Nam tại Huế, tr. 1072.
15 Thượng tọa Thích Đạo Huệ thuộc pháp phái Tường Vân. Sau một thời gian lâm bệnh nặng, Thượng tọa Thích Đạo Huệ đã thu thần viên tịch vào tháng 8/2024. Hiện nay, chùa Phước Hưng do đại đức Thích Phước Trí quản lý và trông coi.
____________________
Tài liệu tham khảo:
1. Dương Văn An (2015), Ô Châu cận lục, Trần Đại Vinh dịch và chú giải, Nxb. Thuận Hóa, Huế.
2. Nguyễn Đình Đầu (1997), Nghiên cứu Địa bạ triều Nguyễn Thừa Thiên, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Lê Quý Đôn (2018), Phủ Biên tạp lục, Trần Đại Vinh dịch và chú giải, Nxb. Đà Nẵng.
4. Thích Pháp Hạnh, Nguyễn Văn Thịnh (2024), “Chùa Bảo Lâm và bộ mộc bản Luật tạng”, Kỷ yếu Hội thảo Khoa học Thiền phái Liễu Quán: Lịch sử hình thành và phát triển, Học viện Phật giáo Việt Nam tại Huế.
5. Quốc Sử Quán triều Nguyễn (1993), Đại Nam liệt truyện, Tập 1, Nxb. Thuận Hóa, Huế.
6. Quốc Sử Quán triều Nguyễn (2007), Đại Nam thực lục, Tập 1, Nxb. Giáo dục, Hà Nội.
7. Quốc Sử Quán triều Nguyễn (2007), Đại Nam thực lục, Tập 2, Nxb. Giáo dục, Hà Nội.
LÊ MINH PHONGDọc theo đôi bờ Sông Hương, nơi có những công viên quyến rũ là điểm trưng bày của một số công trình nghệ thuật.
NHỤY NGUYÊN(Xây dựng Thừa Thiên Huế trở thành thành phố trực thuộc trung ương)
LÊ PHÙNGSau nhiều ngày cùng nhau trăn trở - nghĩ suy - hiệp lực - hiệp tâm của những anh, chị em nhạc sĩ ở Huế, Nhạc Quán đã chính thức trình làng với công chúng yêu thích âm nhạc tại Huế vào lúc 20h, ngày chủ nhật (02/01/2011) là ngày Đinh Tỵ (nguyệt đức hợp, tế tự, đính hôn) trong tiết trời vào xuân của Huế, có sáng nắng chiều mưa, có gió về đêm, có lòng người ấm áp, có không gian lãng mạn, trữ tình.
HỒ VĨNHMới đây trong quá trình sưu tầm tư liệu Hán Nôm tại Cố đô Huế, chúng tôi tìm thấy được một văn bản có liên quan đến Phường Đúc Huế.
TƯỜNG THITôi trở lại Hương Trà bằng ký ức của hơn 20 năm trước, trên con đường đất băng qua những vườn thanh trà trĩu quả ven con sông Bồ thơ mộng để đến làng Lại Bằng, xã Hương Vân. Một xã tiếp giáp núi và đồng bằng, nơi đã ghi lại dấu ấn lịch chống giặc ngoại xâm của Thừa Thiên Huế - địa đạo Khe Trái.
NGUYỄN ĐẮC XUÂNTrong những năm gần đây, Huế đã được các nhà đông phương học và khách du lịch trong nước và ngoài nước lưu ý.
MAI KHẮC ỨNGLăng Minh Mạng nằm dưới chân núi Cẩm Kê thuộc thôn La Khê làng An Bằng huyện Hương Trà cũ, nay là thôn Liên Bằng, xã Hương Thọ, thành phố Huế. Địa thế dải đất này rất đẹp. Hiện thời cây cối ở chung quanh đã lùi xa để lại những khoảng trống nối dài trên các triền đồi thoai thoải, khu lăng trở nên lẻ loi hơn.
LÊ HUỲNH LÂMCó lẽ một trong những loài động vật gần gũi, gắn bó với người dân xứ Huế trong mọi thời cuộc là loài hến. Cho dù trải qua bao thăng trầm, bao biến cố trên mảnh đất nhỏ bé này, mọi thứ có thể thịnh suy nhưng hến vẫn trường tồn. Trường tồn như một nét văn hóa thầm lặng, khiêm tốn, không khua trương, ồn ào,… mà âm thầm tỏa ngát hương.
PHAN HỨA THỤYChùa Thiên Mụ là một công trình kiến trúc có qui mô lớn và xuất hiện khá sớm trong quá trình hình thành phát triển của văn hoá Phú Xuân. Cũng như phần lớn các công trình kiến trúc cổ khác, chùa Thiên Mụ từ khi mới được xây cất trở về sau lần lượt đã được dựng nhiều tấm bia, hoặc để ghi lại công việc tu tạo, hoặc đề thơ vịnh cảnh, hoặc ghi cảm tưởng trong những lần vãn cảnh chùa của một số vua chúa nhà Nguyễn.
