Lò gốm cổ Hưng Lợi - được Bộ VH-TT xếp hạng là di tích khảo cổ quốc gia năm 1998 - nay chỉ còn là bãi rác.
Cổng vào di tích khảo cổ cấp quốc gia - Ảnh: Đ.T
Công nhận di tích rồi bỏ phế
Theo cuốn Hành trình di sản văn hóa TP.HCM, dấu tích của xóm lò gốm Sài Gòn xưa nay chỉ còn lại di tích lò gốm Hưng Lợi nằm ven kênh Ruột Ngựa thuộc P.16, Q.8, TP.HCM. Cuộc khai quật năm 1997 - 1998 tại đây đã tìm thấy phế tích 3 lò gốm kiểu lò ống, vách lò được xây bằng gạch lớn chảy men dày cùng nhiều đồ vật sành sứ khác. Lò gốm Hưng Lợi sản xuất lu đựng nước có niên đại sớm nhất khoảng nửa sau thế kỷ 18. Sau đó lò còn cho ra các sản phẩm hũ, khạp, nồi, hộp, siêu, chậu phủ men xanh lam hay đồng, chén, tô, đĩa, ly... gắn liền với sự hình thành và phát triển vùng đất Sài Gòn - Gia Định trong hơn 300 năm qua.
Những sản phẩm xưa được các nhà khảo cổ, nghiên cứu, sưu tập lưu giữ cho thấy kỹ thuật tạo tác của nghệ nhân lúc bấy giờ rất cao và tinh xảo. Trả lời báo giới, TS khảo cổ học Nguyễn Thị Hậu nhận định: “Giá trị lớn nhất của lò gốm Hưng Lợi là chúng ta đã tìm thấy tương đối nguyên vẹn về một làng nghề rất nổi tiếng của Sài Gòn trước đây”. Nhân dịp TP.HCM chuẩn bị kỷ niệm 300 năm tuổi, chính quyền thành phố đã cho khai quật di tích lò gốm cổ này bắt đầu từ tháng 4.1997, do Bảo tàng lịch sử VN - TP.HCM thực hiện. Tháng 4.1998, bảo tàng tiếp tục cuộc khai quật lò gốm Hưng Lợi đợt 2, xuất lộ toàn bộ hệ thống lò ở khu vực này, đến tháng 6.1998 thì kết thúc.
Tìm đến lò gốm Hưng Lợi những ngày tháng 5.2014, di tích này đã trở thành một phế tích. Thật khó hình dung đây là nơi được công nhận di tích khảo cổ cấp quốc gia khi mà phía sau bức tường rào và cánh cổng chỉ còn lại 2 cột trụ, bãi đất hoang hiện ra với vô số rác, ống tiêm chích ma túy vứt lăn lóc, cỏ cây mọc um tùm và là nơi phơi quần áo của cư dân quanh vùng. Không hề có biển báo công nhận khu vực này là di tích khảo cổ quốc gia.
|
Người dân sống quanh khu di tích cho biết sau khi khai quật xong năm 1998, chính quyền thành phố cho làm mái che tạm bợ bằng tôn, xây tường rào bao bọc. Nhưng do không ai giám sát, trông coi, bảo vệ nên di tích theo thời gian đã bị thiên nhiên và con người xâm hại.
Quá tiếc cho một di sản của cha ông
Nhà nghiên cứu Nguyễn Anh Kiệt, Chi hội Di sản văn hóa gốm Nam bộ, đưa ý kiến: “Hiện trạng di tích như thế thì quá uổng vì thành phố đã xác lập được một di chỉ so với các tỉnh Đông Nam bộ không nơi nào có. Có thể nói cả VN chỉ còn di chỉ khảo cổ lò gốm của vùng Sài Gòn này. Đã phát hiện, khai quật được di tích nhưng quan trọng hơn là làm sao bảo tồn, phát huy từ đó gắn chặt với du lịch. Nếu không làm tốt, chúng ta phải chịu trách nhiệm với con cháu sau này”.
Tiếp xúc với chúng tôi, bà Nguyễn Thị Phương - chủ khu đất lò gốm Hưng Lợi cho biết: “Gia đình tôi mua mảnh đất này từ trước năm 1940. Cho đến ngày chính quyền tìm đến đề nghị cho khai quật, chúng tôi đã chấp nhận thi hành. Tuy nhiên UBND Q.8 chỉ đền bù cho gia đình tôi 5 triệu đồng, số tiền quá ít, chúng tôi không đồng ý nên đã gửi đơn khắp nơi từ trung ương đến địa phương đề nghị phần đất nào công nhận của gia đình và công khai rõ ràng quy hoạch. Còn nếu không thuộc diện quy hoạch hay thu hồi thì cũng báo để chúng tôi sinh hoạt trên mảnh đất ấy”.
