Đổi vợ

15:05 11/12/2008
JUAN JOSÉ ARREOLA (Sinh 1918, Nhà văn Mêhicô)LGT: Arreola là một nhà cách tân lớn về truyện kể. Là một người tự học tài năng, ông sở đắc một nền văn hoá rộng lớn, cũng như trải qua nhiều nghề khác nhau để kiếm sống. Arreola chủ yếu sáng tác những truyện kể ngắn, cô đúc, mỉa mai, hay bí ẩn, ưa thích cái nghịch lý và ông là một trong những bậc thầy của hình thức truyện ngắn này. Ba tuyển tập truyện ngắn của ông là Varia Invencion (1049), Confabulario (1952), Confabulario Définitivo (1087).

Tinh tế, đầy sức mạnh thi ca, thường hài hước, từ khước cái nghiêm túc, tuy nhiên luôn phục vụ một tham vọng đạo đức. Khám phá tinh thần của ông soi rọi những mối quan hệ giữa những con người, và cái kỳ ảo có nhiệm vụ phát hiện và làm thấu hiểu. Nhiều truyện kể của ông xoay quanh hình ảnh người phụ nữ và đặc biệt là hôn nhân. Mời các bạn thưởng thức truyện ngắn dưới đây qua bản dịch từ tiếng Trung của nữ dịch giả Phạm Tú Châu.

Đổi vợ

Vợ cũ đổi vợ mới đây!
Người lái buôn lớn tiếng rao, lượn đi lượn lại khắp đường to ngõ nhỏ trên thị trấn, đằng sau anh ta là mấy cỗ xe ngựa sơn màu sặc sỡ, có mui.
Cuộc mua bán, đổi chác diễn ra chóng vánh, giá cả mẫu mã rõ ràng, không cần mặc cả. Những lái buôn đã làm nghề này đều chọn hàng đã được kiểm tra chất lượng và có giấy bảo hành, có muốn chọn cũng vậy mà thôi. Theo họ nói, những cô gái họ mang đến đều đúng quy cách, tóc đều màu vàng, chính cống hàng “din”, hàng “xịn”. Nói tóc màu vàng cũng chưa thật đúng mà tóc óng ánh như vàng mười.
Đám đàn ông thấy hàng xóm láng giềng mua đổi được những món hàng đó liền cuống quýt đua nhau chạy theo gã lái buôn, khối kẻ vì chuyện này mà dốc hết tiền bạc đến khi khánh kiệt. Chỉ có một chàng trai vừa mới cưới vợ là đổi ngang được món hàng mới, không phải các một xu nào. Vợ chàng ta còn mới tinh, không kém gì những hàng “xịn”, chỉ phải nỗi tóc không được óng ánh như họ mà thôi.

Một chiếc xe ngựa sang trọng đi ngang qua cửa sổ nhà tôi, tôi núp sau cửa hồi hộp nhìn ra. Trên xe có một cô gái nằm ngả người giữa đám gối nệm và màn buông lơi. Cô đưa ánh mắt sáng quắc chằm chằm vào tôi chẳng khác gì mắt con báo. Mắt cô long lanh như mắt ngọc khiến hồn vía tôi bay bổng, thiếu chút nữa thì đâm đầu vào cửa kính. Mặt đỏ bừng lên vì xấu hổ, tôi ngượng ngùng ngoảnh lại nhìn Xôphia.
Xôphia xem ra rất bình tĩnh. Nàng đang chăm chú thêu hoa cho chiếc khăn trải bàn. Tiếng huyên náo ngoài đường phố xem chừng không làm nàng động tâm, ngón tay khéo léo của nàng vẫn thoăn thoắt đưa trên mặt vải. Chỉ có tôi vì rất quen thuộc với nàng mới nhận ra một thoáng nhợt nhạt trên khuôn mặt nàng. Phía cuối phố, gã lái buôn lớn tiếng gào lên tiếng rao khiếp đảm cuối cùng:
- Vợ cũ đổi vợ mới đây!

