Phật giáo Huế có được những cơ sở thờ tự, chùa chiền khang trang, cùng sự tồn tại của nhiều thiền phái, với những tăng sĩ có trình độ cao, cư sĩ tín đồ đông đảo. Sự phát triển và hưng thịnh của Phật giáo Huế thời kỳ này một phần nhờ vào công lao đóng góp lớn của các ông hoàng, bà chúa cùng con cháu của họ. Một trong những ông hoàng có công đức hộ trì Phật pháp và để lại nhiều dấu ấn quan trọng đối với Phật giáo Huế vào những năm đầu của thế kỷ XIX là đức ông Phước Long Công Tôn Thất Thăng 福隆公尊室昇 [tức Nguyễn Phúc Thăng1 阮福昇]. Trong bài viết này, chúng tôi xin đề cập đến chiếc đại hồng chung đang được bảo quản ở chùa Phước Hưng và những trợ lực của đức ông Phước Long Công đối với Phật giáo đất Thần kinh.
1. Cuộc đời và hành trạng
Ông hoàng Tôn Thất Thăng là con trai thứ 18 của Võ vương Nguyễn Phúc Khoát, mẹ là bà Hữu cung tần Tống Thị Quyên. Ông sinh ngày 17 tháng 11 năm Nhâm Ngọ [tức ngày 21/12/1762]. Những năm tháng tuổi trẻ của ông gắn liền với biết bao thăng trầm, biến động của vương triều nhà Nguyễn.
Không còn phải bôn tẩu gian nan, năm 1799, Nguyễn Vương giao cho Quốc thúc Tôn Thất Thăng nhiệm vụ cai quản vệ Cường uy và vệ Tín uy. Sau đó, vua Gia Long ban ấn cho Quốc thúc Tôn Thất Thăng (Ấn khắc chữ triện “Quốc thúc chi ấn”)2. Đồng thời, nhà vua lấy Quốc thúc Tôn Thất Thăng giữ công việc ở Phủ Tôn Nhân để chăm lo gia huấn, trông coi người trong họ, làm phổ hệ Tôn Thất và quản trị quốc tộc đi vào nề nếp.
Trong quá trình thừa hành chức phận của mình ở Phủ Tôn Nhân, Tôn Thất Thăng đã tiến hành sửa sang phả điệp tông thất, kê khai con cháu trong phả hệ và tạo điều kiện thuận lợi cho dòng dõi Tôn Thất được ăn học đàng hoàng.
Vua Gia Long còn tin tưởng giao cho Quốc thúc Tôn Thất Thăng giám sát và quản lý việc xây dựng lại 17 lăng mộ của các chúa và phi tần. Sách Đại Nam thực lục có chép: “Năm Gia Long thứ 7 [1808], sửa sang các tôn lăng. Sai Quốc thúc Tôn Thất Thăng, Chưởng quân Phạm Văn Nhân, Nguyễn Văn Nhân, Nguyễn Đức Xuyên, Lê Chất, Đô thống chế Nguyễn Văn Khiêm, Trần Văn Năng chia nhau trông coi công việc. Vua thường đến xem. Thưởng cho các quân 8.000 quan tiền”3. Công việc xây dựng lăng mộ hoàn tất, vào dịp lễ thu hưởng, ngày kỵ thì vua Gia Long thường sai Tôn Thất Thăng khâm mạng làm lễ cúng tế.
Làm việc với cường độ cao suốt một thời gian dài, năm 1816, Quốc thúc Tôn Thất Thăng bị bệnh, nhà vua ban cho 500 quan tiền để an dưỡng. Ông cố gắng vào cung để tạ ơn, vua Gia Long mời lên điện khuyên nhủ4. Trong năm này, triều đình định ban thứ lễ triều hạ. Chỗ bái lạy của hoàng thái tử, hoàng tử, hoàng tôn và các công tước đều ở trên điện Thái Hòa. Hoàng thái tử ở đầu hàng tả ban, còn đầu hữu ban là Tôn Thất Thăng5. Điều này cho thấy, Tôn Thất Thăng đương thời được vua Gia Long, giới hoàng tộc và quan lại triều đình rất trọng vọng.
Niên hiệu Gia Long năm thứ 16 [1817], ông hoàng Tôn Thất Thăng được nhà vua phong tước Phước Long Công, ban sách phong, ấn bạc và ấn quan phòng6. Dù về mặt thân tộc Phước Long Công giữ vai chú của vua Gia Long nhưng ông luôn giữ mối quan hệ quân thần (vua tôi). Vì vậy, ông được nhà vua rất yêu mến và kính trọng.