Là một trong những người có công phát hiện, khai quật di tích lò gốm Hưng Lợi, TS Nguyễn Thị Hậu bày tỏ: “Tôi rất xót xa với di tích. Khi khai quật người dân quá nhiệt tình giúp đỡ, họ giúp phát hiện và cung cấp thông tin về lò gốm, thậm chí làm nhân công khai quật luôn. Công nhận di tích theo luật Di sản - Văn hóa là đụng chạm đến quyền lợi đất đai của người dân. Điều cần làm hiện nay là bảo tồn di tích như thế nào và làm sao người dân không thiệt thòi quyền lợi. Lãnh đạo thành phố cũng tích cực giải quyết nhưng vẫn chưa tìm được lối ra. Mặt khác, kinh phí dành cho việc bảo tồn di tích không có nên nói thật khi đưa những nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đến đây chúng tôi rất ngại ngần, không thể lý giải với họ vì sao một di tích quý giá mà lại để xuống cấp, tan hoang đến thế”.
Bà Lê Tú Cẩm, nguyên Phó giám đốc Sở VH-TT TP.HCM, hiện là Chủ tịch Hội Di sản TP.HCM, nói: “Nếu bỏ phế lò gốm Hưng Lợi chúng ta sẽ mang tội với tiền nhân. Tôi ray rứt lắm. Làm sao phục hồi lại di chỉ khảo cổ này càng sớm càng tốt vì thật sự đó là cái nôi của gốm Sài Gòn - Gia Định nói riêng và Nam bộ nói chung. Tôi sẽ đặt vấn đề với Sở VH-TT-DL TP.HCM vì sao bao nhiêu năm nay để nơi này thành phế tích. Dường như nhà nước ưu tiên đầu tư sản xuất, thương mại, dịch vụ hơn mà ít xem trọng việc gìn giữ và bảo tồn giá trị văn hóa, di sản cha ông để lại. Tôi sẽ đặt vấn đề này với Sở VH-TT-DL về việc xã hội hóa bảo tồn các di sản văn hóa. Bảo tồn phải gắn chặt với phát huy, gắn chặt với phát triển kinh tế, du lịch”.
Theo Đỗ Tuấn - TN
Theo định hướng phát triển hiện nay, Huế sẽ là đô thị trung tâm, đô thị hạt nhân giữ vai trò động lực cho Thành phố trực thuộc Trung ương trong tương lai.
Thuở xưa, mỗi làng có một hương ước, nhiều làng có hương ước thành văn nhưng cũng có làng có hương ước bất thành văn.
Khi nhắc đến xứ sở Phù Tang, điều đầu tiên thế giới nghĩ đến là một Nhật Bản thần kỳ, giàu mạnh về kinh tế và điều thứ hai chắc chắn sẽ là sự đối mặt thường xuyên với thảm họa thiên tai.
“Có động đất ở Nhật Bản!” Tôi đang loay hoay xếp lại chồng sách vở ngổn ngang trên bàn thì nghe chồng tôi, giáo sư Michimi Munarushi người Nhật mới về Việt Nam 3 hôm trước báo.
Không có một vùng đất thứ hai nào trên dải đất hình chữ S của Việt Nam có vị trí hết sức đặc biệt như Huế. Nơi đây, từ 1306, bước chân Huyền Trân xuống thuyền mở đầu cho kỷ nguyên mở nước về Nam, Thuận Hóa thành nơi biên trấn.
I. Đặt vấn đề 1.1. Năm 1945, sau khi nhà Nguyễn cáo chung, một số giá trị văn hóa phi vật thể của Huế không còn giữ được môi trường diễn xướng nguyên thủy, nhưng những gì nó vốn có vẫn là minh chứng độc đáo về sự sáng tạo văn hóa của dân tộc Việt Nam.
Đưa Thừa Thiên Huế trở thành thành phố trực thuộc Trung ương trong vài năm tới đã trở thành quyết tâm chính trị của cán bộ đảng viên và nhân dân Thừa Thiên Huế.
Thăng Long - Hà Nội, thủ đô, trái tim của cả nước, qua ngàn năm phát triển, đã trở thành biểu tượng của nền văn hiến Việt Nam, là niềm tự hào của cả dân tộc.
Sau khi phục dựng thành công lễ tế Nam Giao và lễ tế Xã Tắc trong những năm qua, thiết nghĩ việc tái hiện lễ tế Âm Hồn 23.5 ở quy mô thành phố/ tỉnh là một việc làm có ý nghĩa trong việc bảo tồn bản sắc văn hóa và quảng bá du lịch của thành phố Huế chúng ta.