Tôi ghì thật chặt hai chân xuống nền nhà, tay bịt chặt hai tai, cố bỏ ngoài tai tiếng rao cuối cùng đó. Bên ngoài, cả thị trấn đang nháo nhào, nhộn nhạo.
Tôi và nàng câm lặng suốt bữa ăn, không biết nói với nhau câu gì cho phải. Cuối cùng, trong lúc thu dọn bát đĩa, Xôphia cũng lên tiếng:
- Sao anh không đem em đi mà đổi lấy cô mới!
Tôi không biết trả lời nàng thế nào. Hai chúng tôi đều cảm thấy lòng mình trống vắng. Tối hôm ấy chúng tôi lên giường rất sớm nhưng chẳng ai ngủ được. Chúng tôi vẫn câm lặng, tôi tránh nàng, nàng cũng tránh tôi, chẳng khác gì hai khúc gỗ.
Từ ngày đó, chúng tôi sống như sống trên hòn đảo hoang vu trong lúc mọi người xung quanh chìm ngập trong niềm hạnh phúc cuồng si. Cả thị trấn như cái lồng nhốt gà trước đây nay nhốt toàn chim công. Các cô nàng tóc vàng uốn éo, lười nhác nằm suốt ngày trên giường. Khi hoàng hôn buông xuống họ mới kéo nhau ra đường, tóc của họ lóng lánh trong ánh chiều tàn chẳng khác gì những lá cờ lụa bay phất phới.

Những người chồng tràn trề niềm vui, ngoan ngoãn đi theo, không chịu rời vợ nửa bước. Họ hoàn toàn say sưa với hạnh phúc ngọt ngào, chẳng còn thì giờ đâu lo công việc của mình, cũng chẳng buồn nghĩ xem ngày mai sẽ ra sao. Trong con mắt của láng giềng và người cùng phố, tôi là một thằng đại ngốc, mấy người bạn thân vốn đã ít ỏi cũng đã bỏ rơi tôi. Họ cho rằng tôi là thằng giả vờ ta đây chung thủy để làm gương cho họ. Cho nên họ chỉ trỏ sau lưng tôi, chế giễu tôi, nói xấu tôi trong bức chiến hào kiên cố của họ, thậm chí còn đặt cho tôi những cái tên rất khó nghe. Cuối cùng tôi cảm thấy trong vườn cực lạc ở thị trấn này, tôi chỉ đóng vai trò một anh chàng bị hoạn.

Còn Xôphia thì sao? Nàng càng ngày càng ít nói và trầm tư, càng ngày càng xa lánh mọi người. Nàng từ chối cùng tôi ra phố, tránh cho tôi khỏi bị người ta nói này nói nọ. Khó chịu nhất là nàng thực hiện cái chức trách tối thiểu nhất của người vợ một cách hết sức miễn cưỡng. Thực lòng mà nói, cả hai chúng tôi đều khổ tâm khi thấy tình ân ái vợ chồng chỉ còn lại một chút cỏn con đó.
Điều làm tôi dễ nổi cáu nhất là bộ dạng tự thấy mình có lỗi của nàng. Nàng cho rằng do nàng mà tôi không có được người vợ như vợ của mọi người. Ngay từ đầu, nàng cho rằng mọi người vợ nhan sắc bình thường như nàng không được phép xua đuổi những hình bóng yêu kiều hấp dẫn ra khỏi đầu óc tôi bởi trước những người đẹp được đưa đến thị trấn nhỏ này, nàng chỉ còn cách lùi xa, núp vào một xó xỉnh mà khóc thầm khóc trộm. Tôi lấy hết số tiền ít ỏi còn lại của chúng tôi ra mua cho nàng một ít đồ trang sức, quần áo, nước hoa, vòng nhẫn, nhưng tất cả đều chẳng được việc gì.