![]() |
Cổng phủ Phước Long Công ở làng Công Lương |
Đức ông Phước Long Công bị mắc bệnh và càng ngày càng nặng, mặc dù vua Gia Long đã lệnh cho quan ngự y giỏi nhất đến để chữa trị, nhưng vẫn không qua khỏi. Ông qua đời vào ngày 8 tháng 6 năm Kỷ Mão (tức ngày 29/7/1819), hưởng thọ 58 tuổi. Hay tin Phước Long Công mất, vua Gia Long vô cùng thương xót và ban thụy là Hòa Tĩnh. Viên tẩm của đức ông Phước Long Công được triều đình xây dựng ở núi Bích Sơn thuộc làng An Ninh, huyện Hương Trà (nay thuộc phường Hương Hồ, thành phố Huế), gần lăng mộ mẫu thân của ngài. Sách Đại Nam liệt truyện có đoạn chép: “Thăng là chỗ rất thân trong họ nhà vua, được yêu quý không ai bằng. Vua thường gọi là Quốc thúc mà không gọi tên. Mỗi khi Thăng vào chầu riêng, vua bèn đứng dậy đón mời ngồi lên giường ngự, Thăng cố từ chối mà rằng: “Trời không có hai mặt trời, thần là Thăng đâu dám ngồi ở đấy”. Vua sai trải chiếu xuống đất cùng ngồi. Lúc Thăng ra về, vua đứng dậy tiễn. Vua đối Thăng, lễ đãi càng hậu, Thăng giữ lễ càng kính cẩn, hơn 20 năm vẫn như một ngày. Quận công Nguyễn Văn Nhân và Lê Văn Duyệt thường nói với nhau rằng: “Cái ân hoàng thượng ta thân với người thân, cái đức Quốc thúc khiêm thật là khiêm xưa nay đều ít có”. Đến bấy giờ Thăng mất, vua thương xót không thôi, cho dùng tang lễ thân vương theo chế độ, nghỉ chầu 5 ngày, đặt tên thụy là Hòa Tĩnh, chi tiền cho sắm sửa việc tang, sai hoàng tử Định Viễn công Bính đến dự tế. Vua lại bảo bộ Lễ rằng: “Quốc thúc kể ở nhà là bậc kỳ đức, kể ở nước là hạng nguyên thần, nay không may mất đi, con còn bé, đến khi lớn tuổi sẽ bàn cho tập ấm để nối mãi việc tế tự”7.
Đức ông Phước Long Công có 4 người con trai gồm Tôn Thất Thạnh (1806 - 1818), Tôn Thất Vĩnh (1811 - 1859), Tôn Thất Tường (1814 - 1877), Tôn Thất Thùy (1815 - 1885). Ngoài người con trưởng là Tôn Thất Thạnh do mất sớm nên không được ban tước vị, còn các vị công tử khác đã trưởng thành đều được triều đình ban cấp lương bổng và chức tước hậu hĩnh. Cụ thể, con trai thứ hai là công tử Tôn Thất Vĩnh được vua Minh Mạng tập phong tước Phước Long hầu (1826), cho sách phong và ấn bạc cùng triều phục hàm nhị phẩm, thứ bậc ở hạng dưới hàm nhị phẩm, mỗi năm cấp bổng 600 quan tiền, 500 phương gạo8. Còn công tử Tôn Thất Tường và Tôn Thất Thùy đều được ân phong làm Trợ Quốc lang (1830), vị thứ trong ban ở dưới hàng lục phẩm9.
![]() |
Sơ đồ phong tước tại phủ Phước Long Công |
Đức ông Phước Long Công cùng con cháu khai mở ra Phòng 18, Hệ 9 Tiền biên (con cháu của các chúa Nguyễn). Niên hiệu Minh Mạng năm thứ 5 [1824], triều đình ban đặc ân cấp cho phòng Phước Long Công “hơn 40 mẫu tự điền (Nguyên là ruộng đất tư ở hai làng Công Lương và Triều Thủy), tha thuế cho mãi mãi, khiến con là Vĩnh coi giữ việc thờ”10.
2. Xây chùa, tạo tượng và đúc đại hồng chung
Năm Bính Tý (1816), Quốc thúc Tôn Thất Thăng quyết định rời xa kinh kỳ phồn hoa diễm lệ để quay trở về làng Công Lương bên dòng sông Như Ý (nay là phường Thủy Vân, thành phố Huế) dựng phủ đệ, đặt tên vườn là Lạng Uyển để vui thú điền viên, một lòng hướng Phật.
