Đọc "Bốn mùa yêu"

15:49 16/03/2009
THANH THIỆNBốn mùa yêu là tập thơ tình mang ý nghĩa "vật chứng" cho một biệt lập tâm hồn có tên là Lưu Ly. Người thơ này dường như luôn đắm mình trong giai điệu tình yêu muôn thuở giữa ba ngôi Trao - Nhận - Trả và đã chọn cách trả sòng phẳng nhất cho sự nhận của mình là trả vào thơ.

Trả vào thơ nghe tuồng như phù phiếm nhưng dẫu phù phiếm thật đi chăng nữa thì sự phù phiếm ấy cũng giúp con người thoát khỏi trạng thái trống rỗng khi đối diện với những gì vô nghĩa. Nhan đề tập thơ dễ gợi tưởng về một sự tròn đầy, viên mãn nhưng thực chất của Bốn mùa yêu là sự xâu chuỗi những mảnh tình "vá víu một mình" để "Thoa son lên môi tìm nụ hôn ngày trước"

Những xung đột nội tại cố hữu giữa ý thức và vô thức đã gây ra một cơ chế tâm lý phản ứng ngược nên khi thiếu cái gì thì người ta thường nói thừa về cái đó. Nếu quả thật có bốn mùa yêu đúng nghĩa có trao, có nhận thì làm gì có chuyện "Em chiêm bao giữa ban ngày đợi anh". Hoặc "tàn nhẫn" hơn qua lời tự thú:
                           Gần xa, thoáng chốc...mong manh
                           Mình em đi mãi chẳng thành tình yêu
Cứ tưởng tình yêu là vô cầu, chỉ cần có nhau là đủ. Ai dè, khi đã có nhau rồi, người ta lại lo "tự vệ" cả ngoài "bản quyền" sự sở hữu:
                             Nắng hoài nghi                            
                            Mưa chợt buồn chợt khóc.
Ở một phương diện khác, theo triết lý phương đông, cái gì tròn đầy thì không vận động (phát triển) nữa, cũng như quả chín khép lại một chu trình. Đấy cũng chính là cái chết cho một sự sống mới bắt đầu. Bởi vậy, nhìn từ góc độ nào, Bốn mùa yêu cũng chỉ là khát vọng, hoặc nói cách khác, nó không phải là sự thật cuộc sống mà là sự thật về mô hình lý tưởng của cuộc sống.

Thơ Lưu Ly vẫn hồn nhiên, trong trẻo như tuổi học trò và đôi khi thật đến mức vụng về. Đành rằng, sáng tạo nghệ thuật nói chung và làm thơ nói riêng đòi hỏi phải thật nhưng đấy là thật trong thi hứng chứ không thể thật trong thi pháp .
Thi pháp mà thật thì thơ dễ bị "giả". Nhà thi pháp học nổi tiếng Roman Jakobson đã nói rất chí lý về điều này:" Thi ca, đó là sự nói dối và nhà thơ là kẻ nói dối không biết ngượng ngùng...". Và để sự nói dối ấy có sức "thuyết phục", nhà thơ buộc phải tìm tòi, sáng tạo ra một hệ thống ngôn ngữ mơ hồ khác với ngôn ngữ thông thường. Chính hệ thống ngôn ngữ mơ hồ này sẽ làm nên cái ảo và tính đa nghĩa cho thơ.

Dù còn mờ nhạt những đặc trưng ấy của thơ nhưng Bốn mùa yêu vẫn đáng trân trọng vì cái Tình nồng ấm và chân thành của tác giả. Đó cũng chính là gốc, là mạch nguồn của thơ.
T.T
(197/07-05)

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • BÙI NGUYÊN

    Ngửa (Nxb. Hội Nhà văn, 2017) không đơn thuần chỉ là tập truyện ngắn với nhiều hoàn cảnh thân phận và sự trầm tư riêng biệt của cư dân Sài Gòn đã cùng tác giả đồng hành qua hơn nửa thế kỷ sinh cư trên cái thành phố vốn dĩ là trung tâm sinh hoạt sôi động năng nổ với đầy đủ hương vị sống. Đó là cảm nhận đầu tiên của tôi khi lần lượt mở từng trang của tập truyện ngắn ngồn ngộn hoài niệm của nhà văn Ngô Đình Hải.

  • NGUYỄN TRỌNG TẠO

    1.
    Trước khi có Hàn Mặc Tử, người ta chỉ biết có hai loài đáng trọng vọng là “Thiên thần” và “loài Người”. Nhưng từ khi có Hàn Mặc Tử, người ta mới biết còn có thêm một loài nữa, đó là “loài thi sĩ”.