- Đừng thương hại em nữa!
Nàng quay người đi, không thèm để mắt đến số tặng phẩm đó của tôi. Mỗi khi tôi gắng sức tỏ ra âu yếm nàng thì nàng lại khóc mà bảo tôi:
- Anh không đem em đi đổi thì suốt đời em không tha thứ cho anh đâu!
Nàng đổ hết lỗi lầm cho tôi khiến tôi cũng dần dần ngán ngẩm. Nghĩ tới cô nàng mắt như báo, tôi mong một ngày nào đó gã lái buôn kia trở lại.

Nhưng bỗng một hôm, những cô gái tóc vàng bắt đầu hoen gỉ. Hòn đảo mà chúng tôi đang sống bỗng trở thành miền đất tươi xanh. Còn bãi sa mạc kia thì đầy những tiếng gào thét thô lỗ do tức giận, đầy những sự ghen tức thù hận. Thì ra ngay từ đầu số đàn ông trong thị trấn đã bị lóa mắt, không xem kỹ các cô nàng, không thực sự chú ý đến họ nên không hề nghĩ đến việc phải kiểm tra chất kim loại trên người họ. Thực ra các cô nào có mới mẻ gì, mà chỉ là loại thứ phẩm, loại hai, loại ba. Vả cũng chỉ có chúa mới biết họ là loại hàng thứ mấy. Gã lái buôn chẳng qua chỉ sửa sang lại chút ít, mạ một lớp vàng thật mỏng cho họ mà thôi. Gặp phải trời mưa, lớp kim loại mạ này tất bị ăn mòn và gỉ sét.

Người đàn ông đầu tiên phát hiện ra mánh lới này làm ra vẻ thản nhiên, người thứ hai cũng vậy. Nhưng người thứ ba là một dược sĩ, một hôm bất chợt ngửi thấy dưới lớp phấn son thơm phức, thân thể vợ mình bốc lên mùi khó ngửi riêng có của sunphát đồng. Ông giật nảy người, kiểm tra kỹ lưỡng một hồi mới phát hiện ra những chấm đen loang lổ trên người vợ và thét lên thất thanh.
Chẳng bao lâu, trên da mặt các cô nàng tóc vàng đều xuất hiện những chấm đen, chẳng khác gì một bệnh dịch phát ban lây lan trong các nàng. Các ông chồng giấu diếm lẫn nhau, chẳng ai dám nói đến căn bệnh của vợ mình nhưng tất cả đều đứng ngồi không yên, không đoán được nguyên nhân do đâu. Rồi dần dần chân tướng cũng được phơi bày: thì ra vợ họ đổi về toàn là đồ phế phẩm.

Còn anh chàng vừa mới kết hôn, thấy người ta đem vợ đi đổi cũng bắt chước làm theo ấy, lần này đau khổ thực sự. Anh nhớ thương người vợ đem đổi, nhớ đến làn da trắng bóc như ngọc của vợ và mỗi lần nhớ đến là anh phát điên phát rồ. Một hôm anh lấy axít tẩy hết những phần mạ vàng trên người vợ mới, khiến cô ta xấu xí hẳn, chẳng khác gì một cái xác ướp.
Tôi và Xôphia lại bị mọi người ghen ghét, thù hằn. Trước thái độc đó của mọi người, tôi thấy cẩn thận là hơn, nhưng nói thế nào Xôphia cũng không che dấu nổi nỗi vui sướng trong lòng. Nàng trang điểm thật lộng lẫy đi ra phố, dạo bước qua những tiếng thở dài. Nàng không tán thành cách xử sự của tôi, cho rằng tôi chịu ru rú ở trong nhà chẳng qua là do tôi nhát gan chứ quyết không phải tôi không định đổi nàng lấy người vợ mới.