![]() |
Toàn cảnh phủ Phước Long Công |
Nhìn ra được chốn linh địa, sau khi kiến tạo xong phủ đệ thì việc đầu tiên đức ông Tôn Thất Thăng nghĩ đến đó là tiến hành trùng hưng lại ngôi chùa của làng Công Lương đã bị hư hỏng, xuống cấp do tác động của thời gian và chiến sự loạn lạc. Ngoài ra, đức ông đã cùng vợ là bà Nguyễn Thị Ý cho tạo tượng Phật, đúc đại hồng chung để thay thế các pháp tượng, pháp khí của chùa đã bị mất mát trong cơn biến loạn. Ngày lạc thành ngôi chùa mới, đức ông Tôn Thất Thăng đặt tên là chùa Phước Hưng, thiện nam tín nữ gần xa đã đến chùa rất đông để chiêm bái. Sau đó, Quốc thúc Tôn Thất Thăng quyết định xuất gia, thọ giới Sa-di, do đại sư Tánh Toàn Nhất Thể11 thế độ, cho pháp danh là Hải Mâu, tự là Phước Hạo. Bà Nguyễn Thị Ý cũng xin quy y với đại sư Tánh Toàn Nhất Thể, thọ giới Sa-di-ni và được pháp danh là Hải Giác (cùng hàng chữ Hải với chồng), tự là Toàn Hảo. Từ đó, hai ông bà chăm lo tu học, giữ giới hạnh tinh nghiêm. Đặc biệt, Quốc thúc Tôn Thất Thăng còn cung thỉnh thầy của mình là Hòa thượng Tánh Toàn Nhất Thể về làm trú trì chùa Phước Hưng ở làng Công Lương để ngày ngày nghe tiếng tụng kinh niệm Phật cho khuây đi niềm tục lụy.
Cuốn gia phả do cụ Tôn Thất Đàn12 soạn vào năm Bảo Đại thứ 7 [1932] có chép về sự kiện này như sau: “Năm Bính Tý kính xây phủ đệ, mười dặm xóm làng dân chúng kéo về, sùng tu tự viện, một năm giảm thuế khóa để vỗ về những kẻ có quân công (tất cả mọi việc đều tiến hành ở xã Công Lương). Tạo tượng Phật và đúc đại hồng chung, sắm mũ áo và tôn thờ sấm điển. Lúc xây dựng xong và chạm trên biển ngạch hai chữ “Phước Hưng”13. Thời đó, chùa Phước Hưng đã trở thành nơi lui tới thường xuyên của các bậc cao tăng thạc đức.
Đến triều vua Minh Mạng, Hòa thượng Tánh Toàn Nhất Thể đã chọn một cuộc đất trên núi Tiên Tĩnh, làng Dương Xuân (nay thuộc phường Thủy Xuân, thành phố Huế) lập ra chùa Bảo Lâm và tu ở đó cho đến những ngày cuối đời. Từ đây, chùa Phước Hưng được giao lại cho phủ Phước Long Công quản lý và tổ chức các nghi lễ Phật giáo. Và phủ Phước Long Công có mối liên hệ mật thiết với chùa Bảo Lâm. Hầu hết, các con cháu của đức ông Phước Long Công đều quy y tại chùa Bảo Lâm. Vì vậy, họ đã đóng góp nhiều tịnh tài để trùng tu tôn tạo chùa và khắc in mộc bản kinh Phật cúng dường cho chùa Bảo Lâm. Điển hình vào năm Minh Mạng thứ 6 [1925], công tử Tôn Thất Vĩnh, Tôn Thất Tường đã phát tâm trợ khắc bản Tỳ ni nhật dụng thiết yếu để cầu nguyện cho cha là đức ông Phước Long Công14.
Sau khi triều Nguyễn cáo chung vào năm 1945, con cháu của các ông hoàng, bà chúa không còn được cấp lương bổng và phải vất vả bươn chải mưu sinh; và hậu duệ của đức ông Phước Long Công cũng không phải là một trường hợp ngoại lệ. Từ đó, chùa Phước Hưng ít được quan tâm tu bổ và chỉ đóng vai trò là một ngôi chùa làng. Trải qua nhiều biến thiên của thời cuộc và thời tiết khắc nghiệt, chùa đã bị hư hỏng nặng, nhiều hạng mục của ngôi nhà rường xuống cấp nghiêm trọng, có thể sụp đổ vào bất cứ lúc nào.