  • NGUYỄN THỊ TỊNH THY      

    Bông hồng cho Mẹ của bác sĩ - thi sĩ Đỗ Hồng Ngọc là một bài thơ hay về mẹ. Hay đến mức nào? Hay đến mức lặng người, lạnh người. Hay đến mức phải gọi đó là tuyệt tác.

  • LÊ MINH PHONG

    (Nhân đọc Chậm hơn sự dừng lại của Trần Tuấn, Nxb. Hội Nhà văn, 2017)

  • TRẦN NGỌC HỒ TRƯỜNG

    Tư tưởng văn học của Tản Đà (1889 - 1939) không thuần nhất mà là sự hỗn dung của “tư tưởng Nho gia, tư tưởng Lão Trang và tư tưởng tư sản”1.

  • MỘC MIÊN (*)

    Là một trong những cây bút trưởng thành trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Phan Thị Thanh Nhàn không chỉ là người có duyên thầm trong thơ mà còn có duyên kể chuyện đặc biệt là những câu chuyện dành cho lứa tuổi thiếu nhi.

  • NGUYỄN ĐỨC TÙNG

    Trong thơ trữ tình, lịch sử không tồn tại. Trường ca làm chúng tồn tại.


  • (Ý kiến của Nguyễn Văn Bổng, Xuân Cang, Nguyễn Kiên, Hà Minh Đức, Hoàng Ngọc Hiến)

  • Sách chuyên khảo “Sự ra đời của đế chế Nguyễn” của A.Riabinin tiến sĩ sử học Xô Viết nghiên cứu lịch sử xã hội - chính trị của Việt Nam vào đầu thế kỷ XIX.

  • LÊ MINH PHONG

    (Nhân đọc: Rừng khô, suối cạn, biển độc… và văn chương của Nguyễn Thị Tịnh Thy, Nxb. Khoa học xã hội, 2017).

  • TRẦN VIẾT ĐIỀN

    Trong sách “Nhìn lại lịch sử”, Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2003, tác giả Phan Duy Kha viết bài “Một bài thơ liên quan đến lăng mộ vua Quang Trung”.

  • BÙI KIM CHI

    “Tháng Tám năm Ất Dậu (1945)… Là công dân Việt Nam nên tôi đã tham gia phong trào chống xâm lăng…”. (Truyện ngắn Mũi Tổ).

  • TRƯƠNG THỊ TƯỜNG THI

    Thuật ngữ triết luận gắn với tính trí tuệ hay tính triết lý trong văn học nói chung và trong thơ ca nói riêng xuất hiện từ rất sớm.

  • NGUYỄN THẾ QUANG

    Nói đến nhà văn Nguyễn Khắc Phê thì không gì bằng đọc cuốn tự tuyện của anh. Số phận không định trước(*) đưa ta đi suốt cuộc hành trình sáng tạo nghệ thuật bền bỉ quyết liệt suốt năm chục năm qua của anh.

  • NGUYỄN HỮU SƠN

    Thiền sư Vạn Hạnh (?-1018) gốc họ Nguyễn, người hương Cổ Pháp (nay thuộc phường Đình Bảng, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh), thuộc thế hệ thứ mười hai dòng Thiền Nam phương Tì Ni Đa Lưu Chi.

  • NGUYÊN QUÂN

    Một cảm nhận thật mơ hồ khi cầm trên tay tập sách, vừa tản văn vừa tiểu luận của nhà văn Triệu Từ Truyền gởi tặng. Sự mơ hồ từ một cái tựa rất mơ hồ bởi lẽ chữ là một thực thể hữu hiện và chiếc cầu tâm linh chính lại là một ảo ảnh rất dị biệt với thực thể hữu hạn của những con chữ.

  • TUỆ AN

    Đọc “Ảo giác mù”, tập truyện ngắn của Tru Sa (Nxb. Hội Nhà văn, 2016)

  • TRẦN VIẾT ĐIỀN

    Ngô Thì Nhậm viết bài thơ Cảm hoài cách đây 223 năm, nhân đi sứ báo tang Tiên hoàng Quang Trung băng hà và cầu phong An Nam quốc vương cho vua Cảnh Thịnh.

  • NGUYỄN THỊ THANH LƯU

    Đã từ rất lâu rồi, tôi hài lòng với việc đọc thơ trong màu xám của một nỗi tuyệt vọng - nỗi tuyệt vọng không bao giờ phân tách nổi trắng đen giữa đám sương mù xám đặc dường như chỉ có dấu hiệu đậm dần lên trong những lớp lang chữ nghĩa, trong cách ngắt nhịp, buông vần.

  • MAI VĂN HOAN

    Lẽ ra tôi không viết bài này. Thiết nghĩ văn chương thiên biến, vạn hóa, mỗi người hiểu một cách là chuyện bình thường. Tốt nhất là nên tôn trọng cách nghĩ, cách cảm thụ của người khác.