Những người chồng bị lừa họp nhau lại thành một đội quân viễn chinh. Hôm nay họ từ thị trấn ra đi để tìm cho bằng được gã lái buôn gian dối và tính sổ với gã. Cảnh tượng đó có vẻ bi tráng phải biết. Đội quân giơ cao nắm đấm, luôn miệng thề báo thù rửa hận. Còn các cô vợ tóc vàng thì mặc đồ tang, đầu tóc tả tơi, rụt vai rụt cổ, chẳng khác gì một lũ hủi đi khóc mướn. Chỉ riêng anh chàng mới kết hôn kia là không đi. Lý do anh muốn tỏ ra ân cần với vợ mới, tuyên bố anh sẽ làm một người chồng chung thủy cho đến khi nào cái chết chia lìa anh với cô vợ loang lổ vết đen khắp người mới thôi. Thực ra vợ anh ra nông nỗi như thế là do anh chấm axít làm hỏng da mà nên.
Tôi không biết rồi đây sống cùng Xôphia, tôi sẽ sống ra sao. Không biết nàng là người thông minh hay cũng ngu ngốc như tôi? Bây giờ chẳng còn ai nắc nỏm khen nàng nữa. Bây giờ chúng tôi thực sự lại sống trên một hòn đảo trơ trụi, xung quanh vắng ngắt, lặng như tờ. Trước khi đi, đám đàn ông thề rằng dù có phải xuống địa ngục cũng quyết tìm cho được gã lái buôn đó. Thật vậy, khi nói câu này, ai ai cũng mang vẻ mặt đau khổ báo trước họ sẽ phải xuống địa ngục.
Thực ra Xôphia cũng không đến nỗi xấu coi. Dưới ánh đèn, khuôn mặt ngủ say của nàng rực sáng, dường như trong lúc này niềm tự hào hạnh phúc lướt nhẹ qua trí óc nàng trong mơ.
PHẠM TÚ CHÂU dịch
(Qua bản Trung văn đăng trên tạp chí Thưởng thức tác phẩm nổi tiếng số 6/1994)

(nguồn: TCSH số 209 - 07 - 2006)

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • Salman Rushdie (1947), nhà văn và người viết tiểu luận, gốc Ấn, hiện sống tại Mỹ, là tác giả của nhiều tiểu thuyết gây tiếng vang, như Những đứa con của nửa đêm, được trao giải Booker, năm 1981, và cả những tiểu thuyết gây tranh cãi như Những vần thơ của Satan, 1988. Văn phong Rushdie thâm trầm, khoáng lộng, hài hước và tươi mới.

  • FRANK O’CONNOR  

    Khi tôi tỉnh giấc, tôi nghe có tiếng mẹ ho ở nhà bếp. Mẹ bị ho đã nhiều ngày nhưng tôi không để ý. Chúng tôi sống ở Old Youghal Road, nơi mà vào lúc đó, có một con đường nhiều đồi dốc dẫn tới East Cork.


  • E. RUXACỐP (Nga)

  • ABDULRAZAK GURNAH    

    Tôi nghĩ anh ta đã nhìn thấy tôi đang tiến lại gần, nhưng vì lý do riêng nào đấy nên anh ta vẫn không có dấu hiệu gì.

  • Maurice Druon, sinh năm 1918, theo học Đại học Luật Paris. Trong chiến tranh thế giới ln thứ hai, ông tham gia lực lượng kháng chiến Pháp chng phát xít Đức, là thông tin viên Đài Phát thanh Kháng Chiến. Giải Goncourt 1948 với tác phm "Đại Gia đình" (Les Grandes Familles). Các tác phm đậm chất trữ tình của nhà văn: "Kết thúc đời người" (La Fin des Hommes), "Hẹn gặp tại Địa ngục" (Rendez-vous aux enfers) phản ánh một thiên hướng theo trường phái Balzac.
    Ông đồng thời là tác giả một số tiểu thuyết lịch sử.

  • JENNIFER WALKUP   

    Tôi sẽ không nói với ai về việc chẩn đoán.
    Không hé răng với mẹ hay em gái tôi. Chắc chắn không phải Jake và có lẽ với Steve cũng không hề.

  • GRAHAM GREEN

    Cái chết đến kề như một nỗi nghiệt ngã day dứt mà ta hổ thẹn không dám thổ lộ với bạn bè hoặc đồng nghiệp.

  • ELISABETH SILANCE BALLARD

    Một truyện ngắn cảm động về tình thầy trò. Truyện khiến người đọc có thể nghĩ chuyện xảy ra hôm nay, không phải cách đây hơn bốn mươi năm.