Với tinh thần phát huy ngôi cổ tự để tưởng nhớ thâm ân, ngưỡng vọng công hạnh của các vị khai sơn và trùng kiến, Thượng tọa Thích Đạo Huệ15 sau khi đảm nhiệm chức trú trì chùa Phước Hưng vào năm 2008 đã không quản khó khăn trùng hưng lại ngôi cổ tự ngày nào, trở thành chốn già lam uy nghiêm. Chùa hiện tọa lạc tại đường Nguyễn Hạnh (thuộc Tổ dân phố Công Lương, phường Thủy Vân, thành phố Huế), nằm cách phủ thờ Phước Long Công một đoạn không xa. Chùa Phước Hưng quay về hướng Tây Nam, gồm có các hạng mục kiến trúc chính như: Tam quan, chánh điện, nhà hậu, nhà Tăng, trai đường…
![]() |
Toàn cảnh chùa Phước Hưng |
Ngôi chánh điện có kiến trúc theo mô hình trùng thiềm điệp ốc, ba gian hai chái, kiểu kiến trúc truyền thống của chùa Huế. Điện Phật được bài trí tôn nghiêm. Ở gian giữa, có ba án thờ với từng án trong cao ngoài thấp. Án cao nhất thờ Tam Thế Phật gồm: Phật A Di Đà, Phật Thích Ca, Phật Di Lặc. Dưới hàng Tam Thế Phật là tượng đức Phật Thích Ca Mâu Ni hai tay quyết ấn tam muội, ngự trên tòa sen. Hàng dưới cùng là án kinh, chuông mõ. Ở hai gian tả hữu hai bên có án thờ tượng Địa Tạng Vương Bồ Tát và Quán Thế Âm Bồ Tát. Tại hậu tổ chùa Phước Hưng hiện đang thờ long vị của đức ông Phước Long Công Tôn Thất Thăng với nội dung: “Phụng vị Hoàng thúc Phước Long công ứng pháp Sa-di pháp danh Hải Mâu, tự Phước Hạo, thụy Viên Giác kim tọa - 奉為皇菽福隆公應法沙彌法名海眸字福昊諡圓覺金座”. Hai bên là 2 án thờ di ảnh của hương linh, các vị đạo hữu có công đức với chùa và 5 bài vị của các họ khai khẩn làng Công Lương là họ Nguyễn Hữu, Nguyễn, Trương, Lê, Hồ. Qua đây cho thấy, do những công lao và đóng góp to lớn của đức ông Phước Long Công đối với làng Công Lương nói chung và chùa Phước Hưng nói riêng nên mới được thờ phụng một cách trang trọng phía sau hậu tổ của chùa.
![]() |
Long vị của đức ông Phước Long Công thờ tại hậu tổ chùa Phước Hưng |
Ngày nay, khi đến chánh điện chùa Phước Hưng, khách thập phương có thể chiêm ngưỡng chiếc đại hồng chung do đức ông Phước Long Công Tôn Thất Thăng phát tâm chú tạo vào niên hiệu Gia Long năm thứ 16 [1817]. Quả chuông này được xem là một tác phẩm nghệ thuật trang trí tiêu biểu, thể hiện sự tinh xảo trong kỹ thuật đúc đồng của các nghệ nhân tài hoa dưới triều Nguyễn.
Toàn bộ chuông chùa Phước Hưng cao 118cm, đường kính thân chuông 67cm và đường kính miệng chuông 80cm. Chuông có hình dáng cân đối, hoa văn và những motif trên thân chuông được chạm trổ tinh xảo, sắc nét. Nếu chia theo bố cục ngang, đại hồng chung được chia thành ba phần: Quai chuông, thân chuông và miệng chuông. Phần quai chuông cao 24cm, được tạo hình bồ lao có hai đầu, với hình dáng chắc khỏe, uy nghi. Phần thân nối với nhau ở giữa, tạo thành một vòng cung tròn. Đầu bồ lao hướng lên, mũi dẹt, sống mũi dài, miệng ngậm hạt châu, răng nanh dài, đầu răng tròn. Mắt nhỏ, sừng ngắn chia làm hai nhánh ngay từ gốc. Quanh hàm có các bờm ngắn, râu dài thẳng nối từ mũi qua má đến khuỷu chân, đầu cuối râu cuốn lại thành khối xoắn ốc. Phần nối giữa đầu và thân có các trang trí như các cụm sóng nước. Thân bồ lao được bao phủ bởi các vảy tròn như vảy cá, dọc theo lưng có các vây theo kích thước từ nhỏ đến lớn, đều đặn hướng lên trên. Phần nối giữa hai thân có một khối hình búp sen cao với ba tầng cánh được tạo hình rõ ràng, tỉ mỉ, cánh hoa hơi khum xếp xen kẽ nhau. Chân bồ lao tạo khối hơi dẹt, nhỏ, khuỷu chân hơi chúc xuống, ở cạnh chân phía trên có các vây nhọn, trên chân có các vảy nhỏ. Chân bồ lao có bốn móng, dài và nhọn, độ tách móng rõ ràng, cùng với phần ức bám vào chuông.