NGUYỄN ĐÌNH HÒE VÀ L.CADIÈRE(Tiếp theo SH số 5 – tháng 2 - 1984)
NGUYỄN ĐÌNH HÒE VÀ L.CADIÈRE(B.A.V.H. 1992, trang 189-203)HỒ TỊNH TÂM - Từ thời Gia Long, khi xây kinh thành Huế, một nhánh sông đã được ngăn chặn lại ở trên làng Kim Long hiện nay và dòng sông đó bị lấp đi ở một vài nơi, một số nơi khác thì được mở rộng và uốn nắn lại cho đều đặn. Chính một phần của nhánh sông ngày xưa ấy đã tạo ra Hồ Tịnh Tâm, nay ở tại bên trái đường Lục bộ, gần với Cầu kho, hay vùng nhượng địa (cho Pháp ở Mang Cá lớn).
HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNGCó lẽ thiên nhiên đã giữ một vai trò nào đó, thực quan trọng, trong sự tổng hợp nên cái mà người ta có thể gọi là “bản sắc Huế”. Bởi vì thiên nhiên bao giờ cũng biểu hiện một cách nhất quán giữa cái hằng cửu và cái biến dịch, giữa cái biến động và cái tĩnh tại.
MAI KHẮC ỨNGBất chợt. Tưởng như có con lợn chạy giữa sân điện Cần Chánh tại Hoàng thành Huế. Định thần lại tôi đã nhìn thấy chúng trong mấy ô trang trí bên thân hai chiếc vạc đồng đúc thuở Kim Long còn là phủ chúa dưới thời Hiền vương Nguyễn Phúc Tần (1648 - 1687) mà lạc khoản lại ghi Thịnh Đức thứ 8 và Thịnh Đức thứ 10. Bản chú thích bên hai vạc này ghi là đúc năm 1660 và 1662.
L.N.D: Vào năm 1822, dưới triều Minh Mạng, một người Anh là John Crawfurd có dịp đến Huế và được hai người Pháp lúc bấy giờ đang làm quan ở đây là Chaigneau và Vannier hướng dẫn đi thăm Kinh Thành. Dưới đây là những gì mà Crawfurd đã viết về Huế trong ngày viếng thăm ấy: 29-9-1822. Chúng tôi dịch từ bản Pháp ngữ của H.Cossarat trong B.A.V.H. 1933, No1-2, tr.5-10.
PHẠM ĐĂNG TRÍThuở ấy, có nhiều người từ những miền đất màu mỡ nhưng vẫn dời nhà đến ở trên một vùng gò đồi đầy sỏi đá. Nguyên nhân lôi cuốn họ tới đây là do màu sắc thiên nhiên ở chốn này thật là thanh tú, đa dạng và không ngừng thay đổi.
LÊ VĂN HẢOTháng 12 năm 1979 tại thành phố Pitxanulôcơ (Pitsanulok) Thái Lan, ông Tổng Giám đốc Tổ chức Giáo dục Khoa học và Văn hoá của Liên Hiệp Quốc (gọi tắt là UNESCO) đã triệu tập một cuộc họp của những chuyên gia nhằm chuẩn bị cho một Chương trình nghiên cứu các đô thành lịch sử ở châu Á. Chương trình này sẽ nhằm vào một số đô thành cổ kính đã từng đóng những vai trò có ý nghĩa trong sự phát triển và giao lưu của các nền văn hoá ở châu Á.
Chiều 8.6, tại Nam Châu Hội Quán trên vùng cỏ cây Kim Long xứ Huế, GALA TINH HOA SÔNG HƯƠNG đã được tổ chức nhằm tôn vinh Nhà xuất bản Tinh Hoa - Huế.
NGUYỄN ĐẮC XUÂNỞ mục “Phương vị quê hương” này, tạp chí sẽ lần lượt đăng các bài tìm hiểu văn hoá ngắn gọn nhưng có… duyên văn chương. Chúng tôi vui mừng được sự hưởng ứng của các nhà nghiên cứu lão thành am hiểu Huế - Bình Trị Thiên như các cụ Bửu Kế, Phan Văn Dật, Nguyễn Hữu Đính, Phạm Đăng Trí… cùng các anh Lê Văn Hảo, Nguyễn Đắc Xuân, Phan Thuận An… Chúng tôi cũng mong nhận được bài của các bạn ở các tỉnh miền Trung nói về phong vị quê hương mình để tạo được giao lưu văn hoá trên giải đất gắn bó lâu đời này.
MẶC KHÁCHHuế nguyên là đất đế đô, nơi sinh trưởng của vua chúa, chốn triều đình quan lại, đa số tao nhân mặc khách đều tụ họp về đây. Do đó mà tiếng nói của xứ Huế, trang nhã thanh tao, có khi lại nặng mùi “bề trên” hoặc kiểu cách đến buồn cười.
NGUYỄN HỮU ĐÍNHMột nhà văn tên tuổi địa phương - địa phương nhưng kiêm cả Trung ương - đã say sưa mô tả con sông Hương, với một đầu đề trớ trêu và duyên dáng: “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” Trớ trêu và duyên dáng hơn nữa là nêu lên câu hỏi mà không chịu trả lời.