  • Tác giả tên đầy đủ là Heinrich Theodor Böll (1917 - 1985). Ông được coi là một trong những nhà văn lớn nhất của Đức thời hậu chiến. Năm 1972 ông được nhận giải Nobel Văn học. Tác phẩm và quan điểm chính trị của Böll thể hiện khát vọng xây dựng một xã hội mang tính nhân văn. Các tiểu thuyết tiêu biểu của ông: “Thiên thần im lặng”, “Và tôi đã không nói một lời duy nhất”, “Nhà không có người che chở”, “Qua con mắt của chú hề”, “Bức chân dung tập thể với một quý bà”…

  • KATE CHOPIN

    Catherine O’ Flaherty sinh năm 1850 tại Saint Louis, Missouri, bố gốc người Ái Nhĩ Lan, mẹ gốc Pháp, lớn lên trong môi trường đa văn hóa, từ nhỏ đã nói tiếng Pháp đồng thời với tiếng Anh.

  • Nhà văn, nhà thơ, triết gia, họa sỹ, dịch giả Ấn Độ Rabindranath Tagore sinh năm 1861 tại Calcutta, Ấn Độ và mất năm 1941. Ông để lại một di sản văn học - nghệ thuật đồ sộ với hàng ngàn tác phẩm đủ các thể loại. Tagore còn là nhà yêu nước, đòi giải phóng Ấn Độ khỏi sự cai trị của Anh. Ông được trao giải Nobel văn học năm 1913.

  • O’Neil De Noux sinh ngày 29/11/1950 tại New Orleans, bang Louisiana, Hoa Kỳ. Ông là một nhà văn Hoa Kỳ có sức sáng tác mãnh liệt với nhiều tiểu thuyết và truyện ngắn, đã có 42 đầu sách được xuất bản. Phần lớn sáng tác của ông là truyện trinh thám hình sự, tuy nhiên ông cũng viết nhiều thể loại khác như tiểu thuyết lịch sử, truyện dành cho trẻ em, truyện khoa học viễn tưởng, kinh dị, tình cảm, v.v.

  • JASON HELMANDOLLAR

    Jason Helmandollar là một nhà văn người Mỹ, tác giả của nhiều truyện ngắn nổi tiếng được đăng trên các báo, tạp chí đang thịnh hành lúc bấy giờ như Encounters Magazine, Bartleby Snopes, Title Goes Here, Sideshow Fables. “The Backward Fall” là một trong những truyện ngắn hay và hấp dẫn của ông.

  • TIMUR JONATHAN KARACA

    Timur Jonathan Karaca được sinh ra ở San Francisco. Ông là bác sĩ y khoa khoa gây mê tại UCSF. Ông sống ở Oakland, nơi ông hành nghề. Karaca theo học sáng tác tại Studio Hi Nhà văn San Francisco.

  • Naguib Mahfouz (1911 - 2006) sinh ra trong một gia đình nghèo tại Cairo. Ông học triết học tại Đại học Cairo và làm công chức cho tới khi về hưu năm 1971. Mahfouz là nhà văn lớn của Arab và của thế giới. Ông có 35 tiểu thuyết, 14 tập truyện ngắn và nhiều tác phẩm kịch. Tác phẩm của ông rất phổ biến ở phương Tây. Mahfouz được trao giải Nobel văn chương năm 1988.
    Truyện ngắn dưới đây diễn tả bi kịch của cá nhân khi bị phụ thuộc vào kẻ khác. Tuy nhiên, như rất nhiều tác phẩm khác của văn học Arab, nó còn mang tính ẩn dụ và nghĩa hàm ẩn.

  • ALBERT LAMORISSE (Pháp)

    Albert Lamorisse là một nghệ sĩ đa tài của nước Pháp. Ông vừa viết văn, làm thơ, vừa biên kịch và đạo diễn điện ảnh. Truyện "Quả bóng đỏ" (Le Ballon Rouge) này đã được chính Albert Lamorisse dựng thành phim, rất nhiều người hâm mộ.