![]() |
Quai chuông chùa Phước Hưng |
Phần vai chuông chia làm hai hàng, hàng thứ nhất không có trang trí, hàng thứ hai có một đường viền trang trí hình lá bồ đề chạy quanh chuông, giữa có ba đường gân lá. Phần thân chuông chia làm 5 hàng, hàng thứ nhất và hàng thứ ba chia làm bốn mặt, các mặt cách nhau bởi ba đường gờ dọc. Trên thân chuông có khắc một bài minh văn bằng chữ Hán.
![]() |
Minh văn chữ Hán khắc trên chuông chùa Phước Hưng |
Bốn núm đánh được nối liền nhau bằng gờ nổi, bên trái và phải của núm có trang trí sáu dải mây hình mũi mác, mỗi bên ba dải. Một trong những nét đặc trưng nổi bật mà ít chuông có được là hình đúc nổi biểu tượng bát bửu, tám quẻ bát quái, lưỡng long triều nhật cách đều chạy quanh thân chuông. Trong đó ở giữa tám vật quý này đều có một dải là quấn ngang ở giữa và hai đầu uốn lượn. Đây là một cách thức trang trí ước lệ rất cổ điển được duy trì ở các triều đại trước trên các chất liệu khác nhau như gỗ, sành sứ, lụa. Miệng chuông loe, uốn cong, có gờ gấp ở sát viền miệng và trang trí họa tiết tam sơn, thủy ba uốn lượn đều đặn theo nhịp.
![]() |
Họa tiết trang trí trên thân chuông chùa Phước Hưng |
Có thể nói, đức ông Phước Long Công là một trong những nhân vật có vai trò và công lao lớn trong quá trình dựng xây vương triều Nguyễn vào thời kỳ đầu. Và với Phật giáo Huế, đức ông cũng đã để lại một số dấu ấn quan trọng góp phần làm phong phú thêm cho đời sống văn hóa và lịch sử Phật giáo của địa phương. Bởi vậy, những dấu ấn của đức ông Phước Long Công xứng đáng được vinh danh và trân trọng. Riêng về chiếc đại hồng chung đang được lưu giữ ở chùa Phước Hưng, đây là một tác phẩm mỹ thuật điêu khắc, hội họa và kỹ nghệ đúc đồng đặc sắc dưới thời Nguyễn. Từ bao đời nay, tiếng chuông chùa Phước Hưng thanh thoát, vang vọng trong mỗi sớm hôm giúp thức tỉnh lòng người, xua tan miền tục lụy đã trở thành thanh âm gần gũi, thân thương trong tâm thức người dân phường Thủy Vân nói chung và làng Công Lương nói riêng.
T.V.D
(TCSH431/01-2024)
------------------------
1 Kể từ ngày 28/5/1822, vua Minh Mạng đã định phép đặt tên, theo đó con cháu của 9 đời chúa Nguyễn trước được xưng là “Tôn Thất”. Vì vậy, đức ông Nguyễn Phúc Thăng được triều đình đổi tên thành Tôn Thất Thăng.
2 Quốc sử quán triều Nguyễn (2007), Đại Nam thực lục, Tập 1, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, tr. 492.
3 Quốc sử quán triều Nguyễn (2007), Đại Nam thực lục, Tập 1, Sđd, tr. 722.
4 Quốc sử quán triều Nguyễn (2007), Đại Nam thực lục, Tập 1, Sđd, tr. 917.
5 Quốc Sử Quán triều Nguyễn (2007), Đại Nam thực lục, Tập 1, Sđd, tr. 926.
6 Quốc Sử Quán triều Nguyễn (2007), Đại Nam thực lục, Tập 1, Sđd, tr. 954.
7 Quốc Sử Quán triều Nguyễn (1993), Đại Nam liệt truyện, Tập 1, Nxb. Thuận Hóa, Huế, tr. 74.
8 Quốc Sử Quán triều Nguyễn (2007), Đại Nam thực lục, Tập 2, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, tr. 516.
9 Quốc Sử Quán triều Nguyễn (2007), Đại Nam thực lục, Tập 2, Sđd, tr. 504.
10 Quốc Sử Quán triều Nguyễn (2007), Đại Nam thực lục, Tập 2, Sđd, tr 344.
11 Đại sư Tánh Toàn Nhất Thể là Tổ khai sơn chùa Bảo Lâm ở làng Dương Xuân (nay thuộc phường Thủy Xuân, thành phố Huế).