Thừa Thiên Huế - vùng đất chiến lược nối giữa hai miền Bắc - Nam từng là “phên dậu thứ tư về phương Nam” của Đại Việt, nơi “đô hội lớn của một phương”; từng là thủ phủ của xứ Đàng Trong, kinh đô của đất nước dưới thời Quang Trung - Nguyễn Huệ và triều Nguyễn (1802 - 1945); là miền đất địa linh nhân kiệt gắn liền với những tên tuổi lớn trong hành trình lịch sử của dân tộc, của ngàn năm Thăng Long...
Đưa Thừa Thiên Huế trở thành thành phố trực thuộc trung ương trong vài năm tới theo tinh thần kết luận số 48 của Bộ Chính trị đã mở ra một mốc mới mang tính lịch sử. Với kết luận này, đặt ra nhiệm vụ cho Huế phải trở thành trung tâm của khu vực miền Trung và là một trong những trung tâm lớn, đặc sắc của cả nước về văn hóa, du lịch, khoa học công nghệ, y tế chuyên sâu và giáo dục đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực.
Ôn cố để tri tân, Festival Huế 2010 là lần tổ chức thứ VI. Qua 6 lần tổ chức, nhìn lại những ngày liên hoan văn hóa Việt Pháp (1992) do thành phố Huế phối hợp với Codev tổ chức, anh chị em văn nghệ sĩ Huế lúc bấy giờ phấn khích lắm vì đây là cơ hội tiếp xúc với thế giới dù chỉ mới có một nước Pháp. Họ thấy cần có trách nhiệm phải tham mưu để xây dựng chương trình cũng như chủ động tham gia hoạt động trong lĩnh vực của mình.
Như thường lệ, hàng năm Hội LHVHNT Thừa Thiên Huế tiến hành xét tặng thưởng cho các tác phẩm, công trình văn học nghệ thuật xuất sắc.
Chúng ta đã đi hết gần chặng đường 10 năm đầu của thiên niên kỷ mới. Thời đại chúng ta đang sống là thời đại mà sự phát triển song hành giữa cơ hội và thách thức đan xen.
(Thừa Thiên Huế trên tiến trình xây dựng thành phố trực thuộc Trung ương)
Những năm cuối cùng của thế kỷ XX, cùng với thành tựu của công cuộc đổi mới diễn ra sôi động trên đất nước Việt Nam, sức sống của vùng văn hoá Huế sau những năm dài tưởng chừng đã ngủ yên chợt bừng dậy và lấp lánh tỏa sáng.
Thơ không thể tách rời đời sống con người. Điều đó đã được thời gian minh chứng. Từ lời hát ru của mẹ, những giọng hò trên miền sông nước,… đã đánh thức tình yêu thương trong mỗi chúng ta.
Gần đây, khi Đảng ta chứng tỏ sự quan tâm của mình đối với đội ngũ trí thức thì trong dư luận cũng đã kịp thời có những phản ứng cộng hưởng. Điều mà chúng tôi lĩnh hội được gồm 3 câu hỏi tưởng chừng như "biết rồi khổ lắm nói mãi" nhưng lại không hẳn thế. Nó vẫn mới, vẫn nóng hổi vì sự tuyệt đối của qui luật vận động cũng như vì tính cập nhật, tính ứng dụng của đời sống. Chúng tôi xin được nêu ra và cùng bàn, cùng trao đổi cả 3 vấn đề.
Trí thức là những người mà lao động hàng ngày của họ là lao động trí óc, sản phẩm của họ làm ra là những sản phẩm trí tuệ, nhưng sản phẩm ấy phải là những sản phẩm có ích cho xã hội...
Ở Huế ngày xưa, người học trò nào cũng có một “Tủ sách Học trò” riêng tư cho mình và nhà nào cũng có một “Tủ sách Gia đình” để dùng chung trong nhà. Người Huế rất trọng học vấn, rất trọng sự hiểu biết nên rất trọng sách. Vì vậy, họ cất sách rất kỹ. Họ thường cất sách để làm kỷ niệm riêng tư cho mình về sau đã đành mà họ còn cất sách để dành cho đám đàn em con cháu của họ trong gia đình, dùng mà học sau nầy. Người Huế nào cũng đều cùng một suy nghĩ là ở đời, muốn vươn lên cao thì phải học và đã học thì phải cần sách. Đối với họ, sách quý là vậy. Lễ giáo Khổng Mạnh xưa cũng đã đòi hỏi mỗi người Huế thấy tờ giấy nào rớt dưới đất mà có viết chữ Hán “bên trên” là phải cúi xuống lượm lên để cất giữ “kẻo tội Trời”! Người xưa cũng như họ, không muốn thấy chữ nghĩa của Thánh hiền bị chà đạp dưới chân.