12 Cụ Tôn Thất Đàn là con trai của Huyện hầu Tôn Thất Trọng.
13 Dẫn theo Gia phả phủ Phước Long Công, soạn năm Nhâm Thân, niên hiệu Bảo Đại năm thứ 7 [1932].
14 Thích Pháp Hạnh, Nguyễn Văn Thịnh (2024), “Chùa Bảo Lâm và bộ mộc bản Luật tạng”, Kỷ yếu Hội thảo Khoa học Thiền phái Liễu Quán: Lịch sử hình thành và phát triển, Học viện Phật giáo Việt Nam tại Huế, tr. 1072.
15 Thượng tọa Thích Đạo Huệ thuộc pháp phái Tường Vân. Sau một thời gian lâm bệnh nặng, Thượng tọa Thích Đạo Huệ đã thu thần viên tịch vào tháng 8/2024. Hiện nay, chùa Phước Hưng do đại đức Thích Phước Trí quản lý và trông coi.
____________________
Tài liệu tham khảo:
1. Dương Văn An (2015), Ô Châu cận lục, Trần Đại Vinh dịch và chú giải, Nxb. Thuận Hóa, Huế.
2. Nguyễn Đình Đầu (1997), Nghiên cứu Địa bạ triều Nguyễn Thừa Thiên, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Lê Quý Đôn (2018), Phủ Biên tạp lục, Trần Đại Vinh dịch và chú giải, Nxb. Đà Nẵng.
4. Thích Pháp Hạnh, Nguyễn Văn Thịnh (2024), “Chùa Bảo Lâm và bộ mộc bản Luật tạng”, Kỷ yếu Hội thảo Khoa học Thiền phái Liễu Quán: Lịch sử hình thành và phát triển, Học viện Phật giáo Việt Nam tại Huế.
5. Quốc Sử Quán triều Nguyễn (1993), Đại Nam liệt truyện, Tập 1, Nxb. Thuận Hóa, Huế.
6. Quốc Sử Quán triều Nguyễn (2007), Đại Nam thực lục, Tập 1, Nxb. Giáo dục, Hà Nội.
7. Quốc Sử Quán triều Nguyễn (2007), Đại Nam thực lục, Tập 2, Nxb. Giáo dục, Hà Nội.
BĂNG SƠN Tuỳ bútDòng sông Hồng Hà Nội là nguồn sữa phù sa và là con đường cho tre nứa cùng lâm sản từ ngược về xuôi. Dòng sông Cấm Hải Phòng là sông cần lao lam lũ, hối hả nhịp tầu bè. Dòng sông Sài Gòn của thành phố Hồ Chí Minh là váng dầu ngũ sắc, là bóng cần cẩu nặng nề, là những chuyến vào ra tấp nập... Có lẽ chỉ có một dòng sông thơ và mộng, sông nghệ thuật và thi ca, sông cho thuyền bềnh bồng dào dạt, sông của trăng và gió, của hương thơm loài cỏ thạch xương bồ làm mê mệt khách trăm phương, đó là sông Hương xứ Huế, là dòng Hương Giang đất cố đô mấy trăm năm, nhưng tuổi sông thì không ai đếm được.
PHAN THUẬN THẢO Chiều chiều trước bến Vân Lâu Ai ngồi, ai câu, ai sầu, ai thảm, Ai thương, ai cảm, ai nhớ, ai trông. Thuyền ai thấp thoáng bên sông, Đưa câu Mái đẩy chạnh lòng nước non. (Ưng Bình Thúc Giạ)
LÃNG HIỂN XUÂNChẳng hiểu sao, từ thuở còn thơ ấu, tôi đã có một cảm nhận thật mơ hồ nhưng cũng thật xác tín rằng: Chùa chính là nơi trú ngụ của những ông Bụt hay bà Tiên và khi nào gặp khó khăn hay đau khổ ta cứ đến đó thì thế nào cũng sẽ được giải toả hay cứu giúp!
BÙI MINH ĐỨCNói đến trang phục của các Cụ chúng ta ngày xưa là phải nhắc đến cái búi tó và cái khăn vấn bất di bất dịch trên đầu các Cụ. Các Cụ thường để tóc dài và vấn tóc thành một lọn nhỏ sau ót trông như cái củ kiệu nên đã được dân chúng đương thời gọi là “búi tó củ kiệu”. Ngoài cái áo lương dài, cái dù đen và đôi guốc gỗ, mỗi khi ra đường là các Cụ lại bối tóc hình củ kiệu và vấn dải khăn quanh trên đầu, một trang phục mà các cụ cho là đứng đắn nghiêm trang của một người đàn ông biết tôn trọng lễ nghĩa. Trang phục đó là hình ảnh đặc trưng của người đàn ông xứ ta mãi cho đến đầu thế kỷ thứ 20 mới bắt đầu có nhiều biến cải sâu đậm
MAO THUỶ THANH (*)Tiếng hát và du thuyền trên sông Hương là nét đẹp kỳ thú của xứ Huế. Trên sông Hương có hai chiếc cầu bắc ngang: cầu Phú Xuân và cầu Trường Tiền nhưng trước đây người dân Huế thường có thói quen đi đò ngang. Bến đò ở dưới gốc cây bồ đề cổ thụ, nằm đối diện với trường Đại học Sư phạm Huế. Một hôm, tôi và nữ giáo sư Trung Quốc thử ngồi đò sang ngang một chuyến. Trên đò đã có mấy người; thấy chúng tôi bước xuống cô lái đò áp đò sát bến, mời chúng tôi lên đò.
VÕ NGỌC LANBuổi chiều, ngồi trên bến đò Quảng Lợi chờ đò qua phá Tam Giang, tôi nghe trong hư vô chiều bao lời ru của gió. Lâu lắm rồi, tôi mới lại được chờ đò. Khác chăng, trong cảm nhận tôi lại thấy bờ cát bên kia phá giờ như có vẻ gần hơn, rõ ràng hơn.
HỒNG NHUTôi vẫn trộm nghĩ rằng: Tạo hóa sinh ra mọi thứ: đất, nước, cây cỏ chim muông... và con người. Con người có sau tất cả những thứ trên. Vì vậy cỏ cây, đất nước... là tiền bối của con người. Con người ngoài thờ kính tổ tiên ông bà cha mẹ, những anh hùng liệt sĩ đã mất... còn thờ kính Thần Đất, Thần Nước, Thần Đá, Thần Cây...là phải đạo làm người lắm, là không có gì mê tín cả, cho dù là con người hiện đại, con người theo chủ nghĩa vô thần đi nữa! Chừng nào trên trái đất còn con người, chừng đó còn có các vị thần. Các vị vô hình nhưng không vô ảnh và cái chắc là không vô tâm. Vì sao vậy? Vì các vị sống trong tâm linh của con người, mà con người thì rõ ràng không ai lại tự nhận mình là vô tâm cả.
MẠNH HÀTôi không sinh ra ở Huế nhưng đã có đôi lần đến Huế, khác với Hà Nội hay Thành phố Hồ Chí Minh, Huế có nét trầm lắng, nhẹ nhàng, mỗi lần khi đến Huế tôi thường đi dạo trên cầu Trường Tiền, ngắm dòng Hương Giang về đêm, nghe tiếng ca Huế văng vẳng trên những chiếc thuyền rồng du lịch thật ấn tượng. Cho đến nay đã có biết bao bài thơ, bài hát viết về Huế thật lạ kỳ càng nghe càng ngấm và càng say: Huế đẹp, Huế thơ luôn mời gọi du khách.
VÕ NGỌC LANNgười ta thường nói nhiều về phố cổ Hội An, ít ai biết rằng ở Huế cũng có một khu phố cổ, ngày xưa thương là một thương cảng sầm uất của kinh kỳ. Đó là phố cổ Bao Vinh. Khu phố này cách kinh thành Huế chừng vài ba cây số, nằm bên con sông chảy ra biển Thuận An. Đây là nơi ghe, thuyền trong Nam, ngoài Bắc thường tụ hội lại, từ cửa Thuận An lên, chở theo đủ thứ hàng hoá biến Bao Vinh thành một thương cảng sầm uất vì bạn hàng khắp các chợ trong tỉnh Thừa Thiên đều tập trung về đây mua bán rộn ràng.
NGUYỄN XUÂN HOATrước khi quần thể di tích cố đô Huế được công nhận là di sản văn hoá thế giới, thành phố Huế đã được nhiều người nhìn nhận là một mẫu mực về kiến trúc cảnh quan của Việt Nam, và cao hơn nữa - là “một kiệt tác bài thơ kiến trúc đô thị” như nhận định của ông Amadou Mahtar M”Bow - nguyên Tổng Giám đốc UNESCO trong lời kêu gọi tháng 11-1981.
DƯƠNG PHƯỚC THU Bút kýXứ Thuận Hóa nhìn xa ngoài hai ngàn năm trước, khi người Việt cổ từ đất Tổ Phong Châu tiến xuống phía Nam, hay cận lại gần hơn bảy trăm năm kể từ ngày vua Trần Anh Tông cho em gái là Huyền Trân Công chúa sang xứ Chàm làm dâu; cái buổi đầu ở cương vực Ô Châu ác địa này, người Việt dốc sức tận lực khai sông mở núi, đào giếng cày ruộng, trồng lúa tạo vườn, dựng nhà xây đình, cắm cây nêu trấn trị hung khí rồi thành lập làng xã.
TRƯƠNG THỊ CÚCSông Hương, một dòng sông đẹp, sôi nổi với những ghềnh thác đầu nguồn, mềm mại quàng lấy thành phố như một dải lụa, hài hoà tuyệt diệu với thiên nhiên xinh đẹp và hệ thống thành quách, cung điện, lăng tẩm, đền chùa; với hàng trăm điệu hò, điệu lý; với những ngày hội vật, hội đua trải, đua ghe; với mảnh vườn và con người xứ Huế, là nguồn cảm hứng vô tận của người nghệ sĩ, thu hút sự say mê của nhiều khách phương xa. Không những là một dòng sông lịch sử, sông Hương còn là không gian văn hoá làm nẩy sinh những loại hình nghệ thuật, những hội hè đình đám, là không gian của thi ca, nhạc hoạ, là dòng chảy để văn hoá Huế luân lưu không ngừng.
TÔN NỮ KHÁNH TRANG Khi bàn về văn hoá ẩm thực, người ta thường chú trọng đến ẩm thực cung đình, hay dân gian, và chủ yếu đề cập đến sinh hoạt, vai trò, địa vị xã hội... hơn là nghĩ đến hệ ẩm thực liên quan đến đời sống lễ nghi.
TRƯƠNG THỊ CÚC• Bắt nguồn từ những khe suối róc rách ở vùng núi đại ngàn A Lưới - Nam Đông giữa Trường Sơn hùng vỹ, ba nhánh sông Tả Trạch, Hữu Trạch và nguồn Bồ đã lần lượt hợp lưu tạo thành hệ thống sông Hương, chảy miên man từ vùng núi trung bình ở phía đông nam A Lưới, nam Nam Đông, băng qua những dãy núi đồi chập chùng ở Hương Thuỷ, Hương Trà, Phong Điền rồi xuôi về đồng bằng duyên hải, chảy vào phá Tam Giang để đổ nước ra biển Đông.
NGUYỄN KHẮC MAIỞ xứ Huế có những tên làng quê mà nghĩa của chúng vẫn còn là sự ám ảnh kiếm tìm giải thích, chắc chắn chúng phải có nghĩa cụ thể nào đó. Người xưa không bao giờ đặt tên một vùng đất mà chẳng có nghĩa gì cả cứ như là người Mã Lai họ đặt tên vùng đất kinh đô cũng lần ra cái nghĩa đó là “cửa sông bùn lầy” (Kua-la-lăm-pua). Những cái tên như Kim Long, An Hoà, Dương Xuân, Phú Tài, Phú Mậu thì những ai có chút hiểu biết chữ Hán đều có thể lần tìm ý nghĩa. Nhưng có những cái tên làng quê thật khó đoán được cái nghĩa của chúng.
BÙI MINH ĐỨC Ngày nay, hễ nói đến đường để nấu chè là ai ai ở Huế cũng nghĩ đến đường cát trắng, đến thứ đường bột trắng tinh đã được tinh lọc do các nhà máy đường tân tiến sản xuất. Có người cũng còn nhớ đến đường phèn để chưng với chanh ăn khi bị ho, hoặc đường tinh thể là thứ đường đặc biệt màu vàng dùng để uống với cà phê cho thêm phần đậm đà. Nhưng chẳng ai có thể nhắc đến chiếc bánh đường đen ở Huế của thuở nào.
NGUYỄN TIẾN VỞNKinh Dịch (Chu Dịch) là sách về sự biến đổi. Dịch, nói gọn lại là biến đổi. Tinh thần xuyên suốt của Kinh Dịch là quy luật chuyển dời, biến hoá của vạn vật trong cõi trời đất. Mọi vật, bất kể to lớn như vũ trụ, hay nhỏ nhoi như các nguyên tử, đều không bao giờ đứng yên. Mọi sự, từ chuyện người có thể biết đến chuyện chỉ trời đất biết, cũng vận động biến hoá khôn lường.
PHAN THUẬN AN Dạ thưa xứ Huế bây giờ,Vẫn còn núi Ngự bên bờ sông Hương. (Bùi Giáng)
NGUYỄN VĂN THỊNHCũng như trên cả nước, trước cách mạng tháng Tám, làng (tên gọi chữ Hán là xã), ở Thừa Thiên Huế là một đơn vị cơ bản trong tổ chức hành chính của các vương triều.
VÕ NGỌC LANNếu cuộc đời người là một trăm năm hay chỉ là sáu mươi năm theo vòng liên hoàn của năm giáp, thì thời gian tôi sống ở Huế không nhiều. Nhưng những năm tháng đẹp nhất của đời người, tôi đã trải qua ở đó. Nơi mà nhiều mùa mưa lê thê cứ như níu giữ lấy con người.